Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 94/2025/HS-ST

Ngày: 27/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thúy Hà
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Năng Tấn
  • 2/ Bà Hoàng Thị An
  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Anh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Oanh - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh- Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 82/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/QÐST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Đỗ Thị L, Sinh năm: 1953; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: thôn Đ, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/10; Chức vụ (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không; Họ và tên bố: Đỗ Văn T (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị D (đã chết); A, chị, em ruột: Gia đình có 04 chị em, bị cáo là lớn nhất; Chồng: Chu Quang L1 (đã chết); Con: có 03 con (lớn nhất sinh năm 1971, nhỏ nhất không rõ năm sinh - đã chết); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/12/2024 đến ngày 03/01/2025; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”
  2. Họ và tên: Hồ Ngọc L2, Sinh năm: 1970; Giới tính: Nam
    Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không; Họ và tên bố: Hồ Văn L3 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1930; A, chị, em ruột: Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con út; Vợ: Phạm Thị N, sinh năm 1972; Con: có 02 con (lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2001).
    Tiền án, tiền sự: Không
    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2024 đến ngày 03/01/2025, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  3. Họ và tên: Ngô Thị L4, Sinh năm: 1960; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không
    Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Chức vụ (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không; Họ và tên bố: Ngô Văn L5 (đã chết); Họ và tên mẹ: Cao Thị C (đã chết; A, chị, em ruột: Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con út; Chồng: Trịnh Văn T1, sinh năm 1957; Con: có 02 con (lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1992); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2024 đến ngày 03/01/2025, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  4. Họ và tên: Phạm Văn B, Sinh năm: 1975; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Nguyễn Khắc B1; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 03/12; Chức vụ (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không; Họ và tên bố: Luân Văn H (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1952; A, chị, em ruột: Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con út; Vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1971, đã ly hôn; Con: có 02 con (lớn sinh năm 1998 nhỏ sinh năm 2005)
    Tiền án, tiền sự: 01 tiền án
    • - Ngày 25/10/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xử phạt 07 năm tù về tội Cố ý gây thương tích và 10 tháng tù về tội Huỷ hoại tài sản. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội là 07 năm 10 tháng tù (Bản án số 118). Ngày 25/9/2012 chấp hành xong án phí và bồi thường dân sự.
    • - Ngày 28/01/2008, bị Toà án nhân dân huyện KRông Pắc, tỉnh Đắk Lăk xử phạt 03 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp 7 năm 10 tháng tù của bản án số 118 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, buộc Phạm Văn B phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là 10 năm 10 tháng tù (Bản án số 11), buộc phải bồi thường cho người bị hại số tiền 9.200.000 đồng. Ngày 07/7/2015 chấp hành xong hình phạt tù. Qua xác minh xác định đến nay Bằng chưa chấp hành phần bồi thường dân sự cho bị hại, bị hại cũng không có đơn yêu cầu thi thành án. Về án phí ngày 20/3/2025, Chi cục thi hành án dân sự huyện KRông Pắc có quyết định uỷ thác thi hành án dân sự số 17 đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh để thi hành án dân sự đối với phần án phí hình sự 50.000 đồng và án phí dân sự 460.000 đồng, B chưa chấp hành, án chưa được xoá. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2024 đến ngày 24/01/2025, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

  5. Họ và tên: Nguyễn Thị H1, Sinh năm: 1967; Giới tính: Nữ
    Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: thôn Đ, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/10; Chức vụ (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không; Họ và tên bố: Nguyễn Đình N2 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T3 (đã chết); A, chị, em ruột: Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Chồng: Đỗ Văn H2, sinh năm 1965; Con: có 02 con (lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1991); Tiền án, tiền sự: Không
    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2024 đến ngày 03/01/2025.
    Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  6. Họ và tên: Nguyễn Thị Kim P, Sinh năm: 1975; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn N, C, huyện V, tỉnh Yên Bái; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không; Họ và tên bố: Nguyễn Thành L6, sinh năm 1952; Họ và tên mẹ: Trương Thị C1 (đã chết); A, chị, em ruột: Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 2.; Chồng: Nguyễn Xuân T4 (đã ly hôn); Con: có 02 con (lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2006).
    Tiền án, tiền sự: Không
    Nhân thân:
    • Ngày 16 và 20/4/2009, tại bản án số 154 bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 44 tháng về tội Đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án và đã được xóa án.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2024 đến nay.

  7. Họ và tên: Nguyễn Thị H3, sinh năm: 1967; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: Tổ B, phường N, quận L, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Chức vụ (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không; Họ và tên bố: Nguyễn Đình L7 (đã chết); Họ và tên mẹ: Vũ Thị L8 (đã chết); A, chị, em ruột: Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; Chồng: Nguyễn Văn N3 (đã chết); Con: có 02 con (lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1998).
    Tiền án, tiền sự: Không.
    Nhân thân:
    • - Ngày 18/01/2005, bị Công an huyện T, tỉnh Bắc Ninh xử phạt hành chính về hành vi không tố giác tội phạm bằng hình thức Cảnh cáo.
    • - Ngày 27/5/2005, tại bản án số 91 bị Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt 05 tháng tù cho hưởng treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án và đã được xóa án.
    • Ngày 26/9/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xử phạt 40 tháng tù về tội Môi giới mại dâm (Bản án số 115). Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án và đã được xóa án.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2024 đến ngày 24/01/2025.
    Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

  8. Họ và tên: Đinh Thị Như Q, Sinh năm: 1989; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không; Họ và tên bố: Đinh Văn C2, sinh năm 1968; Họ và tên mẹ: Trần Thị T5, sinh năm 1970; A, chị, em ruột: Gia đình có 02 chị em, bị cáo là lớn nhất
    Chồng: Nguyễn Việt Đ1, sinh năm 1988; Con: có 02 con (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2024 đến ngày 03/01/2025; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  9. Họ và tên: Bùi Thị Kim N4, Sinh năm: 1968; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT: TDP P, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Nơi ở hiện nay: số B ngách F phố X, phường X, B, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/10; Chức vụ (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không; Họ và tên bố: Bùi Thái B2 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị B3 (đã chết); A, chị, em ruột: Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con út; Chồng: Bùi Văn T6, sinh năm 1962; Con: có 02 con (lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 2009).
    Tiền án, tiền sự: Không;
    Nhân thân: Tháng 6 năm 2015, bị Công an Đ2, huyện Đ xử phạt hành chính về hành vi bán dâm bằng hình thức Cảnh cáo; Đã được xoá.
    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2024 đến ngày 03/01/2025.
    Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  10. Họ và tên: Hoàng Tuấn A, Sinh năm: 1976; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không; Họ và tên bố: Hoàng Tử B4 (đã chết); Họ và tên mẹ: Vương Thị X, sinh năm 1949; A, chị, em ruột: Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Đặng Thị L9, sinh năm 1979; Con: có 02 con (lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2005).
    Tiền án, tiền sự: Không
    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2024 đến ngày 03/01/2025.
    Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  11. Họ và tên: Nguyễn Thị H4, Sinh năm: 1978; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm T, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Chức vụ (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không; Họ và tên bố: Nguyễn Xuân N5 (đã chết); Họ và tên mẹ: Lê Thị V, sinh năm 1948; A, chị, em ruột: Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 2; Chồng: Không xác định; Con: có 01 con sinh 2007
    Tiền án, tiền sự: 01 tiền án.
    • - Ngày 27/10/2000, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xử phạt 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 20/02/2003 chấp hành xong hình phạt tù, hiện chưa chấp hành án phí hình sự và phạt bổ sung (Bản án chưa được xoá).

    Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm.
    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2024 đến nay.
    Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an thành phố H, số giam 627G2/M2

  12. Họ và tên: Đỗ Thị M, Sinh năm: 1960; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm N, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/10; Chức vụ (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không; Họ và tên bố: Đỗ Văn T (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị D (đã chết); A, chị, em ruột: Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba; Chồng: Hà Tự C3, sinh năm 1959; Con: có 02 con (lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1988); Tiền án, tiền sự: Không;
    Nhân thân: Tại bản án số 12 ngày 27/01/2003 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án và đã được xóa án.
    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2024 đến ngày 03/01/2025
    Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  13. Họ và tên: Nguyễn Thị T7, Sinh năm: 1984; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: thôn T, xã C, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không; Họ và tên bố: Nguyễn Văn B5, sinh năm 1950; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N6, sinh năm 1956; A, chị, em ruột: Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Chồng: Nguyễn Văn T8, sinh năm 1979 (đã ly hôn); Con: có 04 con (lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2017);
    Tiền án, tiền sự: 01 tiền án
    • - Ngày 28/7/2023 tại bản án số141 bị Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc . Bị cáo chưa chấp hành xong án phí và hình phạt bổ sung (Bản án chưa được xoá).

    Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm.
    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ 03/01/2025.

  14. Họ và tên: Nguyễn Thị T9, Sinh năm: 1979; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Nguyễn Thị H5; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: xóm N, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Chức vụ (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không; Họ và tên bố: Nguyễn Xuân V1, sinh năm 1935; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T10, sinh năm 1954; A, chị, em ruột: Gia đình có 02 chị em, bị cáo là lớn nhất; Chồng: Nguyễn Ngọc K (đã chết); Con: có 02 con (lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2004);
    Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  15. Họ và tên: Chử Thanh T11; Sinh năm: 1986; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: thôn Đ, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Chức vụ (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không; Họ và tên bố: Chử Văn S, sinh năm 1965; Họ và tên mẹ: Đỗ Thị L, sinh năm 1965; A, chị, em ruột: Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là lớn nhất; Vợ: Lý Mùi L10, sinh năm 1989; Con: có 02 con (lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012).
    Tiền án, tiền sự: Không;
    Nhân thân: Ngày 03/01/2023, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bằng hình thức Cảnh cáo, đã xoá tiền sự.
    Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
    Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau: Khoảng 11 giờ ngày 28/12/2024, các đối tượng Đinh Thị Như Q, Chử Thanh T11 và Nguyễn Thị Kim P đến nhà Đỗ Thị L cùng L tham gia đánh bạc. Các đối tượng thống nhất đánh bạc dưới hình thức đánh “phỏm” được thua bằng tiền. Khi đánh bạc được khoảng 10 ván thì Nguyễn Thị T7 đến vào đánh bạc thay cho Đỗ Thị L. Tiếp theo, Nguyễn Thị T9 (tức H5) đến và vào đánh bạc thay Đinh Thị Như Q được 02 ván thì Nguyễn Thị H3 đến và vào đánh bạc thay chân cho Nguyễn Thị T9 do T9 về trước. Khoảng 30 phút sau, các đối tượng Nguyễn Thị H1, Hồ Ngọc L2, Phạm Văn B đến. Đỗ Thị L lấy 02 bộ bài và trải chiếu cho các đối tượng đánh bạc thành một bàn bạc mới. Các đối tượng H1, B, L2, Q thống nhất đánh bạc đưới hình thức đánh “phỏm” được thua bằng tiền, đánh được khoảng 4 ván thì Ngô Thị L4 đến và vào đánh bạc thay cho Đinh Thị Như Q. Quá trình đánh bạc, các đối tượng sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân, người chia bài sẽ chia làm 4 phần, người chia bài được 10 lá bài và 3 người tham gia còn lại mỗi người 9 lá bài, số bài còn thừa để xuống chiếu làm bài bốc. Sau khi chia bài xong, người chia bài sẽ đánh trước, nếu người bên phải kế tiếp không xếp được thành “phỏm” thì sẽ bốc bài, lần lượt cho đến khi có người “ù” hoặc bốc hết bài bốc ở giữa. Sau khi kết thúc ván nếu không có người nào “ù” thì người có ít điểm nhất trên bài và có phỏm sẽ là người về nhất, người thấp điểm thứ hai về nhì phải trả cho người về nhất là 20.000 đồng, người thấp điểm thứ ba phải trả 40.000 đồng, người về thứ 4 phải trả là 60.000 đồng. Nếu không có “phỏm” là “cháy” thì phải trả người về nhất 80.000 đồng, nếu một người có 3 phỏm gọi là “ù” thì được của mỗi người 120.000 đồng, mỗi cây vòng thứ 4 thường gọi là cây chốt thì nếu bị ăn sẽ mất 120.000 đồng, mỗi ván “ù” người thắng sẽ bỏ ra 20.000 đồng tiền hồ cho chủ nhà Đỗ Thị L.

Trong khi 02 bàn bạc trên đang đánh bạc thì các đối tượng Nguyễn Thị H4, Bùi Thị Kim N4, Hoàng Tuấn A và Đỗ Thị M cũng đến nhà Đỗ Thị L và cùng Đinh Thị Như Q tiếp tục đánh bạc một bàn khác dưới hình thức đánh “sâm” tại phòng ngủ tầng 1 nhà L. Tại bàn bạc này, các đối tượng sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân, người cầm cái sẽ chia cho mỗi người chơi 10 quân bài bất kì, sau đó ai báo S1 thì sẽ có quyền đánh đầu tiên, nếu không ai bắt được sẽ thắng ván bài đó. Các quân bài theo thứ tự lần lượt từ nhỏ đến lớn như sau: 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A, 2. Các quân bài to hơn sẽ bắt được các quân thấp hơn kể cả từng lá bài hay đôi (tức 02 quân giống nhau, khác chất), hay bộ B6 (tức 03 quân giống nhau, khác chất), hay tứ quý (tức 04 quân giống nhau, khác chất). Sảnh là các quân lần lượt sắp xếp liền nhau từ A - K. Tứ quý được quyền bắt 2, ai không đánh được cây nào trong 01 ván là “Cháy”. Kết thúc ván bài, ai còn ít lá bài nhất sẽ thắng. Những người chơi khác còn bao nhiêu lá bài trên tay sẽ nhân theo tỷ lệ quy định 5.000 đồng/01 lá bài, cháy 100.000 đồng, S1 150.000 đồng.

Cả 03 bàn bạc đánh bạc đến 14 giờ 50 phút thì bị tổ công tác Đ3 - Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã U phát hiện bắt quả tang.

Quá trình đánh bạc, các đối tượng khai nhận sử dụng số tiền vào việc đánh bạc như sau:

  • Đỗ Thị L khai sử dụng 320.000 đồng để đánh bạc, bị thua 40.000 đồng, thu phế mỗi ván ù là 20.000 đồng, mỗi ván sâm 20.000 đồng. Tổng số tiền phế thu giữ là 320.000 đồng. Tổng số tiền tổ chức đánh bạc là 26.990.000 đồng.
  • - Ngô Thị L4 khai sử dụng 238.000 đồng để đánh bạc.
  • - Phạm Văn B khai sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, thắng 410.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị H1 khai sử dụng 800.000 đồng đánh bạc, thắng 200.000 đồng.
  • - Hồ Ngọc L2 khai sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, thua khoảng 200.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị Kim P khai sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, thắng khoảng 300.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị T7 khai sử dụng 450.000 đồng để đánh bạc.
  • - Nguyễn Thị H3 khai sử dụng 3.200.000 đồng, thua khoảng 300.000 đồng.
  • - Đinh Thị Như Q khai sử dụng số tiền 600.000 đồng để đánh bạc, thua 200.000 đồng.
  • - Đỗ Thị M khai sử dụng số tiền 650.000 đồng để đánh bạc, thua số tiền 20.000 đồng.
  • - Hoàng Tuấn A khai sử dụng 800.000 đồng để đánh bạc, thua 290.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị H4 khai sử dụng 900.000 đồng để đánh bạc, đang thắng khoảng hơn 100.000 đồng.
  • - Bùi Thị Kim N4 khai sử dụng số tiền 450.000 đồng để đánh bạc, bị thua, khi bị bắt còn khoảng hơn 100.000 đồng để dưới chiếu.
  • - Nguyễn Thị T9 khai sử dụng 30.000 đồng để đánh bạc, không thắng, không thua.
  • - Chử Thanh T11 khai sử dụng 400.000 đồng tham gia đánh bạc, thua 300.000 đồng, số tiền còn lại bỏ dưới chiếu bạc rồi chạy thoát.

Đối với 01 chiếc điện thoại samsung vỏ màu vàng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen, Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ là tài sản riêng của Nguyễn Thị T7 và Ngô Thị L4, không liên quan đến việc phạm tội. Ngày 26/3/2025, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Thị T7 và Ngô Thị L4.

Đối với 06 bộ bài tú lơ khơ, 01 chăn màu xanh, 01 ca nhựa, 01 hộp sắt, 01 hộp nhựa và số tiền 27.310.000 đồng là vật chứng của vụ án cần chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh để bảo quản phục vụ xét xử và thi hành án.

Quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo khai nhận hành vi phạm tội.

Bản Cáo trạng số 82/CT-VKSÐA ngày 10/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận huyện Đông Anh quyết định truy tố: Bị cáo Đỗ Thị L đã phạm vào tội Tổ chức đánh bạc và tội Đánh bạc, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; Bị cáo Phạm Văn B đã phạm vào tội Đánh bạc, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Nguyễn Thị Kim P, Nguyễn Thị T7, Nguyễn Thị H3, Chử Thanh T11,Nguyễn Thị T9, Đinh Thị Như Q, Bùi Thị Kim N4, Hoàng Tuấn A, Đỗ Thị M, Nguyễn Thị H4, Hồ Ngọc L2, Ngô Thị L4, Nguyễn Thị H1 đã phạm vào tội Đánh bạc, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo, khẳng định hành vi của của các bị cáo bị truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia tố tụng đề nghị Hội đồng xét xử phân tích đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của từng bị cáo để cân nhắc mức hình phạt phù hợp và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Áp dụng Điểm b khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm o, s Khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Thị Liên T12 12 đến 15 tháng tù về Tội tổ chức đánh bạc; từ 6 tháng – 9 tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt cả hai tội là từ 18 – 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ 6 ngày đã bị tạm giữ.
  2. Áp dụng d khoản 2 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn B từ 36 tháng đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2024 – 24/01/2025.
  3. Áp dụng Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H3 từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2024 – 24/01/2025.
  4. Áp dụng Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim P từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2024.
  5. Áp dụng Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H4 từ 09 tháng 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2024.
  6. Áp dụng Điều 38; Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T7 từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng của bản án số 141/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả hai bản án là 15 – 18 tháng tù.
  7. Áp dụng Điều 38; Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Thị M từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
  8. Áp dụng Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hồ Ngọc L2 từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
  9. Áp dụng Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ngô Thị L4 từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập.
  10. Áp dụng Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
  11. Áp dụng Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đinh Thị Như Q từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
  12. Áp dụng Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thị Kim N4 từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập.
  13. Áp dụng Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Tuấn A từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
  14. Áp dụng Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Chử Thanh T11 từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
  15. Áp dụng Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Từ T9 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập.

Về hình phạt bổ sung: Không.

Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo pháp luật.

Về án phí: Xử lý theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố.

[2] Về hành vi và tội danh:

Vào chiều ngày 28/12/2024, tại nhà Đỗ Thị L ở thôn Đ, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội, Đỗ Thị L đã có hành vi chuẩn bị, sắp xếp chỗ ngồi, bộ bài nhằm tổ chức các con bạc đánh bạc thành 03 chiếu bạc, đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “phỏm” và đánh “sâm” thì bị cơ quan công án bắt quả tang, cụ thể:

  • - Chiếu bạc thứ nhất (đánh phỏm) gồm Đinh Thị Như Q, Chử Thanh T11, Nguyễn Thị Kim P, Đỗ Thị L, Nguyễn Thị T7, Nguyễn Thị T9 (tức H5) và Nguyễn Thị H3, với số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 7.240.000 đồng.
  • - Chiếu bạc thứ hai (đánh phỏm) gồm Đinh Thị Như Q, Nguyễn Thị H1, Hồ Ngọc L2, Phạm Văn B, Ngô Thị L4, với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 6.730.000 đồng.
  • - Chiếu bạc thứ ba (đánh sâm) gồm Đinh Thị Như Q, Nguyễn Thị H4, Bùi Thị Kim N4, Hoàng Tuấn A và Đỗ Thị M, với số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 6.630.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự, an toàn công cộng, là tệ nạn xã hội cần bài trừ. Bị cáo đều có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi và hậu quả do hành vi của mình gây ra. Song do thiếu ý thức, coi thường trật tự xã hội, các bị cáo vẫn cố ý phạm tội.

Bị cáo Đỗ Thị L đã phạm vào tội Tổ chức đánh bạc vào tội Đánh bạc, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự;

Bị cáo Phạm Văn B có tiền án, tái phạm nguy hiểm đã phạm vào tội Đánh bạc, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự;

Các bị cáo Nguyễn Thị Kim P, Nguyễn Thị T7, Nguyễn Thị H3, Chử Thanh T11, Nguyễn Thị T9, Đinh Thị Như Q, Bùi Thị Kim N4, Hoàng Tuấn A, Đỗ Thị M, Nguyễn Thị H4, Hồ Ngọc L2, Ngô Thị L4, Nguyễn Thị H1 đã phạm vào tội Đánh bạc, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[3] Về nhân thân và tiền án, tiền sự của các bị cáo:

  • - Bị cáo Đỗ Thị L có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, Bị cáo Phạm Văn B có tiền án, tái phạm nguy hiểm; Bị cáo Nguyễn Thị Kim P, không có tiền án, tiền sự, nhân thân từng bị xử lý hình sự về tội đánh bạc ; Bị cáo Nguyễn Thị H4 và Bị cáo Nguyễn Thị T7 tái phạm; Bị cáo Đỗ Thị M nhân thân bị xử lý hình sự về tội sản xuất buôn bán hàng giả, án tích đã được xoá án tích từ lâu.
  • - Các Bị cáo Bùi Thị Kim N4, Chử Thanh T11 không có tiền án, tiền sự, nhân thân đã từng bị xử lý hành chính nhưng đều đã được xoá. Bị cáo Hồ Ngọc L2 không có tiền án, tiền sự nhân thân bị xử lý hình sự nhưng đã được xoá án tích.
  • - Bị cáo Ngô Thị L4,Nguyễn Thị H1, Đinh Thị Như Q, Hoàng Tuấn A, Nguyễn Thị T9 đều có nhân thân tốt

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt:

Khi lượng hình, Tòa án đã xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để từ đó có hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo, cụ thể: Các tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ:

  • -Bị cáo Đỗ Thị L có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s khoản 1 Điều 51-BLHS), bản thân bị cáo không chủ động lôi kéo các con bạc đến nhà để tổ chức đánh bạc mà do các con bạc cùng nhau đến nhà bị cáo để đánh bạc, bị cáo do hám lợi nên đã đồng ý để các con bạc chơi, tạo điều kiện, tổ chức để các con bạc sát phạt (03 chiếu bạc) đồng thời tham gia vào vụ đánh bạc, số tiền thu tư chiếu bạc này là 7.240.000 đồng, tuổi cao sức yếu (khoản 2 Điều 51 BLHS). Số tiền tham gia đánh bạc không lớn để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo phạm 2 tội, trong đó có tội tổ chức đánh bạc (là tội nghiêm trọng), do vậy, nên cần áp dụng hình phạt tù theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • - Bị cáo Phạm Văn B có tiền án, tái phạm nguy hiểm nên áp dụng hình phạt tù theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự, có xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải(điểm s khoản 1 Điều 51).
  • - Bị cáo Nguyễn Thị Kim P nhân thân từng bị xử lý hình sự về tội đánh bạc là tội phạm cùng loại nhưng vẫn tiếp tục vi phạm nên áp dụng hình phạt tù theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự. Bị cáo bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên giảm nhẹ một phần hình phạt (điểm s khoản 1 Điều 51).
  • - Bị cáo Nguyễn Thị H4, Nguyễn Thị T7 phạm tội lần này là tái phạm, có tiền án nên áp dụng hình phạt tù theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự, có xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s khoản 1 Điều 51).
  • - Bị cáo Đỗ Thị M, Hồ Ngọc L2 không có tiền án, tiền sự, nhân thân đã bị xử lý bằng pháp luật (hành vi vi phạm không cùng loại), thời gian đã qua lâu (hơn 20 năm), đã được xoá án tích. Xét Bị cáo M đã lớn tuổi, sức khoẻ kém, bị cáo Hồ Ngọc L2 là lao động chính trong gia đình (khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự). Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s khoản 1 điều 51 BLHS), bị cáo tham gia vụ án với vai trò thứ yếu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc không lớn, bị cáo có nơi ở rõ ràng, xét không cần thiết phải xử bị cáo hình phạt tù giam, cho bị cáo hưởng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ răn đe và giáo dục, phòng ngừa.
  • - Các bị cáo: Bị cáo Ngô Thị L4, Nguyễn Thị H1, Đinh Thị Như Q, Hoàng Tuấn A, Nguyễn Thị T9 đều có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 điều 51 BLHS, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo tham gia với vai trò thứ yếu, số tiền đánh bạc không lớn, xét cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ răn đe giáo dục. Riêng đối với bị cáo Q, do tham gia đánh bạc cả 3 chiếu nên chịu hình phạt cao hơn so với các bị cáo L4, H1, Từ, Tuấn A.
  • - Bị cáo Bùi Thị Kim N4, không có tiền án tiền sự, nhân thân bị xử lý hành chính, đã được xoá, bản thân là lao động chính trong gia đình; Bị cáo Chử Thanh T11 không có tiền án, tiền sự, nhân thân bị xử lý hành chính nhưng đã được xoá, ông nội bị cáo T11 là người có công ( là thương binh), các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự), có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự). Do vậy, cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội theo Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xét đây là vụ đồng phạm giản đơn, các bị cáo tiếp nhận ý chí của nhau, số tiền sử dụng đánh bạc không lớn, các bị cáo chủ yếu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, nhiều tình tiết giảm nhẹ. Hơn nữa, căn cứ hướng dẫn của Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP-TANDTC sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của bộ luật hình sự để áp dụng cho các bị cáo đủ điều kiện theo tiêu chuẩn hướng dẫn tại Nghị quyết này cũng thể hiện sự nhân văn, khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo.

Do số lượng tiền của ba chiếu bạc tương đương nhau nên xét hành vi, nhân thân, tiền án tiền sự để cá thể hoá hình phạt đối với từng bị cáo.

Về hình phạt bổ sung, khấu trư thu nhập: Xét bị cáo đều lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung, không khấu trừ thu nhập của các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước Tổng số tiền 27.310.000 đồng là vật chứng của vụ án;
  • Tịch thu tiêu huỷ: 06 bộ bài tú lơ khơ, 01 chăn màu xanh, 01 ca nhựa, 01 hộp sắt, 01 hộp nhựa. Các tang vật hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh để bảo quản phục vụ xét xử và thi hành án.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: - Bị cáo Đỗ Thị L phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “ Đánh bạc”.

- Các bị cáo: Hồ Ngọc L2, Ngô Thị L4, Phạm Văn B, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Kim P, Nguyễn Thị H3, Đinh Như Q, Bùi Thị Kim N4, Hoàng Tuấn A, Nguyễn Thị H4, Đỗ Thị M, Nguyễn Thị T7, Chử Thanh T11, Nguyễn Thị T9 phạm tội “ Đánh bạc”.

+ Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm o, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Thị L;

+ Căn cứ Điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm s Khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự đối bị cáo Phạm Văn B;

+ Căn cứ Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm s Khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H3.

+ Căn cứ Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim P.

+ Căn cứ Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38; Bộ luật hình sự, Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H4.

+ Căn cứ Điều 38 ; Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm s Khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52; Khoản 5 Điều 65 Điều 38 Bộ luật hình sự, Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị T7.

+ Căn cứ Điều 38 ; Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Thị M.

+ Căn cứ Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hồ Ngọc L2.

+ Căn cứ Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngô Thị L4.

+ Căn cứ Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H1.

+ Căn cứ Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Thị Như Q.

+ Căn cứ Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Thị Kim N4.

+ Căn cứ Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Tuấn A.

+ Căn cứ Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm i, s Khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự đối với bị cáo Chử Thanh T11.

+ Căn cứ Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị T9.

+ Căn cứ Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự;

+ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử phạt:

  1. Bị cáo Đỗ Thị L 06 tháng tù về tội “đánh bạc” và 12 tháng tù về tội “tổ chức đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt cả hai tội là 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ 06 ngày đã bị tạm giữ.
  2. Bị cáo Phạm Văn B 36 tháng tù về tội “ Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  3. Bị cáo Nguyễn Thị H3 09 tháng tù về tội “ Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ 30/12/2024.
  4. Bị cáo Nguyễn Thị Kim P 09 tháng tù về tội “ Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2024.
  5. Bị cáo Nguyễn Thị H4 09 tháng tù về tội “ Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2024.
  6. Bị cáo Nguyễn Thị T7 09 tháng tù về tội “ Đánh bạc”. Tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng của bản án số 141/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh, nay chuyển thành án giam. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả hai bản án là 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  7. Bị cáo Đỗ Thị M 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội “ Đánh bạc”.
  8. Bị cáo Hồ Ngọc L2 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội “ Đánh bạc".
  9. Bị cáo Ngô Thị L4 06 tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập về tội “ Đánh bạc”.
  10. Bị cáo Nguyễn Thị H1 08 tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập về tội “ Đánh bạc”.
  11. Bị cáo Đinh Thị Như Q 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội “ Đánh bạc”.
  12. Bị cáo Bùi Thị Kim N4 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội “ Đánh bạc”.
  13. Bị cáo Chử Thanh T11 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội “ Đánh bạc”.
  14. Bị cáo Hoàng Tuấn A 09 tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập về tội Đánh bạc.
  15. Bị cáo Nguyễn Thị T9 06 tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập về tội “ Đánh bạc”.

Giao bị cáo Hồ Ngọc L2, Ngô Thị L4, Hoàng Tuấn A, Nguyễn Thị Hoa Đinh Thị Như Q, Bùi Thị Kim N4, Đỗ Thị M, Nguyễn Thị T9, Chử Thanh T11 cho Ủy ban nhân dân xã U, huyện Đ, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung, khấu trừ thu nhập: Không.

Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước tổng số tiền 27.310.000 đồng là vật chứng của vụ án.
  • Tịch thu tiêu huỷ: 06 bộ bài tú lơ khơ, 01 chăn màu xanh, 01 ca nhựa, 01 hộp sắt, 01 hộp nhựa. Hiện tạng vật đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

Về án phí: Các Bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Đỗ Thị L, Đỗ Thị M là người cao tuổi nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Uy Nỗ;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - Công an huyện Đông Anh;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Anh;
  • - Sở TP Thành phố Hà Nội
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Triệu Thuý Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2025/HS-ST ngày 27/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 94/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức đánh bạc và đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger