Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NÔI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2025/HSST

Ngày: 17/06/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hương Giang.

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Thành.
  2. Ông Nguyễn Văn Hành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thuý - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên: Ông Tô Xuân Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 05 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 06 năm 2025 đối với bị cáo:

LÊ VĂN T, sinh năm 1962; Nơi cư trú: thôn D, xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Lê Văn T1 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị L (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

  • - Ngày 24/06/1989, bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú xử phạt 10 năm tù tội cướp tài sản công dân và tàng trữ vũ khí trái phép (Án số: 51/ST-HS).
  • - Ngày 16/06/1995, bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và 01 năm 06 tháng tù về tội trốn khỏi nơi giam giữ, buộc T phải chấp hành 4 năm 11 tháng 22 ngày phần còn lại của Bản án số 51 ngày 24/06/1989 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú. (Án số: 175) (Ra trại ngày 31/08/2000) (đã xóa án tích).
  • - Ngày 01/02/2013, bị Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (Án số: 10/2013/HSST) (Ra trại ngày 20/05/2013) (đã xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/04/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H - Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

+ Anh Nhân Văn T2, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Đ xã N, huyện T, Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Lê Tường V, sinh năm 2003. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13h30 phút ngày 10/12/2024, Lê Văn T điều khiển xe máy BKS 30N6-7578 đến cửa hàng tạp hóa của chị Nguyễn Thị H (sinh năm: 1983) tại đội 6, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội để mua rượu. Tại đây, T nhìn thấy 01 chiếc điện thoại sam sung A15 bên trong lắp sim số điện thoại 0988.142.xxx của anh Nhân Văn T2 (sinh năm: 1980 - là chồng chị H) đang sạc pin để ở trên giá hàng hóa có sơ hở, không ai quản lý. T đã nảy ra ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên. Lợi dụng lúc chị H đi vào bên trong cửa hàng không để ý, T dùng tay phải rút chiếc điện thoại trên ra khỏi sạc rồi đút vào túi quần sau bên trái. Sau đó, T rời khỏi cửa hàng, điều khiển xe máy BKS 30N6-7578 mang chiếc điện thoại nêu trên đi bán cho 01 cửa hàng điện thoại với giá 1.500.000 đồng. Tiếp đó, T đã ăn tiêu hết số tiền trên. Cùng lúc này, chị Nguyễn Thị H phát hiện chiếc điện thoại nêu trên bị mất nên báo cho anh T2 biết, anh T2 kiểm tra hệ thống camera của cửa hàng thì phát hiện người trộm cắp là Lê Văn T.

Hồi 20h20 phút ngày 05/01/2025, Công an xã N nhận được đơn trình báo của chị Nguyễn Thị H về vụ việc trên. Chị Nguyễn Thị H khai chiếc điện thoại sam sung A15 bên trong lắp sim số điện thoại 0988.142.xxx thuộc sở hữu của anh Nhân Văn T2 (sinh năm: 1980 - là chồng chị H) đang sạc pin để ở trên giá hàng hóa nhờ chị H trông coi. Sau đó, Lê Văn T đã đi đến cửa hàng của chị H và lợi dụng sơ hở trộm cắp chiếc điện thoại nêu trên.

Đến 21h10 phút ngày 06/01/2025, Lê Văn T đến Công an xã N đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã tạm giữ 01 xe máy gắn biển số BKS 30N6-7578. Sau khi được Công an xã N cho về T đã bỏ trốn đến ngày 10/04/2025, T bị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố H bắt tạm giam.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 28/LL- HĐ ĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Sam sung Galaxy A15 đã qua sử dụng có giá 2.700.000 đồng, 01 chiếc sim điện thoại di động có số 0988.142.xxx có giá 50.000 đồng.

Ngày 21/02/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã giám định số khung số máy của xe mô tô biển kiểm soát 30N6-7578.

Tại bản kết luận giám định số 1581/KL-KTHS ngày 03/03/2025 của Phòng K - Công an thành phố H thể hiện:

  • - Xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD màu đỏ, đeo biển kiểm soát: 30N6-7578: số khung RLHJF2400AY80556 và số máy: JF24E-0415781 là số nguyên thủy.
  • - Không giám định được biển kiểm soát 30N6-7578 do không có mẫu so sánh.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố H, Lê Văn T đã khai nhận hành vi như đã nêu trên. Tường không nhớ được địa điểm bán chiếc điện thoại T đã trộm cắp được của anh Nhân Văn T2.

Đối với 01 chiếc xe máy gắn biển số BKS 30N6-7578, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Lê Văn T mua của một người không quen biết nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định.

Về dân sự: Anh Nhân Văn T2 yêu cầu Lê Văn T bồi thường cho anh T2 số tiền 2.750.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 85/CT-VKS-TT ngày 23 tháng 05 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Lê Văn T từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

- Trả lại bị cáo 01 chiếc xe máy gắn biển số BKS 30N6-7578 thu giữ của bị cáo.

Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, điều 589 Bộ luật dân sự.

Ghi nhận sự tự nguyện của gia đình bị cáo bồi thường cho người bị hại số tiền 3.000.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà: Bị cáo Lê Văn T giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Về các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân an huyện Thanh Trì thu thập; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân an huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh:

Hồi 13h ngày 05/01/2025, tại Cửa hàng tạp hóa của chị Nguyễn Thị H ở xã N, huyện T, thành phố Hà Nội, Lê Văn T đã lấy trộm chiếc điện thoại Sam Sung A15 bên trong lắp sim số điện thoại 0988.142.xxx của anh Nhân Văn T2. Tổng giá trị tài sản là 2.750.000 đồng. Tài sản trên T đã mang đi bán không thu hồi được.

Hành vi của bị cáo Lê Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ Pháp lý.

[3]. Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang cho nhân dân. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm trong đó có tội xâm phạm sở hữu, góp phần bảo vệ tài sản của nhân dân, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có 03 tiền án tuy đã được xoá án tích nhưng đó thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, đã được pháp luật răn đe, giáo dục nhưng không chịu tu dưỡng mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi nhận thức được hành vi của mình bị cáo đã ra cơ quan công an đầu thú, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[6]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Đối với 01 chiếc xe máy gắn biển số BKS 30N6-7578, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bị cáo Lê Văn T, hành vi trộm cắp của bị cáo là bộc phát khi thấy sự sơ hở của bị hại mà không có tính toán ban đầu do đó chiếc xe máy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tuyên trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật.

[7] Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự.

Ghi nhận sự tự nguyện của gia đình bị cáo Lê Văn T bồi thường cho anh Nhân Văn T2 số tiền 3.000.000 đồng. Ngoài ra anh T2 không có yêu cầu gì khác, nên HĐXX không xét.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[9].Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • - Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1]. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/04/2025.

[2] Xử lý vật chứng:

- Trả lại bị cáo Lê Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead BKS 30N6-7578, đã qua sử dụng.

(Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/02/2025)

[3] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của gia đình bị cáo Lê Văn T bồi thường cho người bị hại số tiền 3.000.000 đồng.

[4]. Về án phí: Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Lê Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2025/HSST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 94/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger