Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 94/2025/HSST

Ngày: 25 - 11- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Minh Thư

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Kha

Ông Nguyễn Văn Được

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Diễm My – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 9 – Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thủy Hằng– Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại Toà án nhân dân Khu vực 9 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2025/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXX-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN H, sinh năm 1994 tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không (Trước đây có tên gọi khác: Hòa Chín N); Nơi đăng ký thường trú và nơi ở: Thôn P, xã P, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1960 (đã chết) và bà Trịnh Thị T, sinh năm 1970; Vợ con chưa có.

Tiền án: 05

  • + Ngày 14/9/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11- Đồng Nai) xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 120/2011/HSST).
  • + Ngày 04/11/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11- Đồng Nai) xử phạt 12 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” (Bản án số 64/2011/HSST), tổng hợp Bản án số 120/2011/HSST ngày 24/9/2011, buộc Nguyễn Văn H phải chấp hành 18 tháng tù; Ngày 09/10/2012, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
  • + Ngày 19/08/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Đồng Nai) xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 52/2014/HSST), ngày 04/08/2015 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
  • + Ngày 09/06/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước (Nay là Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai) xét xử phúc thẩm xử phạt 20 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” (Bản án số 30/2017/HSPT), ngày 06/06/2018 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
  • + Ngày 02/11/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Đồng Nai) xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 118/2018/HSST), ngày 08/10/2020 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
  • + Ngày 28/01/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Đồng Nai) xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 06/2021/HSST), ngày 26/10/2023 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2025 cho đến nay.

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Đồng Nai truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nình Nhật H1, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Khu phố T, phường Đ, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trịnh Thị T, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Thôn P, xã P, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 21/07/2025, Nguyễn Văn H đón xe khách từ nhà tại thôn P, xã P, tỉnh Đồng Nai đi đến phường Đ, tỉnh Đồng Nai để tìm kiếm tài sản là xe mô tô của người dân sơ hở để lấy trộm làm phương tiện đi lại. Khi đến khu vực ngã tư Đ, H bắt xe ôm (không rõ nhân thân lai lịch) đi đến đoạn đường QL14 gần N2 thì H xuống xe, đi bộ vào hẻm A, khi đi đến nhà số D, khu phố T, phường Đ, tỉnh Đồng Nai của anh N1 Nhật Hoàng thấy tại phòng khách để 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen, biển số 93L1- 475.69 cắm chìa khóa trên xe, không có người trông coi, H quan sát trong nhà và xung quanh không có ai nên đi vào dắt xe mô tô trên ra đường, ngồi lên xe nổ máy và điều khiển xe chạy ra QL14 về nhà. Sau khi về nhà, H tháo biển số, yếm xe cất giấu ở sau nhà.

Đến 07 giờ ngày 19/8/2025, anh Nình Nhật H1 đến Công an phường Đ, tỉnh Đồng Nai trình báo. Đến 13 giờ ngày 19/08/2025, H đến Công an phường Đ đầu thú.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 246/KL-HĐĐGTS ngày 27/08/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đồng Nai, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đen, loại xe hai bánh; biển số 93L1- 475.69, Số máy: E32VE312320, số khung: RLCUE3720MY059259, tình trạng đã qua sử dụng, đăng ký ngày 05/02/2021. Giá trị tại thời điểm ngày 21/07/2025 là 8.000.000 đồng.

* Vật chứng thu giữ trong vụ án:

  • Ngày 19/8/2025, bị cáo H giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, không gắn biển số, không gắn yếm (bửng).
  • Ngày 20/8/2025, bà Trịnh Thị T (mẹ bị cáo H) giao nộp: 01 biển số xe 93L1.475.69; 02 yếm chắn gió xe mô tô màu đen.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại anh Nình Nhật H1 đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

Bản cáo trạng số 05/CTr- VKS ngày 22/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Đồng Nai đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Đồng Nai truy tố đối với bị cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Đồng Nai: Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 38; 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 04 (Bốn) năm đến 05 (Năm) năm tù.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Đồng Nai đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được làm rõ tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 21/07/2025, Nguyễn Văn H đi từ nhà tại thôn P, xã P, tỉnh Đồng Nai đến phường Đ, tỉnh Đồng Nai với mục đích tìm xe mô tô của người dân sơ hở để lấy trộm làm phương tiện đi lại. Khi đến ngã tư Đ, H đón xe ôm đi đến gần đoạn đường QL14 gần N2 thì xuống xe, đi bộ vào hẻm A đến nhà của anh N1 Nhật Hoàng, H nhìn thấy tại phòng khách để 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen, biển số 93L1- 475.69 cắm chìa khóa trên xe, không có người trông coi, H quan sát trong nhà và xung quanh không có ai nên đi vào dắt xe mô tô trên ra đường, nổ máy và điều khiển xe chạy ra Quốc lộ A về nhà.

Hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Đồng Nai truy tố đối với bị cáo theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, khi phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo

[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện bị cáo ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy bị cáo nhiều lần bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân để trở thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian như đại diện Viện kiểm sát đề nghị để răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nình Nhật H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm. Do vậy, trách nhiện dân sự không đặt ra.

[6] Về xử lý vật chứng: Ngày 15/09/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ đã xử lý vật chứng trả lại cho anh N1 Nhật Hoàng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, không gắn biển số, không gắn yếm (bửng), 01 biển số xe 93L1.475.69; 02 yếm chắn gió xe mô tô màu đen là đúng quy định.

[7] Các vấn đề khác của vụ án

Đối với việc bị cáo Nguyễn Văn H khai: H mua 200.000 đồng ma túy của D (không rõ nhân thân lai lịch) vào ngày 15/08/2025 để sử dụng, H đã sử dụng hết, quá trình điều tra không xác định được D nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với hành vi ngày 15/08/2025 bị cáo Nguyễn Văn H sử dụng ma túy một mình tại nhà ở thôn P, xã P, tỉnh Đồng Nai, Công an phường Đ đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn H số tiền 1.500.000đồng.

Sau khi trộm cắp xe mô tô của anh H1, bị cáo đem về nhà tháo biển số, yếm (bửng) cất giấu ở nhà nhưng bà Trịnh Thị T không biết nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 53, Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 (B) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/8/2025.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai (1);
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (1);
  • - VKSND Khu vực 9 – Đồng Nai (1);
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Minh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2025/HSST ngày 25/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 94/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo trộm cắp xe máy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger