TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 94/2025/HS-ST Ngày: 25/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP . HCM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Lý;
- Ông Nguyễn Tiến Pháp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phương Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 576/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Lâm Ngọc H (tên gọi khác Huy Rùa); sinh năm: 1996; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 1491/28/30 đường P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm M và bà Võ Thị M1; sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị Bích T, có 01 con chung sinh năm 2023; Tiền án, Tiền sự: không;
Nhân thân:
Ngày 17/7/2014, bị Công an phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
Ngày 08/7/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 130/2015/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/4/2016, đã đóng án phí ngày 28/10/2015.
Ngày 29/4/2016, bị Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào Cơ sở thanh thiếu niên B1, thời hạn 03 tháng để cai nghiện bắt buộc.
Ngày 07/8/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản theo Bản án số 222/2017/HSST, H kháng cáo. Ngày 29/9/2017, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản theo Bản án số 562/2017/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2020, đã đóng án phí ngày 10/9/2018.
Ngày 29/10/2020, bị U, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đưa vào Cơ sở thanh thiếu niên B1, thời hạn 03 tháng để cai nghiện bắt buộc.
Ngày 31/10/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 262/2023/HS-ST (phạm tội ngày 26/7/2023).
Ngày 21/11/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 262/2023/HS-ST (phạm tội ngày 22/12/2022).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2023 (đang chấp hành án tại trại giam M2, tỉnh Tiền Giang).
Bị hại: anh Nguyễn Lâm Chí B – sinh năm 2001; Địa chỉ: 1 đường N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị Ngọc H1 – sinh năm 1981; Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Chị Nguyễn Thị Ngọc D - sinh năm 1971; Địa chỉ: D đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(tất cả vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 19/07/2023, anh Nguyễn Lâm Chí B để chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 69C1-254.38 ở trong sân phòng trọ tại địa chỉ 1 đường N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó anh B đi vào nhà để nghỉ ngơi. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, anh B ra chỗ để vị trí để xe thì phát hiện chiếc xe mô tô trên đã bị mất trộm. Anh B kiểm tra hệ thống camera thì phát hiện có 02 đối tượng bao gồm 01 nam, 01 nữ đã đột nhập lấy trộm xe mô tô trên. Do bận công việc nên đến ngày 24/07/2023, anh B mới đến Công an phường B trình báo nội dung sự việc trên.
Qua kiểm tra hình ảnh camera ghi nhận thì phát hiện có 02 đối tượng gồm 01 nam và 01 nữ điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airbade biển số 54H4-0543 màu đen đột nhập vào nhà lấy trộm xe mô tô biển số 69C1-254.38 của anh B, sau đó tẩu thoát về hướng đường N, đối tượng nữ chạy trước còn đối tượng nam điều khiển xe của anh B chạy theo sau.
Tiến hành truy xét biển số xe mô tô 54H4-0543 được biết xe mô tô trên hiện đang bị Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai tạm giữ cùng 02 đối tượng Lâm Ngọc H và Nguyễn Thị Bích T về hành vi Trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Qua làm việc, Lâm Ngọc H và Nguyễn Thị Bích T khai nhận toàn bộ hành vi lấy trộm xe mô tô Honda Wave biển số 69C1-254.38 vào ngày 19/07/2023 tại địa chỉ 1 đường N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể: Do cần tiền tiêu xài nên ngày 19/07/2023, H rủ T đi tìm tài sản sơ hở để lấy trộm, T đồng ý. Khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô Honda AirBlade, biển số 54H4-0543 chở T từ khách sạn T4, địa chỉ số F D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh đi về hướng thành phố T tìm tài sản sơ hở lấy trộm. Đến khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày, H chở T đến hẻm A trên đường N, phường B, thành phố T. Lúc này, T phát hiện bên trong sân nhà số A N, phường B, thành phố T có để 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 69C1-254.38, trên xe có treo một chùm chìa khóa bên hông xe nên T nói cho H biết. H điều khiển xe chở T đi tìm nhặt được 01 đoạn dây kẽm phơi quần áo rồi quay lại nhà 199/14 Nguyễn Duy T1. H dùng tay uốn thẳng móc kẽm phơi quần áo, sau đó H đưa cho T (do tay T nhỏ) để T dùng tay luồn vào trong tấm lưới B40 móc lấy chùm chìa khóa treo bên hông xe mô tô biển số 69C1-254.38. Sau khi lấy được chìa khóa, T mở khóa cửa cổng để H dắt xe mô tô 69C1-254.38 ra ngoài, còn T ngồi bên ngoài cảnh giới. Sau khi H dắt xe 69C1-254.38 ra ngoài, H lấy ổ khóa cửa móc phía ngoài cửa cổng để ngăn chủ nhà phát hiện đuổi theo, sau đó cả hai điều khiển xe tẩu thoát ra hướng đường N. H và T đem xe mô tô vừa trộm cắp được cất giấu ở khách sạn T4. Đến chiều ngày 20/07/2023, H đem xe mô tô trên bán cho người đàn ông tên T2 (không rõ lai lịch) trước cổng số 2, Bến xe C, Phường B, Quận F với giá 2.500.000 đồng, số tiền bán xe H và T đã tiêu xài cá nhân hết.
Qua làm việc, anh Nguyễn Lâm Chí B cho biết xe mô tô hiệu Honda Wave do bà Nguyễn Thị Ngọc D là mẹ ruột anh B mua vào năm 2013 với giá khoảng 20.000.000 đồng, sau đó bà D giao xe mô tô trên cho anh B sử dụng làm phương tiện đi lại.
Kết luận định giá tài sản số 306-KV1/KLĐG-HĐĐGTS ngày 11/8/2023 dinh của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố T xác định xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 69C1-254.38 màu đen trị giá 8.833.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- 01 USB chứa đoạn video ghi nhận nội dung sự việc mất trộm tài sản xảy ra ngày 19/07/2023 tại địa chỉ 1 đường N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Lâm Chí B yêu cầu được bồi thường số tiền 8.833.000 đồng theo nội dung của kết luận định giá tài sản.
[2] Bản Cáo trạng số 427/CT-VKSTPTĐ ngày 15/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố: Bị cáo Lâm Ngọc H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không
Vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo H phải bồi thường theo yêu cầu của bị hại.
Mức án đề nghị: từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù theo bản án số 262/2023/HS-ST ngày 31/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai với hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù theo bản án số 262/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo Lâm Ngọc H phải chấp hành hình phạt chung theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để bị cáo sớm trở về với xã hội, có điều kiện làm lại cuộc đời và chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định:
Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 19/7/2023, Lâm Ngọc H và Nguyễn Thị Bích T đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 54H4-0543 đến địa chỉ số A đường N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh lén lút trộm cắp xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 69C1-254.38 trị giá 8.833.000 đồng của anh Nguyễn Lâm Chí B. Như vậy có cơ sở kết luận bị cáo Lâm Ngọc H phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội. Vì vậy cần xử lý bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa. Bị cáo H có nhân thân xấu. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc về hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để quyết định hình phạt khi lượng hình.
[3] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với tên T2 không rõ lai lịch là người mua xe mô tô do H và T trộm cắp mà có, chưa xác minh được thông tin nên chưa có cơ sở xử lý.
Đối với Nguyễn Thị Bích T, qua công tác xác minh tình trạng cư trú của Nguyễn Thị Bích T tại địa chỉ: ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; đồng thời ghi lời khai mẹ ruột của T là bà Nguyễn Thị Ngọc H1 được biết T đã đi khỏi địa phương từ tháng 12/2023, không thực hiện nghĩa vụ nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Ngày 26/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn, ra Lệnh bắt để tạm giam đối với Nguyễn Thị Bích T. Ngày 10/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định tách vụ án hình sự, Quyết định truy nã và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với Nguyễn Thị Bích T, vì vậy đối với Nguyễn Thị Bích T khi nào bắt được sẽ tiếp tục điều tra xử lý sau.
[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Vật chứng vụ án:
- 01 USB chứa đoạn video ghi nhận nội dung sự việc mất trộm tài sản xảy ra ngày 19/07/2023 tại địa chỉ 1 đường N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục lưu trữ kèm hồ sơ vụ án.
- 01 xe mô tô Honda AirBlade, biển số 54H4-0543. Xác minh xe mô tô Honda AirBlade, biển số 54H4-0543 do anh Nguyễn Quyết T3, địa chỉ số: D đường T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, bà Nguyễn Thị Ngọc H1 cho biết xe mô tô biển số 54H4- 0543 do bà H1 mua lại của anh Nguyễn Quyết T3. Khi mua có làm hợp đồng mua bán công chứng nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Vào ngày 19/7/2023, T mượn xe của bà H1 để đi phụ bán cơm, không nói cho bà H1 biết sử dụng xe mô tô trên để đi trộm cắp tài sản. Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai thu giữ xe do H và T sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản vào ngày 26/7/2023 tại huyện N, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện N đã xử lý trả tài sản cho bà H1. Hội đồng xét xử ghi nhận.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Lâm Chí B yêu cầu được bồi thường số tiền 8.833.000 đồng theo nội dung của kết luận định giá tài sản. Xét tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được và tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, vì vậy buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 8.833.000 đồng.
[5] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lâm Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù theo bản án số 262/2023/HS-ST ngày 31/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai với hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù theo bản án số 262/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo Lâm Ngọc H phải chấp hành hình phạt chung 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2023, bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam M2, tỉnh An Giang.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tiếp tục lưu trữ kèm hồ sơ vụ án: 01 USB chứa đoạn video ghi nhận nội dung sự việc mất trộm tài sản xảy ra ngày 19/07/2023.
- Căn cứ điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Lâm Ngọc H bồi thường cho anh Nguyễn Lâm Chí B số tiền 8.833.000 đồng (tám triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án chưa trả số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án, còn phải trả tiền lãi của số tiền gốc chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 441.650 đồng (bốn trăm bốn mươi mốt nghìn sáu trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thu Thảo |
Bản án số 94/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP. HCM về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 94/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP. HCM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội trộm cắp tài sản
