|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH Bản án số: 94/2025/HSST Ngày 13/3/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hiệp - Cán bộ hưu.
Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Giáo viên nghỉ hưu.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Thị Tuyết Nhung - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26/02/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-HS ngày 05/02/2025 đối với các bị cáo:
- Vi Anh Đ, sinh ngày: 01/7/2006; HKTT: Thôn M, xã Y, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vi Anh T, sinh năm 1982 và bà Vi Thị V (đã chết); Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/10/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.
- Bùi Đức Công B, sinh ngày: 14/12/2007; HKTT: Thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Đức T1, sinh năm 1977 và bà Trần Thị T2, sinh năm 1982; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/10/2024 đến ngày 25/10/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
*Người đại diện hợp pháp của bị cáo B: Ông Bùi Đức T1, sinh năm 1977 (Có mặt) và bà Trần Thị T2, sinh năm 1982 (Vắng mặt) (là bố mẹ đẻ của bị cáo B); HKTT: Thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An.
Người bào chữa cho bị cáo B: Bà Nguyễn Thị T3, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPL tỉnh B. Có mặt.
Người bị hại: Anh Phạm Trung H, sinh năm: 2005, HKTT: Khu A, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Quang M, sinh năm 1996, HKTT: Khu L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vi Anh Đ, sinh ngày 01/07/2006, HKTT: Thôn M, xã Y, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và Bùi Đức Công B, sinh ngày 14/12/2007, HKTT: Thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An là nhân viên quán Lẩu nướng, giải khát, đồ ăn vặt do chị Ngô Thị X, sinh năm 1979, HKTT: Khu L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh làm chủ.
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 14/10/2024, anh Phạm Trung H, sinh năm: 2005; HKTT: Khu A, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, không lắp biển kiểm soát, đăng ký biển số 19AE - 065.10 mang tên anh H chở theo anh Nguyễn Quốc V1, sinh năm: 2003; HKTT: Xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang và chị Mùa Thị L, sinh ngày: 05/4/2006; HKTT: Xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đến quán hàng của chị X để ăn tối. Khi tới nơi anh H dựng xe ở vỉa hè trước cửa quán rồi vào quán ngồi ăn, do anh H là khách quen hay tới quán, Đ đã để ý từ trước, nên lúc này Đ nảy sinh ý định lừa lấy chiếc xe của anh H để mang đi cầm cố lấy tiền ăn tiêu cá nhân. Đ nói với B “Mày lấy xe kia với anh không?”, B nói “Có!”, Đ nói tiếp “Mày đứng ngoài chờ anh sẵn, anh vào mượn chìa khóa xe nó rồi nói dối để dắt lên vỉa hè cho gọn, khi nào anh nổ máy thì cùng anh đi luôn”, B đồng ý. Đ đi vào và nói với anh H “Anh cho em mượn chìa khóa xe để dắt xe lên vỉa hè cho gọn!”, H tin tưởng đưa cho Đ chìa khóa xe và chỉ tay cho Đ hướng về chiếc xe đang đỗ. Sau khi lấy được chìa khóa từ anh H thì Đ đi ra cạnh chiếc xe mô tô Honda Wave, màu trắng, không lắp biển kiểm soát rồi mở khóa điện, điều khiển chiếc xe về phía cửa quán nơi B đang đứng chờ sẵn, B liền ngồi lên xe còn Đ có quay lại nói dối anh H “Cho em mượn xe về phòng trọ tí!”, H đồng ý và không nghi ngờ gì. Đ điều khiển xe mô tô chở B ngồi sau đến khu D, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh cả hai dừng lại mở cốp và kiểm tra thấy bên trong có 02 bịch khẩu trang và 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, cả hai vẫn để nguyên như cũ rồi tiếp tục đi dạo một lúc thì quay lại khu L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, Đ và B vào một quán nước của người quen, chủ quán nước là anh Nguyễn Quang M, sinh năm 1996, HKTT: Khu L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh và ngồi uống nước tại đó. Một lúc sau, Đ ra nói chuyện với anh M và bảo “Anh cho vay em 5.000.000 đồng có việc gấp, em để lại chiếc xe mô tô, mấy hôm nữa em quay lại lấy.”, anh M đồng ý và đưa cho Đ số tiền 5.000.000đ. Đ và B cầm tiền rồi đi về, số tiền này cả hai tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi cho Đ mượn xe, anh H không thấy Đ quay lại trả xe nên ngày 18/10/2024 anh H đã làm đơn trình báo Công an phường V sự việc trên và tự nguyện giao nộp 01 (một) biển kiểm soát 19AE – 065.10.
Về vật chứng: Ngày 23/10/2024, anh Nguyễn Quang M sau khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thông báo chiếc xe mô tô mà anh đang giữ là vật chứng liên quan đến vụ án nên anh M đã tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu trắng, không gắn biển kiểm soát, số khung: RLHJA3931RY204286, số máy: JA70E0583978 để phục vụ công tác điều tra.
Tại bản Kết luận định giá trong tố tụng hình sự số: 300/KL-HĐĐGTS ngày 21/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố B kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 19AE – 065.10, màu trắng, đã qua sử dụng. Giá trị của tài sản là 18.600.000đ (Mười tám triệu, sáu trăm nghìn đồng).
Tại bản kết luận giám định số: 2531/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của Phòng PC09 Công an tỉnh B kết luận: Số máy, số khung của xe mô tô gửi giám định không bị tẩy xóa, không bị đóng đục lại. Hàng chữ số JA70E-0583978 đóng trên thân máy và hàng chữ số RLHJA3931RY204286 đóng trên khung xe là nguyên thủy.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Vi Anh Đ và Bùi Đức Công B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Với các tình tiết nêu trên tại bản cáo trạng số 13A/CT-VKSTPBN ngày 03/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố các bị cáo Vi Anh Đ và Bùi Đức Công B ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh để xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng.
Người bị hại là anh Phạm Trung H vắng mặt tại phiên tòa, lời khai của H tại cơ quan điều tra thể hiện: Anh có cho bị cáo Đ mượn xe máy của mình vào tối ngày 14/10/2024 nhưng đến sáng ngày 18/10/2024 anh không thấy Đ trả xe máy lại cho anh nên anh đã làm đơn trình bào cơ quan công an. Đến nay anh đã nhận lại xe máy và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với Đ. Về trách nhiệm hình sự thì anh đề nghị HĐXX xét xử theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Quang M vắng mặt tại phiên tòa, lời khai của M tại cơ quan điều tra thể hiện: Anh đã cho bị cáo Đ vay 5.000.000đồng và Đ có gửi lại chiếc xe máy lại cho anh để làm tin, khi để lại xe máy thì anh cũng không hỏi Đ về nguồn gốc chiếc xe hay giấy tờ xe. Khi cơ quan công an mời anh đến thì anh mới biết chiếc xe đó là tang vật của vụ án hình sự do vậy anh tự nguyện giao nộp chiếc xe máy đó cho cơ quan công an để giải quyết vụ án. Đối với số tiền anh cho Đ vay thì đến nay anh không yêu cầu các bị cáo phải trả lại anh số tiền 5.000.000đồng.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Vi Anh Đ và Bùi Đức Công B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Áp dụng khoản 1 điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Vi Anh Đ từ 16 đến 18 tháng tù, thời hạn từ tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/10/2024.
Áp dụng khoản 1 điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 90; Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt Bùi Đức Công B từ 10 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Các bị cáo Đ, B phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Các bị cáo không tham gia tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo B đồng ý với tội danh và hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo B. Tuy nhiên, bị cáo B là người dưới 18 tuổi có nhận thức pháp luật chưa đầy đủ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 90; Điều 91 Bộ luật hình sự cho bị cáo mức án nhẹ nhất và cho bị cáo B được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu hồi được và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên ngày 14/10/2024 tại quán Lẩu nướng, giải khát, đồ ăn vặt của chị Ngô Thị X, sinh năm:1979 tại khu L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Vi Anh Đ đã rủ Bùi Đức Công B đưa ra thông tin gian dối, mượn chiếc xe mô tô Honda, loại xe Wave, không gắn biển kiểm soát của anh Phạm Trung H để đi về phòng trọ. Nhưng sau đó Đ và B mang chiếc xe mô tô trên đặt làm tin cho anh Nguyễn Quang M để vay số tiền 5.000.000đ. Số tiền này Đ và B đã chi tiêu cá nhân hết.
Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự như Bản cáo trạng số 13A/CT-VKSTPBN ngày 03/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo Đ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tác hại và sự nguy hiểm về hành vi của bản thân, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà mình đã thực hiện. Bị cáo B là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, khả năng nhận thức về sự nguy hiểm về hành vi của bản thân còn bị hạn chế, bị cáo B bị Đ rủ rê lôi kéo. Do vậy cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét tính chất của vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm mang tính chất giản đơn. Bị cáo Vi Anh Đ là người khởi xướng, chủ động mượn xe máy của anh H, điều khiển xe máy của anh H chở B và trực tiếp đặt vấn đề vay tiền và gửi lại xe máy để làm tin với anh M. Bị cáo B đồng ý và cùng với Đ thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Đ cao hơn bị cáo B.
[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội lần đầu, ít nghiêm trọng; Tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, người bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ cho các bị cáo. Bị cáo B có ông bà nội tham gia kháng chiến, là thương binh. Do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xét thấy, các bị cáo Đ và B phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
Bị cáo Đ là người khởi xướng và thực hiện hành vi phạm tội tích cực hơn bị cáo B, vì vậy cần cách ly bị cáo Đ ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Bị cáo B là người dưới 18 tuổi, gia đình bị cáo có công với cách mạng, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo B ra khỏi xã hội một thời gian cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo B trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4] Về vật chứng:
Ngày 06/12/2024, CQCSĐT Công an thành phố B đã trả lại cho anh Phạm Trung H 01 biển kiểm soát 19AE-065.10; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn trắng, không lắp biển kiểm soát, xe có số khung: RLHJA3931RY0224286, số máy: JA70E-0583978 là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Chiếc xe mô tô mà các bị cáo đã chiếm đoạt của anh Phạm Trung H đến nay anh H đã nhận lại, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Đối với số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo Đ vay của anh Nguyễn Quang M: Anh M có đơn từ chối bồi thường và không yêu cầu các bị cáo phải trả lại cho anh số tiền này nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[6] Liên quan trong vụ án:
Đối với anh Nguyễn Quang M là người cho Đ vay 5.000.000 đồng và Đ tự nguyện để lại chiếc xe trên làm tin. Anh M không biết chiếc xe mô tô trên do Đ phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xem xét, xử lý đối với anh M là phù hợp.
Đối với chị Ngô Thị X là chủ quán lẩu nướng, giải khát, đồ ăn vặt, quá trình điều tra chị X khai nhận Đ và B là nhân viên mới, chị X không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ và cũng không biết về hành vi phạm tội của Đ và B. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố B không xử lý mà chỉ nhắc nhở, giáo dục là phù hợp.
[7] Về án phí: Các bị cáo Vi Anh Đ và Bùi Đức Công B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Vi Anh Đ và Bùi Đức Công B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Vi Anh Đ (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 19/10/2024.
- - Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Vi A Đ (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm (13/3/2025) để đảm bảo thi hành án.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 65, 90, 91, 101 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bùi Đức Công B 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/3/2025.
- Giao bị cáo Bùi Đức Công B cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Vi Anh Đ, Bùi Đức Công B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Văn Hiệp | Vũ Thu Trang |
| Nguyễn Thị Mai Hương |
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Thu Trang |
Bản án số 94/2025/HSST ngày 13/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về vụ án hình sự về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
- Số bản án: 94/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
