Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BẮC TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10 tháng 3 năm 2025

V/v: Tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM

* Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Phương Lan và bà Nguyễn Thị Thuần
  • - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thùy Trang – Thư ký Tòa án
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên Tòa: Bà Phong Thị Lan– Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 599 /2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 về: “Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Hoàng Hải Y, sinh năm 1990

HKTT: Số 21 ngõ 521/36 đường cổ Nhuế, TDP Viên 3, phường cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Nơi ở: Số 11 Kim Mã Thượng, phường Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

* Bị đơn: Anh Hoàng Thái D, sinh năm 1990

HKTT và nơi ở: Số B ngõ E đường C, TDP V, phường C, quận B, thành phố Hà Nội.

( Chị Y có mặt, anh D có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Hoàng Hải Y trình bày:

- Về tình cảm: Chị Hoàng Hải Y và anh Hoàng Thái D kết hôn trên cơ sở tự nguyện có qua tìm hiểu và được sự đồng ý của hai bên gia đình cho tổ chức cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T ( nay là phường C, quận B, thành phố Hà Nội) vào ngày 25/02/2014.

Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng gia đình nhà chồng tại địa chỉ: Số B ngõ E đường C, TDP V, phường C, quận B, thành phố Hà Nội.

Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh D không quan tâm đến gia đình vợ con và thường đi làm vắng nhà, chị Y đã nhiều lần góp ý nhưng do vợ chồng không có tiếng nói chung, dẫn đến thường xuyên cãi vã nhau, cuộc sống chung rất căng thẳng. Sau nhiều lần nói chuyện và cho nhau cơ hội sửa đổi nhưng không có kết quả, đến tháng 9/2023, cả hai đã quyết định sống ly thân nhau. Khi sống ly thân chị Y mang 02 con về nhà ngoại tại địa chỉ: Số A K, phường C, quận B, thành phố Hà Nội ở, còn anh D vẫn ở nhà cùng bố,mẹ anh cho đến nay.

Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, vợ chồng cũng có nói chuyện, trao đổi với nhau, nhưng anh D vẫn giữ cách sống cũ nên không có khả năng cải thiện tình cảm vợ chồng.

Gia đình nội, ngoại 2 bên đều biết mâu thuẫn của vợ chồng và đã khuyên giải cả hai, nhưng không có kết quả.

Nay chị Y xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có. Vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D để tôi còn ổn định cuộc sống riêng.

*Về con chung: Chị Hoàng Hải Y và anh Hoàng Thái D có 02 con chung là Hoàng Yến N, sinh ngày 16/10/2014 và Hoàng Minh K sinh ngày 05/9/2018. Hiện cả 2 cháu đang ở với chị Y

Trong đơn xin ly hôn gửi Tòa án, chị Y có ghi đồng ý giao con cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng là vì khi làm đơn xin ly hôn, chị Y và anh D có nói chuyện với nhau. Theo anh D thì anh và ông bà nội có nguyện vọng là muốn nuôi cả 02 con chung. Tuy nhiên trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh D có trao đổi lại là hiện nay bố anh đang ốm, ở nhà chỉ có mẹ anh chăm ông, còn anh D vì tính chất công việc thường hay đi làm xa, ít khi về nhà, nên không có điều kiện để chăm lo cho các con, vì vậy giờ ly hôn anh muốn giao cả 02 con chung cho chị Y nuôi, do vậy chị đã có đơn trình bày sửa đổi ý kiến của mình và có nguyện vọng xin được nuôi cả 02 con chung .

-Về yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi các con chung thì chị Y không yêu cầu mà để anh D tự nguyện cấp dưỡng. Việc anh D có ý kiến tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi các con chung là 6.000.000 đồng ( sáu triệu đồng) / tháng/ 2 con ( mỗi con 3.000.000 đồng).

Thời gian cấp dưỡng từ tháng 02/2025, thì chị Y cũng nhất trí không có ý kiến gì. Đề nghị Tòa án ghi nhận việc thỏa thuận này giữa chị và anh D.

-Về tài sản chung và nhà ở chung: Chị Hoàng Hải Y và anh Hoàng Thái D không có tài sản chung và nhà ở chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Quá trình ở cùng với gia đình bố, mẹ chồng, vợ chồng chị Y, anh D không có đóng góp gì, không bỏ tiền ra để cải tạo sửa chữa nhà cửa của ông, bà nên chị Y không có yêu cầu gì

- Về khoản nợ chung: Vợ chồng không cùng vay nợ ai và không cùng cho ai vay nợ, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa: Chị Hoàng Hải Y vẫn giữ nguyên các yêu cầu như đã trình bày và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị được ly hôn anh D để chị còn ổn định cuộc sống riêng.

-Về con chung, tài sản chung và nhà ở chung: Chị Y vẫn giữ quan điểm như đã trình bày ở trong các buổi làm việc tại Tòa. Đề nghị Tòa án ghi nhận việc thỏa thuận về con chung, mức cấp dưỡng và tài sản chung giữa chị và anh D.

Tại bản tự khai và các văn bản gửi Tòa án của bị đơn: Anh Hoàng Thái D trình bày:

Anh Hoàng Thái D đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, giấy báo và thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án đến Tòa giải quyết việc chị Y xin ly hôn với anh. Vì lý do công việc bận anh D không đến Tòa án được, anh D đã nhờ mẹ đẻ của anh là bà Nguyễn Thị V ra Tòa trình bày quan điểm của anh, đồng thời làm văn bản gửi về nhờ mẹ anh mang đến Tòa. Cụ thể:

* Về tình cảm: Anh D xác nhận về quá trình tìm hiểu dẫn tới hôn nhân như chị Hoàng Hải Y trình bày là hoàn toàn đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng gia đình nhà bố mẹ đẻ của anh tại địa chỉ: Số B ngõ E đường C, TDP V, phường C, quận B, thành phố Hà Nội.

Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính chất công việc anh D hay phải đi làm ăn xa, thường xuyên vắng nhà, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, bản thân gia đình, bố mẹ cũng đã can thiệp khuyên giải nhiều lần nhưng không được. Đến đầu năm 2022, vợ chồng bắt đầu sống ly thân. Lúc đầu là vẫn sống chung một nhà nhưng khác phòng. Đến đầu năm 2023, mâu thuẫn của vợ chồng trở nên trầm trọng, chị Y đã mang 02 con về ngoại ở và vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi từ đó cho đến nay.

Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, do công việc bận rộn nên vợ chồng không sắp xếp được thời gian gặp nhau nói chuyện, thỉnh thoảng chị Y có mang các con về chới với ông bà nội một vài ngày.

Nay cô Y xin ly hôn, anh D cũng nhất trí ly hôn vì anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có.

*Về con chung: Anh D xác nhận vợ chồng có 02 con chung là: Hoàng Yến N, sinh ngày 16/10/2014 và Hoàng Minh K sinh ngày 05/9/2018. Hiện cả 2 cháu đang ở với chị Y.

Khi ly hôn, anh D đồng ý giao cả 02 con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, vì hiện tại anh hay đi công tác xa nhà, không đảm bảo thời gian chăm lo cho con cái bằng chị Y. Anh D tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi các con chung là 6.000.000 đồng ( Sáu triệu đồng) / tháng/ 2 con (mỗi con 3.000.000 đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 02/2025.

*Về tài sản chung và nhà ở chung: Anh D xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và nhà ở chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Về vay nợ: Vợ chồng không cùng vay nợ ai và không cùng cho ai vay nợ.

- Vì lý do bận công việc, anh D đề nghị Tòa án giải quyết theo luật định và cho anh vắng mặt tại các buổi làm việc cũng như phiên Tòa xét xử vụ án.

* Tại phiên Tòa: Anh Hoàng Thái D có đơn xin vắng mặt tại phiên Tòa và giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa và những người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

* Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm, thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ Luật Tố Tụng Dân sự.

  • - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định.
  • - Về thời hạn xét xử: Vụ án giải quyết trong thời hạn theo luật định

* Ý kiến của đại diện viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:

Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 59; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và khoản 5a Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hoàng Hải Y; Chị Hoàng Hải Y được ly hôn anh Hoàng Thái D .
  • - Về con chung: Chị Hoàng Hải Y và anh Hoàng Thái D có 02 con chung là Hoàng Yến N, sinh ngày 16/10/2014 và Hoàng Minh K sinh ngày 05/9/2018.
  • Giao cả 02 con chung cho chị Hoàng Hải Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Hoàng Thái D có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi các con chung là 6.000.000 đồng ( sáu triệu đồng) / tháng/ 2 con (mỗi con 3.000.000 đồng), kể từ tháng 02/2025 cho đến khi các con chung thành niên đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật.
  • Anh Hoàng Thái D có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
  • -Về tài sản chung, nhà ở chung và khoản nợ chung: Hai bên không có tài sản chung, nhà ở chung và khoản nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét
  • - Về án phí LHST: Chị Hoàng Hải Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
  • - Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

- Tòa án thụ lý vụ án: “Tranh chấp xin ly hôn” giữa nguyên đơn: Chị Hoàng Hải Y đối với bị đơn: Anh Hoàng Thái D là đúng theo thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Anh Hoàng Thái D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Hoàng Thái D

* Về nội dung:

[1]. Chị Hoàng Hải Y và anh Hoàng Thái D kết hôn trên cơ sở tự nguyện có qua tìm hiểu và được sự đồng ý của hai bên gia đình cho tổ chức cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T ( nay là phường C, quận B, thành phố Hà Nội) vào ngày 25/02/2014. Đây là hôn nhân hợp pháp.

[2]. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng gia đình nhà chồng tại địa chỉ: Số B ngõ E đường C, TDP V, phường C, quận B, thành phố Hà Nội.

[3]. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy: Cả chị Y và anh D đều xác nhận mâu thuẫn của vợ chồng phát sinh từ khoảng cuối năm 2018, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh D không quan tâm đến gia đình vợ con và thường đi làm vắng nhà, chị Y đã nhiều lần góp ý nhưng do vợ chồng không có tiếng nói chung, dẫn đến thường xuyên cãi vã nhau, cuộc sống chung rất căng thẳng. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2023 cho đến nay. Khi sống ly thân mỗi người ở một nơi, không ai quan tâm đến nhau. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân nhau cả hai không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn, cải thiện tình cảm vợ chồng. Đến nay cả hai đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hoàng Hải Y đối với anh Hoàng Thái D. Do anh Hoàng Thái D cũng nhất trí thuận tình ly hôn, nên Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Hải Y và anh Hoàng Thái D.

[4] Về con chung: Chị Hoàng Hải Y và anh Hoàng Thái D có 02 con chung là Hoàng Yến N, sinh ngày 16/10/2014 và Hoàng Minh K sinh ngày 05/9/2018. Hiện cả 2 cháu đang ở với chị Y .

[4.1] Xét thấy: Cháu Hoàng Yến N đã đủ tuổi hỏi ý kiến, cháu có nguyện vọng ở với chị Y. Chị Hoàng Hải Y có nguyện vọng được nuôi cả 02 con chung. Anh Hoàng Thái D cũng nhất trí giao cả 02 con cho chị Y trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này của các bên đương sự. Giao các con chung là Hoàng Yến N và Hoàng Minh K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

[4.2] Về yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung:

Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Hoàng Yến Y không yêu cầu anh Hoàng Thái D cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Việc anh D tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi cả 02 con chung là 6.000.000 đồng ( Sáu triệu đồng) / tháng/ 2 con. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 02/2025, thì chị Y cũng nhất trí, do vậy Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này của các đương sự. Anh Hoàng Thái D có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc các con chung theo quy định của pháp luật.

[5]. Về tài sản chung, nhà ở chung và khoản nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nhà ở chung và khoản nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí LHST: Chị Hoàng Hải Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

[7]. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đối với việc giải quyết vụ án phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 59; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hoàng Hải Y

Chị Hoàng Hải Y được ly hôn anh Hoàng Thái D

2. Về con chung: Chị Hoàng Hải Y và anh Hoàng Thái D có 02 con chung là Hoàng Yến N, sinh ngày 16/10/2014 và Hoàng Minh K sinh ngày 05/9/2018.

Giao cháu Hoàng Y N và Hoàng Minh K cho chị Hoàng Hải Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Hoàng Thái D có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi các con chung là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) / tháng/ 2 con ( mỗi con 3.000.000 đồng), kể từ tháng 02/2025 cho đến khi các con chung thành niên đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật.

Anh Hoàng Thái D có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

3. Về tài sản chung, nhà ở chung và khoản nợ chung: Hai bên không có tài sản chung, nhà ở chung và khoản nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét

4. Về án phí LHST: Chị Hoàng Hải Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng( Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0075456 ngày 12/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Hải Y có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Hoàng Thái D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Viện Kiểm Sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm;
  • - Chi cục THADS quận Bắc Từ Liêm;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội;
  • - UBND phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 94/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger