Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2025/HS-ST

Ngày 18 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Kim Liên.

Thẩm phán: Bà Lại Thị Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Kim Dung, bà Lèo Thị Chan, bà Trần Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Đinh Văn H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 15/3/1986 tại huyện P, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản I, xã T, huyện P, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Nhân viên thiết bị trường học - Trường THCS xã T, huyện B, tỉnh Sơn La; Trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Đinh Văn H1 (đã chết) và bà Hà Thị L, bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn H: Ông Cầm Văn T, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh S. Có mặt.

- Người bị hại:

  1. Anh Đặng Văn C, sinh năm 1989, chị Bàn Thị N, sinh năm 1987. Cùng trú tại địa chỉ: Bản C, xã Q, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là bản C, xã Đ, thị xã M, tỉnh Sơn La). Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Anh Lò Văn T1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Bản N, xã H, huyện P, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  3. Chị Tếnh Thị C1, sinh năm 1993. Địa chỉ: P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  4. Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1984. Địa chỉ: Bản S, xã K, huyện P, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  5. Anh Lù Văn T2, sinh năm 1989. Địa chỉ: Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  6. Anh Phàng A G, sinh năm 1995. Địa chỉ: Bản S, xã K, huyện P, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  7. Chị Trần Thị L1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Tiểu khu D, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  8. Anh Mùa A T3, sinh năm 1997. Địa chỉ: Bản S, xã S, huyện P, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  9. Anh Thào A T4, sinh năm 2002. Địa chỉ: Bản H, xã H, huyện B, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  10. Anh Lù A C2, sinh năm 2002. Địa chỉ: Bản H, xã H, huyện B, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  11. Anh Và A V, sinh năm 1989. Địa chỉ: Bản C, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  12. Anh Sùng A T5, sinh năm 1997. Địa chỉ: Bản T, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  13. Anh Sùng A D, sinh năm 1997. Địa chỉ: Bản T, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  14. Anh Đinh Văn H3, sinh năm 1995. Địa chỉ: Bản C, xã Q, huyện P, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  15. Anh Lò Văn Đ, sinh năm 1992. Địa chỉ: Bản P, xã P, huyện Q, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  16. Anh Vũ Ngọc T6, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Đinh Thị H4. Địa chỉ: Bản T, xã H, huyện P, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  2. Chị Hạng Thị V1. Địa chỉ: Bản S, xã S, huyện P, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  3. Chị Lò Thị H5. Địa chỉ: Bản P, xã P, huyện Q, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  4. Anh Phàng A D1. Địa chỉ: Bản S, xã K, huyện P, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Giàng Lao X. Địa chỉ: Bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
  2. Ông Và Giống C3. Địa chỉ: Bản C, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  3. Ông Đinh Văn C4. Địa chỉ: Bản C, xã Q, huyện P, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 12/2021 đến tháng 04/2024, Đinh Văn H với mục đích chiếm đoạt tài sản, đã đưa ra thông tin gian dối về việc đang công tác tại các cơ quan Nhà nước tỉnh Sơn La, có nhiều mối quan hệ với lãnh đạo sở, ban, ngành, có khả năng xin việc hoặc chuyển công tác theo nguyện vọng, để nhận tiền của các cá nhân có nhu cầu. Qua đó chiếm đoạt của 16 bị hại tổng số tiền 2.152.300.000 đồng. Cụ thể:

  1. Chiếm đoạt của Đặng Văn C, sinh năm 1989 và Bàn Thị N, sinh năm 1987, cùng trú tại bản Chiềng Khòng, xã Q, huyện M (nay là bản C, xã Đ, thị xã M) 150.000.000 đồng.

    Đinh Văn H quen Đặng Văn H6, sinh năm 1984, trú tại bản Bương Pa, xã K, huyện P, tỉnh Sơn La. Huế đưa ra thông tin đang công tác tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh S, có nhiều mối quan hệ quen biết, có thể xin việc làm tại các cơ quan Nhà nước trong tỉnh, nếu người thân của H6 có nhu cầu thì giới thiệu cho H để xin việc. Do tin tưởng Huế, Đặng Văn H6 giới thiệu Huế với Đặng Văn C để xin việc cho Bàn Thị N (N là vợ của C, đã tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm Sơn La, hệ giáo viên mầm non, chưa xin được việc làm). Sau khi C liên hệ với H, H đưa ra thông tin sẽ xin cho N được xét tuyển vào làm giáo viên mầm non tại huyện M (nay là thị xã M), chi phí 130.000.000 đồng, C và N đồng ý. Tháng 12/2021, C và N đến phòng trọ của Huế tại bản Mo, xã Q, huyện P đưa cho H 130.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, H không xin việc làm cho N mà sử dụng chi tiêu cá nhân và trả nợ. Do không thấy N có quyết định tuyển dụng nên C, N nhiều lần yêu cầu Huế trả lại tiền. Tháng 10/2023, H sử dụng số tài khoản 7910215008500 thuộc ngân hàng A chuyển khoản nhiều lần, tổng cộng 130.000.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng của N.

    Đến tháng 12/2023, H tiếp tục đưa ra thông tin có 01 chỉ tiêu giáo viên mầm non tại huyện M, nếu N muốn được xét tuyển thì đưa cho H 150.000.000 đồng. Huế khẳng định chắc chắn sẽ giúp được N có việc làm nên C, N tin tưởng, đồng ý. Ngày 08/12/2023, C và N đến phòng trọ của Huế tại bản Mo, xã Q, huyện P, đưa cho H 100.000.000 đồng (trong đó 22.000.000 đồng tiền mặt; 78.000.000 đồng C dùng số tài khoản 9990359523644 ngân hàng M1 chuyển vào số tài khoản 7910215008500 của Huế). Huế viết giấy vay tiền, nội dung vay của C số tiền 100.000.000 đồng. Ngày 26/12/2023, H yêu cầu C chuyển 50.000.000 đồng cho H, C đã chuyển 50.000.000 đồng đến số tài khoản 7910215008500 của Huế. Sau khi nhận được tiền, H sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Đến nay H chưa trả lại số tiền 150.000.000 đồng cho C, N.

  2. Chiếm đoạt của Lò Văn T1, sinh năm 1996, trú tại bản Nà Phái 2, xã H, huyện P 53.000.000 đồng.

    Lò Văn T1 tốt nghiệp trường Đại học T10 từ năm 2018 nhưng chưa có việc làm. Tháng 01/2022, T1 quen biết Đinh Văn H, H tự giới thiệu đang công tác tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh S, có thể xin cho T1 được xét tuyển vào làm giáo viên tại huyện T với chi phí 100.000.000 đồng, T1 đồng ý.

    Ngày 29/01/2022 và ngày 20/02/2022, T1 đến phòng trọ của H tại bản Dửn, xã C, thành phố S, đưa cho H 100.000.000 đồng (mỗi lần 50.000.000 đồng) cùng 01 bộ hồ sơ xin việc, có viết giấy vay tiền ngày 29/01/2022 và Hợp đồng cho cá nhân vay tiền đề ngày 20/02/2022, H ký vào mục “người vay”. Sau đó, H nói phải chờ, vì chưa có chỉ tiêu. Ngày 30/6/2022, H trao đổi lại với T1 còn thiếu chứng chỉ chức danh nghề nghiệp, cần đưa thêm 3.000.000 đồng để H làm chứng chỉ. Cùng ngày, T1 chuyển 3.000.000 đồng từ tài khoản 003704060217120 ngân hàng MyVIB của T1 đến tài khoản 7910215008500 ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn của Huế (nhưng H không làm chứng chỉ cho T1). Tháng 9/2023, H tiếp tục đưa ra thông tin có chỉ tiêu tuyển giáo viên tại huyện B, Huế sẽ xin cho T1 được xét tuyển vào làm giáo viên tại huyện B, yêu cầu T1 phải đưa thêm cho H số tiền 50.000.000 đồng, T1 đồng ý. Ngày 19/9/2023, T1 đến phòng trọ của H tại xã Q, huyện P đưa cho H 50.000.000 đồng. Sau đó Huế làm 01 hợp đồng vay số tiền 150.000.000 đồng của T1.

    Tổng số tiền H đã nhận của T1 là 153.000.000 đồng, nhưng không sử dụng để xin việc cho T1 mà chi tiêu mục đích cá nhân. Thách thấy H không xin được việc làm như đã hứa hẹn, đã yêu cầu Huế trả lại tiền. Từ ngày 08/12/2023 đến ngày 10/01/2024 H đã trả cho T1 100.000.000 đồng. Số tiền còn lại đến nay Huế chưa trả. Ngày 23/4/2024, Lò Văn T1 làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Đinh Văn H.

  3. Chiếm đoạt của Tếnh Thị C1, sinh năm 1993, trú tại bản Pa Kha 1, xã C, huyện Y 80.000.000 đồng.

    Tháng 02/2023, C1 thấy trên mạng xã hội Facebook thông tin từ tài khoản Đinh Văn H chia sẻ thông tin chỉ tiêu tuyển dụng cán bộ y tế học đường, do chưa có việc làm nên C1 liên lạc với H. Qua trao đổi, H giới thiệu công tác tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh S và đưa ra thông tin có thể xin cho C1 làm y tế học đường tại xã C, huyện Y với chi phí 80.000.000 đồng, C1 đồng ý.

    Ngày 18/3/2023, C1 cùng Giàng Lao X, sinh năm 1990, trú tại bản P, xã C, huyện Y (chồng của C1) đến phòng trọ của Huế tại bản Dửn, xã C, thành phố S đưa cho H 80.000.000 đồng tiền mặt. Huế viết giấy vay tiền, nội dung vay của Chu 80.000.000 đồng. Sau khi nhận 80.000.000 đồng từ Tếnh Thị C1, Huế không xin việc như đã cam kết, mà sử dụng chi tiêu cá nhân. Đến nay, C1 vẫn chưa có việc làm. Ngày 20/4/2024, Tếnh Thị C1 làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo của Đinh Văn H.

  4. Chiếm đoạt của Nguyễn Thị H2, sinh năm 1984, trú tại bản S, xã K, huyện P, tỉnh Sơn La 150.000.000 đồng.

    Nguyễn Thị H2 và Đinh Văn H có mối quan hệ bạn học. Tháng 6/2023, Nguyễn Thị H2 gặp Đinh Văn H, Đinh Văn H giới thiệu là cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh S, có nhiều mối quan hệ quen biết, có khả năng xin được việc làm cho nhiều người. Do tin tưởng, Nguyễn Thị H2 đặt vấn đề nhờ Đinh Văn H xin việc làm cho Giàng A L2 (em chồng của Nguyễn Thị H2, L2 đã tốt nghiệp Cao đẳng y tế Sơn La nhưng chưa có việc làm). Đinh Văn H đưa ra thông tin có thể xin cho L2 làm y tế học đường tại xã K, huyện P với chi phí 150.000.000 đồng, Nguyễn Thị H2 đã trao đổi và thống nhất với chồng là Phàng A D1 đưa tiền để H2 xin việc cho L2. Ngày 04/6/2023, D1 đến Ngân Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện P chuyển 100.000.000 đồng đến số tài khoản 7910215008500 của Huế, cùng ngày D1 và Nguyễn Thị H2 đưa 50.000.000 đồng tiền mặt cho Đinh Văn H. Nhận được số tiền trên, Đinh Văn H không xin việc cho L2 mà chi tiêu cá nhân và trả nợ.

    Tháng 4/2024, Nguyễn Thị H2 không thấy Đinh Văn H xin được việc làm cho Giàng A L2 nên đã yêu cầu trả lại tiền. Tháng 5/2024, Đinh Thị H4 sinh năm 1984 (chị gái của Đinh Văn H) đã thay mặt gia đình Đinh Văn H trả lại số tiền 150.000.000 đồng cho Nguyễn Thị H2.

  5. Chiếm đoạt của Lù Văn T2, sinh năm 1989, trú tại bản Khoan, xã C, huyện Q 140.000.000 đồng.

    Năm 2022, T2 quen biết Đinh Văn H, Huế đưa ra thông tin đang công tác tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh S, có nhiều mối quan hệ quen biết, có thể xin việc làm tại các cơ quan Nhà nước trong tỉnh Sơn La (do H biết T2 đã tốt nghiệp trường Cao đẳng S1, chưa có việc làm). Thong nhờ H xin cho T2 được xét tuyển vào làm giáo viên tại Trường THCS C5, huyện T. H nói với T2 phải đưa cho H số tiền 140.000.000 đồng, T2 đồng ý. Từ tháng 7/2023 đến tháng 8/2023, T2 đưa cho H 03 lần, tổng số tiền 140.000.000 đồng và 01 bộ hồ sơ xin việc tại phòng trọ của Huế ở bản D, phường C, thành phố S (ngày 15/7/2023 đưa 45.000.000 đồng; ngày 24/7/2023 đưa 75.000.000 đồng; ngày 04/8/2023 đưa 20.000.000 đồng). Sau mỗi lần đưa tiền, H đều viết giấy vay tiền với T2.

    Sau khi nhận tiền của T2, Huế không xin việc làm cho T2 như thoả thuận mà chi tiêu cá nhân và trả nợ. Đến nay Huế chưa trả tiền cho T2. Ngày 19/4/2024, T2 làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo của Đinh Văn H.

  6. Chiếm đoạt của Phàng A G, sinh năm 1995, trú tại bản S, xã K, huyện P 100.000.000 đồng.

    Năm 2020, Phàng A quen Đinh Văn H qua Phàng A (anh trai G). H giới thiệu với V2 bản thân là cán bộ Phòng khảo thí Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh S, có khả năng xin được việc làm. Do biết G đã tốt nghiệp Trường Cao đẳng S1 nhưng chưa có việc làm, H đưa ra thông tin có thể xin cho G làm cán bộ y tế học đường tại xã K, huyện P với chi phí 120.000.000 đồng, đưa trước 100.000.000 đồng, khi nào có Quyết định tuyển dụng thì đưa 20.000.000 đồng còn lại, G đồng ý. Ngày 08/8/2023, G đến phòng trọ của H tại bản Dửn, xã C, thành phố S đưa cho H 100.000.000 đồng tiền mặt rồi Huế viết giấy vay tiền với nội dung vay của Gàng 100.000.000 đồng.

    Sau khi nhận tiền, Đinh Văn H không xin việc làm cho G như đã cam kết mà sử dụng chi tiêu và trả nợ cá nhân. Ngày 18/4/2024, biết tin H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P bắt tạm giam về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, G đã làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo của Đinh Văn H.

  7. Chiếm đoạt của Trần Thị L1, sinh năm 1986, trú tại tiểu khu D, thị trấn P, huyện P 100.000.000 đồng.

    Năm 2022, Đinh Văn H quen Thào A K. Huế đưa ra thông tin đang công tác tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh S, có nhiều mối quan hệ quen biết, có thể xin việc làm y tế học đường, giáo viên trường học tại huyện B, P, nếu K có người thân có nhu cầu thì giới thiệu cho H để xin việc.

    Do tin tưởng Huế, Thào A K giới thiệu Huế với Trần Thị L1 (công tác tại Trường mầm non Á, xã H, huyện B). L1 trực tiếp liên lạc với H để nhờ H chuyển công tác về Trường mầm non xã H, huyện P, Huế nói phải đưa cho H số tiền 100.000.000 đồng, L1 đồng ý. Ngày 13/8/2023, L1 cùng K đến phòng trọ của Huế tại bản Dửn, xã C, thành phố S, L1 chuyển 50.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng số 7909205064760 của L1 đến tài khoản số 7910215008500 (cùng thuộc ngân hàng A) của Huế. Huế viết giấy vay tiền, nội dung vay của L1 50.000.000 đồng. Ngày 30/11/2023, H yêu cầu Lý chuyển số tiền còn lại để sớm có quyết định chuyển công tác, Lý nhờ chồng là Hoàng Văn T7, sinh năm 1984, trú tại tiểu khu D, thị trấn P đến phòng trọ của Huế tại bản Mo, xã Q, huyện P. Tại đây, T7 chuyển 50.000.000 đồng từ số tài khoản 105005588745 thuộc ngân hàng V3 của T7 đến số tài khoản 7910215008500 thuộc ngân hàng A của Huế. Huế viết giấy vay tiền, nội dung vay của T7 số tiền 50.000.000 đồng.

    Sau khi nhận 100.000.000 đồng từ gia đình Trần Thị L1, Đinh Văn H không xin chuyển công tác như đã cam kết mà sử dụng chi tiêu cá nhân. Đến nay, L1 vẫn chưa được chuyển công tác. Ngày 19/4/2024, Trần Thị L1 làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo của Đinh Văn H.

  8. Chiếm đoạt của Mùa A T3, sinh năm 1997, trú tại bản S, xã S, huyện P 201.000.000 đồng.

    Tháng 8/2023, Thào A K nói với Mùa A P (anh trai Mùa A T3, đồng nghiệp của K) bạn là Đinh Văn H có khả năng xin việc làm. Phe đã nói chuyện lại với Mùa A T3, nhờ H xin việc cho Hạng Thị V1 (vợ của T3, đã tốt nghiệp Cao đẳng y tế Sơn La nhưng vẫn chưa có việc làm). T3 lấy số điện thoại và liên hệ với Huế. Qua trao đổi, H giới thiệu bản thân công tác tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh S, có thể xin việc cho V1 vào làm y tế học đường tại trường THCS xã S, huyện P với chi phí 140.000.000 đồng.

    Ngày 13/8/2023, T3 cùng Thào A K đến phòng trọ của Huế tại bản Dửn, xã C, thành phố S, Huế nói đưa trước cho H 60.000.000 đồng xin việc và 6.000.000 đồng để làm chứng chỉ tiếng Anh, tin học. T3 đồng ý, đưa cho H 46.000.000 đồng tiền mặt và 20.000.000 đồng T3 sử dụng số tài khoản 7909205169513 chuyển đến số tài khoản 7910215008500 (cùng thuộc ngân hàng A) của Huế. Huế viết giấy vay tiền với nội dung vay của T3 60.000.000 đồng (6.000.000 đồng H nói với T3 là tiền làm chứng chỉ tin học và tiếng Anh cho V1 nên không viết vào giấy vay tiền, nhưng H không làm chứng chỉ cho V1). Từ tháng 8/2023 đến tháng 12/2023, H liên tục đưa ra thông tin cần làm chứng chỉ hành nghề, tặng quà cho lãnh đạo... và yêu cầu T3 chuyển thêm tiền. T3 đã 05 lần chuyển tiền cho H (ngày 16/8/2023, chuyển 50.000.000 đồng; ngày 13/9/2023, chuyển 50.000.000 đồng; ngày 19/9/2023, chuyển 5.000.000 đồng; ngày 03/11/2023, chuyển 20.000.000 đồng; ngày 25/12/2023, chuyển 10.000.000 đồng, nhưng H không làm chứng chỉ cho V1) tổng 135.000.000 đồng.

    Toàn bộ số tiền 201.000.000 đồng nhận của Mùa A T3, H không xin việc như đã cam kết, mà sử dụng chi tiêu cá nhân. Đến nay, Hạng Thị V1 chưa được đi làm. Ngày 11/4/2024, H chuyển khoản trả cho T3 1.000.000 đồng. Cùng ngày, T3 làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Đinh Văn H.

  9. Chiếm đoạt của Thào A T4, sinh năm 2002, trú tại Bản H, xã H, huyện B 166.000.000 đồng và Lù A C2, sinh năm 2002, trú tại xã H, huyện B 166.000.000 đồng.

    Tháng 7 năm 2023, Thào A T4 tốt nghiệp chuyên ngành Điều dưỡng, Lù A tốt nghiệp chuyên ngành Dược trường Cao đẳng S1, nhưng chưa xin được việc làm. Tháng 8/2023, thông qua giới thiệu của Thào A K, T4 và C2 liên hệ Đinh Văn H để nhờ H xin vào làm y tế học đường tại xã H, huyện B.

    Ngày 26/8/2023, K đưa C2, T4 đến phòng trọ của Huế tại bản Dửn, xã C, thành phố S gặp Huế. Tại đây, H nói với C2, T4 để xin được việc thì mỗi người phải đưa cho H 160.000.000 đồng, C2, T4 đồng ý. Huế yêu cầu mỗi người đưa trước 6.000.000 đồng để làm chứng chỉ tin học, ngoại ngữ, C2 đưa cho H 6.000.000 đồng tiền mặt, đến ngày 27/8/2023, T4 sử dụng số tài khoản 0325.398342 ngân hàng M1 chuyển 6.400.000 đồng đến số tài khoản 7910215008500 của Huế (trong đó 400.000 đồng là tiền Tủa tự nguyện cho Huế để cảm ơn), nhưng H không làm chứng chỉ cho C2, T4. Ngày 31/8/2023, tại bản Dửn, xã C, thành phố S, C2 và T4 mỗi người đưa cho H 100.000.000 đồng tiền mặt. Huế viết giấy vay tiền, nội dung vay của T4 số tiền 100.000.000 đồng, vay của C2 số tiền 100.000.000 đồng. Ngày 16/9/2023, H yêu cầu C2 chuyển số tiền còn lại là 60.000.000 đồng, C2 đồng ý và sử dụng số tài khoản 337959211 ngân hàng M1 chuyển 55.000.000 đồng đến số tài khoản Viettelpay 7904229233946735 của Huế. Đến ngày 22/9/2023, Cu chuyển tiếp 5.000.000 đồng vào số tài khoản 7910215008500 của Huế. Ngày 15/10/2023, H yêu cầu T4 chuyển cho H 60.000.000 đồng nhưng do chưa đủ nên T4 chuyển trước 30.000.000 đồng vào số tài 7910215008500 của Huế. Đến ngày 25/11/2023, T4 chuyển số tiền 30.000.000 đồng còn lại đến tài khoản ngân hàng của H.

    Huế đã nhận của T4 và C2 tổng cộng mỗi người 166.00.000 đồng, nhưng không thực hiện xin việc cho T4 và Cu như đã cam kết mà sử dụng chi tiêu cá nhân. Đến nay, T4 và C2 vẫn chưa có việc làm. Ngày 23/4/2024, Thào A T4 và Lù A C2 làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo của Đinh Văn H.

  10. Chiếm đoạt của Và A V, sinh năm 1989, trú tại bản Co Nghè, xã C, huyện T 100.000.000 đồng.

    Tháng 10/2022, Giàng A T8 giới thiệu với Và A V về việc Đinh Văn H đang công tác tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh S, có khả năng xin việc, xét tuyển vào công tác tại các cơ quan Nhà nước trong tỉnh (do T8 biết V đã tốt nghiệp Trường Đại học T10 nhưng chưa có việc làm). Vừ trực tiếp liên hệ với H để nhờ Huế xin được xét tuyển vào làm giáo viên tại Trường P2 bán trú xã C, huyện T, Huế nói V phải đưa cho H số tiền 180.000.000 đồng để xin việc, V đồng ý. Đến ngày 26/11/2022, V cùng Và Giống C3 (bố đẻ V) đến phòng trọ của Huế tại bản Dửn, xã C, thành phố S đưa cho H 180.000.000 đồng tiền mặt. Huế viết 01 giấy vay tiền, nội dung vay của Vừ 180.000.000 đồng. Đến tháng 11/2023, H tiếp tục đưa ra thông tin sắp đến ngày thi, cần gặp Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo để xin việc và yêu cầu V chuyển cho H số tiền 20.000.000 đồng. Ngày 08/11/2023, V chuyển 20.000.000 đồng đến số tài khoản 7910215008500 của Huế. Tổng số tiền H nhận của V là 200.000.000 đồng nhưng không sử dụng để xin việc cho V như thoả thuận mà chi tiêu cá nhân và trả nợ.

    Tháng 11/2023, H đưa ra thông tin huyện T không có chỉ tiêu giáo viên, H đã xin cho V một chỉ tiêu giáo viên cấp 3 tại huyện M và bảo V làm hồ sơ thi tuyển tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh. Sau khi có kết quả, V biết không trúng tuyển nên đã yêu cầu H trả lại số tiền 200.000.000 đồng. H đã trả lại cho V 100.000.000 đồng (ngày 01/12/2023 và ngày 24/01/2024 chuyển vào tài khoản 107870854009 của Và Thị S (em gái V) mỗi lần 50.000.000 đồng). Đến nay, chưa trả 100.000.000 đồng. Ngày 18/4/2024, V làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Đinh Văn H.

  11. Chiếm đoạt của Sùng A T5, sinh năm 1997, trú tại bản Tư Làng, xã M, huyện T 205.300.000 đồng.

    Do tin tưởng H có nhiều mối quan hệ và có khả năng xin việc làm, Giàng A T8 giới thiệu Huế với Sùng A T5 (Tếnh đã tốt nghiệp Cao đẳng y tế Sơn La, chưa có việc làm). Tếnh trực tiếp liên lạc với Huế. Qua trao đổi, H nói sẽ giúp T5 được xét tuyển vào công tác tại Trạm y tế xã M, huyện T với chi phí 200.000.000 đồng, T5 đồng ý.

    Ngày 02/10/2023, T5 đến phòng trọ của H tại bản Dửn, xã C, thành phố S. Huế yêu cầu T5 đưa 5.300.000 đồng để làm chứng chỉ chức danh nghề nghiệp, T5 đã sử dụng số tài khoản 1020388628 ngân hàng V4 của mình chuyển số tiền trên đến số tài khoản 7910215008500 thuộc ngân hàng A của Huế (nhưng H không làm chứng chỉ cho T5). Ngày 03/10/2023, H gọi điện yêu cầu T5 chuyển 10.000.000 đồng là tiền đặt cọc. Tếnh đã chuyển 10.000.000 đồng đến số tài khoản 7910215008500 của Huế. Ngày 07/10/2023, T5 cùng Sùng A D, trú tại bản Tư Làng, xã M, huyện T (em trai T), đến phòng trọ Huế tại bản D, xã C, thành phố S, đưa cho H 190.000.000 đồng. Huế viết giấy vay tiền, nội dung vay của Tếnh 190.000.000 đồng.

    Tổng số tiền H nhận của Sùng A T5 là 205.300.000 đồng, H không xin việc làm như cam kết mà sử dụng để chi tiêu cá nhân hết. Đến nay, T5 chưa có việc làm. Ngày 15/4/2024, T5 làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Đinh Văn H.

  12. Chiếm đoạt của Sùng A D, sinh năm 1997, trú tại bản Tư Làng, xã M, huyện T 160.000.000 đồng.

    Tháng 10/2023, D biết Sùng A T5 (anh trai D), đang nhờ Đinh Văn H xin việc làm. Ngày 07/10/2023, D cùng Sùng A T5 đến phòng trọ của Huế gần trường Đại học T10. Qua trao đổi, H biết T8 đã tốt nghiệp khoa Nội vụ trường Cao đẳng S1 năm 2017 nhưng chưa xin được việc làm, Huế đưa ra thông tin có thể xin việc cho D 01 chỉ tiêu công chức tại UBND xã C, huyện T với chi phí 160.000.000 đồng, D đồng ý.

    Ngày 26/11/2023, D cùng Sùng A T5 đến phòng trọ của H đưa cho H số tiền 150.000.000 đồng (gồm 68.000.000 đồng tiền mặt, 36.000.000 đồng từ tài khoản 0365.768.053 ngân hàng M2 của D đến tài khoản 79102150085000 của Huế, 46.000.000 đồng từ tài khoản 1020388628 ngân hàng V4 của T5 đến số tài khoản 7910215008500 của Huế). Huế viết giấy vay tiền, nội dung vay của D số tiền 150.000.000 đồng. Ngày 22/01/2024, H gọi điện yêu cầu D chuyển 10.000.000 đồng để lấy Quyết định tuyển dụng sớm. Dủa chuyển 10.000.000 đồng từ tài khoản 0365.768.053 ngân hàng M2 của D đến tài khoản 79102150085000 của Huế.

    Sau khi nhận 160.000.000 đồng của Sùng A D, H sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Đến nay, D chưa được đi làm. Ngày 16/4/2024, D làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo của Đinh Văn H.

  13. Chiếm đoạt của Đinh Văn H3, sinh năm 1995, trú tại bản Cang, xã Q, huyện P 146.000.000 đồng.

    Tháng 12/2023, H3 thấy tài khoản Facebook “Đinh Hoàng Huế” của Đinh Văn H đăng, chia sẻ thông tin liên quan đến xét, thi tuyển trong các lĩnh vực y tế học đường, giáo dục nên H3 chủ động liên hệ (do H3 đã tốt nghiệp Cao đẳng y tế Sơn La từ năm 2015 nhưng chưa có việc làm). Huế tự giới thiệu đang công tác tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh S, hiện có 01 chỉ tiêu y tế học đường tại xã M, huyện P, Huế có thể xin việc cho H3 vào chỉ tiêu trên với chi phí 120.000.000 đồng, H3 đồng ý.

    Ngày 04/01/2024, H yêu cầu Hoàng chuyển 6.000.000 đồng để làm chứng chỉ tin học, H3 dùng số tài khoản 105867101373 tại ngân hàng V5 chuyển 6.000.000 đồng vào số tài khoản 7910215008500 của H (nhưng H không làm chứng chỉ cho H3). Ngày 09/01/2024, H3 cùng ông Đinh Văn C4 (chú ruột của H3) đến phòng trọ của Huế tại bản Mo, xã Q, huyện P đưa cho H 120.000.000 đồng cùng 01 bộ hồ sơ xin việc. Huế làm 01 giấy biên nhận số tiền trên với C4. Ngày 20/01/2024, H tiếp tục đưa ra thông trường hợp của Hoàng khó xin việc, yêu cầu H3 đưa thêm số tiền 20.000.000 đồng để làm quà cho lãnh đạo cấp trên, H3 chuyển số tiền này đến số tài khoản 7910215008500 của Huế. Tổng số tiền H nhận của H3 là 146.000.000 đồng nhưng không xin việc làm cho H3 mà chi tiêu cá nhân và trả nợ. Đến nay, Huế chưa trả tiền cho H3.

    Ngày 15/6/2024, biết tin H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P bắt tạm giam về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, H3 đã làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt của Đinh Văn H.

  14. Chiếm đoạt của Lò Văn Đ, sinh năm 1992, trú tại bản Pá Le, xã P, huyện Q 220.000.000 đồng.

    Năm 2022, Lò Văn Đ quen biết Đinh Văn H, Huế giới thiệu là giáo viên chất lượng cao tại huyện M, có nhiều mối quan hệ với lãnh đạo Sở N1, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh S. Do vợ Đ là Lò Thị H5 đã tốt nghiệp Đại học luật H, Phú Thọ từ năm 2021 nhưng chưa có việc làm nên H đưa ra thông tin có 01 chỉ tiêu công chức xã ở UBND xã M, huyện Q, nếu H5 muốn được xét tuyển thì phải đưa cho H số tiền 220.000.000 đồng, Đ đồng ý.

    Từ ngày 08/01/2024 đến 23/01/2024, Đ chuyển 220.000.000 đồng vào tài khoản 79102150085000 của Huế. Cụ thể: Ngày 08/01/2024 chuyển 50.000.000 đồng (lần 1: 45.000.000 đồng, lần 2: 5.000.000 đồng); ngày 15/01/2024 chuyển 140.000.000 đồng (lần 1: 50.000.000 đồng, lần 2: 90.000.000 đồng); ngày 23/01/2024 chuyển 30.000.000 đồng.

    Sau khi nhận tiền của Lò Văn Đ, Huế sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Đến nay, Lò Thị H5 chưa được đi làm, Huế chưa trả tiền cho Đ. Ngày 20/4/2024, Đ làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo của Đinh Văn H.

  15. Chiếm đoạt của Vũ Ngọc T6, sinh năm 1985, trú tại Tổ B, phường C, thành phố S 15.000.000 đồng.

    Vũ Ngọc T6 công tác tại trường Tiểu học và THCS xã K, huyện P. Năm 2023, do có nhu cầu chuyển về công tác tại trường học thuộc thành phố S, qua mạng xã hội Facebook, T6 kết bạn, làm quen với Đinh Văn H. Huế giới thiệu là chuyên viên Sở Giáo dục và Đ1 tại tỉnh Sơn La, có thể xin chuyển công tác được cho T6, chi phí 100.000.000 đồng, T6 đồng ý.

    Đầu tháng 4/2024, H gọi điện và nhắn tin cho T6, yêu cầu chuyển trước 30.000.000 đồng để xin chuyển công tác. Tin tưởng Huế, ngày 09/4/2024, T6 chuyển 15.000.000 đồng từ tài khoản 7909215040180 của T6 đến tài khoản 7910215008500 (cùng thuộc ngân hàng A) của Huế, đồng thời đưa cho Huế 02 bộ hồ sơ. Sau khi nhận tiền, H đã sử dụng toàn bộ số tiền chi tiêu cá nhân. Ngày 18/4/2024, biết tin H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P bắt tạm giam về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, T6 đã làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo của Đinh Văn H.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) Giấy vay tiền giữa Đinh Văn H với Và A V đề ngày 26/11/2022; 01 (một) Giấy vay tiền giữa Đinh Văn H với Sùng A D đề ngày 26/11/2023; 01 (một) Giấy vay tiền giữa Đinh Văn H với Sùng A T5 đề ngày 07/10/2023; 01 (một) Giấy vay tiền giữa Đinh Văn H với Trần Thị L1 đề ngày 13/8/2023; 01 (một) Giấy vay tiền giữa Đinh Văn H với Hoàng Văn T7 đề ngày 30/11/2023; 01 (một) Giấy vay tiền giữa Đinh Văn H với Đặng Văn C đề ngày 08/12/2023; 01 (một) Giấy vay tiền giữa Đinh Văn H với Lù Văn T2 đề ngày 15/7/2023; 01 (một) Giấy vay tiền giữa Đinh Văn H với Lù Văn T2 đề ngày 24/7/2023; 01 (một) Giấy vay tiền giữa Đinh Văn H với Lù Văn T2 đề ngày 04/8/2023; 01 (một) Giấy vay tiền giữa Đinh Văn H với Lù A đề ngày 31/8/2023; 01 (một) Giấy vay tiền giữa Đinh Văn H với Thào A T4 đề ngày 31/8/2023; 01 (một) Giấy vay tiền giữa Đinh Văn H với Phàng A đề ngày 08/8/2023; 01 (một) Giấy vay tiền giữa Đinh Văn H với Lò Văn T1 đề ngày 29/01/2022; 01 (một) Hợp đồng cho cá nhân vay tiền giữa Đinh Văn H với Lò Văn T1 đề ngày 20/02/2022, số tiền 100.000.000 đồng; 01 (một) Hợp đồng cho cá nhân vay tiền giữa Đinh Văn H với Lò Văn T1 đề ngày 20/02/2022, số tiền 150.000.000 đồng; 01 (một) Giấy vay tiền giữa Đinh Văn H với Mùa A T3 đề ngày 13/8/2023; 01 (một) Giấy biên nhận giao tiền giữa Đinh Văn H với Đinh Văn C4 đề ngày 09/01/2024; 01 bộ hồ sơ chuyển công tác của Vũ Ngọc T6; 01 bộ hồ sơ viên chức của Lò Văn Đ; 01 bộ hồ sơ của Phàng A; 03 bộ hồ sơ viên chức của Trần Thị L1; 01 bộ hồ sơ của Lò Văn T1; 03 bộ hồ sơ không đề thông tin; Bảng điểm học tập, bằng tốt nghiệp, căn cước công dân (bản photo) của Lù A C2; Bảng điểm học tập, bằng tốt nghiệp, căn cước công dân (bản photo) của Thào A T4 thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đinh Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh ngọc thu giữ của Đinh Văn H

Kết quả giám định

  • - Ngày 29/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P Quyết định trưng cầu giám định số 381/QĐ-CQCSĐT-ĐTTH. Trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh S, giám định: Chữ viết trên các mẫu cần giám dịnh ký hiệu A 1, A2, A3, A5, A6, A7, A8, A9, A10, A ll, A12, A13 với chữ viết của Đinh Văn H trên mẫu so sánh ký hiệu M có phải do cùng một người viết ra hay không?; Chữ ký mang tên Đinh Văn H dưới mục “Người vay ” trên mẫu giám định ký hiệu Al, A2, A3, A5, A6, A7, A8, A9, A10, All, A12, A13 với chữ ký của Đinh Văn H trên mẫu so sánh ký hiệu M có phải do cùng một người ký ra hay không?; Chữ ký mang tên Đinh Văn H dưới mục “BÊN VAY” trên mẫu giám định ký hiệu A4, A14, A 15 với chữ ký của Đinh Văn H trên mẫu so sánh ký hiệu M1 có phải do cùng một người ký ra hay không?
  • Bản Kết luận giám định số 1207/KL-KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận: 1. Chữ viết trên các mẫu cần giám định ký hiệu Al, A2, A3, A5, A6, A7, A8, A9, A10, A11, A12, A13 so với chữ viết của Đinh Văn H trên mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một người viết ra; 2. Chữ ký mang tên Đinh Văn H dưới mục “Người vay” trên các mẫu cần giám định ký hiệu Al, A2, A3, A5, A6, A7, A8, A9, A10, A11, A12, A13 so với chữ ký của Đinh Văn H trên mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một người ký ra; 3. Chữ ký mang tên Đinh Văn H dưới mục “BÊN VAY” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A4, A14, A15 so với chữ ký của Đinh Văn H trên mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một người ký ra.
  • - Ngày 04/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S Quyết định trưng cầu giám định số 1060/QĐ-VPCQCSĐT. Trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh S, giám định: Chữ ký, chữ viết trên mẫu cần giám định ký hiệu Al so với với chữ ký, chữ viết của Đinh Văn H trên mẫu so sánh ký hiệu M1 có phải do cùng một người ký, viết ra không?; Chữ viết có nội dung “Đinh Văn H”, “Tân Phong - P - Sơn La” tại dòng 6, 7 từ trên xuống và chữ ký, chữ viết dưới mục “Nhận tiền” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký, chữ viết của Đinh Văn H trên mẫu so sánh ký hiệu M1 có phải do cùng một người ký, viết ra không?
  • Bản Kết luận giám định số 1822/KL-KTHS ngày 11/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận: 1. Chữ ký, chữ viết trên mẫu cần giám định ký hiệu Al so với chữ ký, chữ viết của Đinh Văn H trên mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một người ký, viết ra; 2. Chữ viết có nội dung “Đinh Văn H”, “Tân Phong - P - Sơn La” tại dòng 6, 7 từ trên xuống và chữ ký, chữ viết dưới mục “Nhận tiền” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký, chữ viết của Đinh Văn H trên mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một người ký, viết ra.

Về trách nhiệm dân sự: Đinh Văn H đã trả cho bị hại Nguyễn Thị H2 150.000.000 đồng, trả cho Mùa A T3 số tiền 1.000.000 đồng. Huế có nghĩa vụ trả lại tổng số tiền 2.001.300.000 đồng cho 15 bị hại còn lại.

Tại cáo trạng số: 50/CT-VKS-P3 ngày 18/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Đinh Văn H về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS.

* Tranh tụng tại phiên tòa,

- Bị cáo Đinh Văn H nhất trí với cáo trạng đã truy tố và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu, không khai báo gì thêm.

- Ý kiến của các bị hại có mặt tại phiên tòa: các bị hại đều xác nhận số tiền bị cáo đã chiếm đoạt như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa. Các bị hại yêu cầu bị cáo có trách nhiệm trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt. Về mức hình phạt đối với bị cáo đề nghị xử lý theo quy định.

- Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị H4: Chị là chị gái của bị cáo Đinh Văn H, số tiền 150.000.000 đồng trả cho chị Nguyễn Thị H2 là bị cáo tác động nhờ chị trả lại cho bị hại thay bị cáo, số tiền này là của chị, chị không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả.

- Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lò Thị H5: Chị là vợ của bị hại Lò Văn Đ, số tiền mà chồng chị đã chuyển cho bị cáo để xin việc cho chị là 220.000.000 đồng. Số tiền này là tài sản chung của vợ chồng chị. Sau khi chuyển tiền chị không được tuyển dụng vào vị trí việc làm như bị cáo hứa hẹn. Chị yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền đã chiếm đoạt.

* Tranh luận tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đinh Văn H và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn H từ 15 năm đến 16 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải hoàn trả toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho các bị hại.

Về vật chứng, án phí: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

- Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đối với bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình trả lại một phần tiền chiếm đoạt cho bị hại, bố đẻ bị cáo là ông Đinh Văn H1 là thương binh hạng bốn và được tặng Huy hiệu 50 năm tuổi đảng là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là 15 năm tù.

Bị cáo, các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận thêm.

Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Có 04 người bị hại là anh Đặng Văn C, chị Bàn Thị N, chị Nguyễn Thị H2, anh Vũ Ngọc T6 có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hạng Thị V1, anh Phàng A D1 có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng anh Giàng Lao X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra những người được triệu tập đã có lời khai nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Văn H:

Trong thời gian từ tháng 12/2021 đến tháng 04/2024, Đinh Văn H đã nhiều lần đưa thông tin gian dối về việc đang công tác tại các cơ quan Nhà nước tỉnh Sơn La, có nhiều mối quan hệ với lãnh đạo sở, ban, ngành, có khả năng xin việc hoặc chuyển công tác theo nguyện vọng, từ đó tạo lòng tin của những người có nhu cầu xin việc làm tại các cơ quan Nhà nước hoặc có nhu cầu chuyển công tác để chiếm đoạt tiền của 16 bị hại với tổng số tiền 2.152.300.000 đồng mục đích để trả nợ và chi tiêu cá nhân.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

  • - Đơn tố cáo của các bị hại về việc bị cáo đã đưa ra các thông tin gian dối và hứa hẹn sẽ xin được việc làm vào các cơ quan Nhà nước để nhận tiền của các bị hại.
  • - Giấy vay tiền, hợp đồng cho vay tiền về việc trao đổi, giao nhận tiền giữa bị cáo và các bị hại.
  • - Kết luận giám định số 1207/KL-KTHS ngày 05/6/2024; Kết luận giám định số 1822/KL-KTHS ngày 11/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận về chữ viết, chữ ký của Đinh Văn H trên các tài liệu thu thập được là chữ ký, chữ viết của bị cáo.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Từ các căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đinh Văn H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Đinh Văn H đã chiếm đoạt tổng số tiền 2.152.300.000 đồng (Hai tỷ một trăm năm mươi hai triệu ba trăm nghìn đồng) của 16 bị hại, vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Chiếm đoạt số tiền có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

[4] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của các công dân khác. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi phạm tội nhưng vì để có tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân mà cố tình phạm tội.

[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tiền của 16 bị hại, trong đó số tiền chiếm đoạt các lần đều trên 2.000.000 đồng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tác động gia đình trả lại một phần tiền chiếm đoạt cho bị hại; bố đẻ bị cáo là ông Đinh Văn H1 là thương binh hạng bốn và được tặng Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung - phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự, xét thấy bị cáo không có tài sản, không có khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự

Căn cứ kết quả điều tra, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có đủ cơ sở để xác định: Bị cáo đã chiếm đoạt của 16 bị hại, với tổng số tiền 2.152.300.000 đồng. Quá trình điều tra bị cáo đã trả cho bị hại anh Mùa A T3 số tiền 1.000.000 đồng; tác động gia đình trả cho bị hại chị Nguyễn Thị H2 số tiền 150.000.000 đồng.

Người bị hại yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt. Xét yêu cầu của người bị hại là có căn cứ, nên buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại tổng số tiền là 2.001.300.000 đồng, cụ thể:

Bồi thường cho anh Đặng Văn C, chị Bàn Thị N 150.000.000 đồng; anh Lò Văn T1 53.000.000 đồng; chị Tếnh Thị C1 80.000.000 đồng; anh Lù Văn T2 140.000.000 đồng; anh P1 A Gàng 100.000.000 đồng; chị Trần Thị L1 100.000.000 đồng; anh Mùa A T3 200.000.000 đồng; anh Thào A T4 166.000.000 đồng; anh Lù A C2 166.000.000 đồng; anh Và A V 100.000.000 đồng; anh Sùng A T5 205.300.000 đồng; anh Sùng A D 160.000.000 đồng; anh Đinh Văn H3 146.000.000 đồng; anh Lò Văn Đ 220.000.000 đồng; anh Vũ Ngọc T6 15.000.000 đồng.

[8] Đối với các đối tượng có liên quan đến vụ án:

Đối với Thào A K (là người giới thiệu Thào A T4, Lù A, Mùa A T3 và Trần Thị L1 cho H2); Phàng A V2 (là người giới thiệu Phàng A cho H2); Giàng A T8 (là người giới thiệu Và A V, Sùng A T5 cho Huế). Quá trình điều tra xác định, K, V2, T8 chỉ được Huế giới thiệu có khả năng xin được việc làm, không biết Huế xin việc thế nào, có mối quan hệ với ai, không được H2 trao đổi bàn bạc trong quá trình gặp và nhận tiền của các bị hại, không được hưởng lợi ích vật chất gì. Do đó, không có căn cứ xác định K, V2, T8 đồng phạm với Huế, không xem xét xử lý.

Đối với Đặng Văn H6 (là người giới thiệu Đặng Văn C, Bàn Thị N cho H2): Kết quả xác minh tại bản Bương Pa, xã K, huyện P: H6 không có mặt tại địa phương từ tháng 11/2024 đến nay. Gia đình cho biết không liên lạc được với H6. Lời khai của H2, C, N phù hợp về nội dung H6 chỉ giới thiệu N cho H2, không đưa ra thông tin hoặc thỏa thuận, bàn bạc, hưởng lợi ích qua việc nhận tiền của H2 với C, N. Do đó, không có căn cứ xác định H6 đồng phạm với Huế, buộc Huế chịu trách nhiệm với toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt của C, N.

[9] Về vật chứng: Đối với 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh và VIVO màu xanh ngọc, thu giữ của bị cáo Đinh Văn H, xét đây là phương tiện để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 bộ hồ sơ chuyển công tác của Vũ Ngọc T6, 01 bộ hồ sơ viên chức của Lò Văn Đ; 03 bộ hồ sơ viên chức của Trần Thị L1; 01 bộ hồ sơ của Lò Văn T1; 03 bộ hồ sơ không đề thông tin; Bảng điểm, bằng tốt nghiệp, căn cước công dân (bản photo) của Lù A; Bảng điểm, bằng tốt nghiệp, căn cước công dân (bản photo) của Thào A T4 thu giữ khi khám xét nhà của bị cáo. Tại phiên tòa các bị hại xác nhận là các giấy tờ nộp cho bị cáo để xin việc, xin chuyển công tác, các giấy tờ đều là bản photo, không phải bản gốc nên không đề nghị trả lại, xét thấy ý kiến của các bị hại là tự nguyện, là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 bộ hồ sơ của Phàng A, tại phiên tòa bị hại Phàng A đề nghị được trả lại do có giấy tờ gốc nên trả lại cho anh G.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đinh Văn H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Xử phạt bị cáo Đinh Văn H: 15 (mười lăm) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/4/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Đinh Văn H có trách nhiệm trả lại số tiền đã chiếm đoạt của các bị hại là 2.001.300.000 đồng (Hai tỷ không trăm linh một triệu ba trăm nghìn đồng) cho 15 bị hại, cụ thể:

  • - Trả cho anh Đặng Văn C, chị Bàn Thị N 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng);
  • - Trả cho anh Lò Văn T1: 53.000.000 đồng (Năm mươi ba triệu đồng);
  • - Trả cho chị Tếnh Thị C1: 80.000.000 đồng (T9 mươi triệu đồng);
  • - Trả cho anh Lù Văn T2: 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng);
  • - Trả cho anh P1 A G: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng);
  • - Trả cho chị Trần Thị L1: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng);
  • - Trả cho anh Mùa A T3: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng);
  • - Trả cho anh Thào A T4: 166.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi sáu triệu đồng);
  • - Trả cho anh L3 A C2: 166.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi sáu triệu đồng);
  • - Trả cho anh Và A V: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng);
  • - Trả cho anh Sùng A T5: 205.300.000 đồng (Hai trăm linh năm triệu ba trăm nghìn đồng);
  • - Trả cho anh Sùng A D: 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng);
  • - Trả cho anh Đinh Văn H3: 146.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi sáu triệu đồng);
  • - Trả cho anh Lò Văn Đ: 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng);
  • - Trả cho anh Vũ Ngọc T6: 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự”.

3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh ngọc thu giữ của Đinh Văn H.
  • - Trả lại cho bị hại Phàng A: 01 (một) bộ hồ sơ.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ hồ sơ chuyển công tác của Vũ Ngọc T6; 01 (một) bộ hồ sơ viên chức của Lò Văn Đ; 03 (ba) bộ hồ sơ viên chức của Trần Thị L1; 01 (một) bộ hồ sơ của Lò Văn T1; Bảng điểm, bằng tốt nghiệp, căn cước công dân (bản photo và 03 (ba) bộ hồ sơ không đề thông tin của Lù A, Thào A T4; 02 (hai) chiếc phong bì niêm phong; 01 (một) hộp bìa carton niêm phong các tài liệu thu giữ tại nơi ở của bị cáo Đinh Văn H.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 10 giờ 20 phút ngày 01/4/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh S và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Đinh Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 72.026.000 đồng (Bảy mươi hai triệu không trăm hai mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trong án hình sự. Tổng cộng hai khoản là 72.226.000 đồng (Bảy mươi hai triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/6/2025).

Các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7ª, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Sơn La;
  • - Cục THADS tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Phòng TT, KT & THA;
  • - Lưu HS-AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Điêu Thị Kim Liên

(đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 94/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Từ tháng 12/2021 đến tháng 04/2024, Đinh Văn H với mục đích chiếm đoạt tài sản, đã đưa ra thông tin gian dối về việc đang công tác tại các cơ quan Nhà nước tỉnh Sơn La, có nhiều mối quan hệ với lãnh đạo sở, ban, ngành, có khả năng xin việc hoặc chuyển công tác theo nguyện vọng, để nhận tiền của các cá nhân có nhu cầu. Qua đó chiếm đoạt của 16 bị hại tổng số tiền 2.152.300.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger