|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – AN GIANG Bản án số: 94/2025/DS-ST Ngày: 24-12 - 2025 “V/v tranh chấp chia di sản thừa kế" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng,
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thanh Hải và ông Nguyễn Lâm Tới;
- Thư ký phiên toà: Ông Châu Kim Sol, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 14, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Phương Nam, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân khu vực 14 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 98/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024, về việc: “Tranh chấp chia di sản thừa kế”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 414/2025/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2025, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 105/2025/TB-TA ngày 20 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 490/2025/QĐST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1987; địa chỉ nơi cư trú: Tổ H, khóm N, phường T, tỉnh An Giang; có ông Lôi Phương H1, sinh năm 2000; địa chỉ: tổ A, khóm G, phường C, tỉnh An Giang làm đại diện theo Hợp đồng ủy quyền ngày 24/11/2025. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Vũ H2, sinh năm 1991; địa chỉ nơi cư trú: Tổ G, khóm T, phường T, tỉnh An Giang; (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ G, khóm T, phường P, tỉnh An Giang; nơi sinh sống: số F đường T, quận T, thành phố Đ, Đài Loan; có ông Nguyễn Thanh H làm đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản ủy quyền ngày 18/4/2024); (có mặt)
+ Thừa kế của bà Nguyễn Thị Kim N (chết): Anh Nguyễn Thành T, sinh năm: 2004; địa chỉ: tổ G, khóm T, phường T, tỉnh An Giang; sđt: 0332.910.xxx
+ Ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1974; địa chỉ: tổ G, khóm T, phường T, tỉnh An Giang; sđt: 0373.418.xxx.
+ Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1985; địa chỉ: tổ G, khóm T, phường T, tỉnh An Giang; sđt: 0385.890.xxx. (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền cho ông Nguyễn Thành T, anh Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Kim L: Ông Nguyễn Vũ H2 sinh năm 1991; địa chỉ nơi cư trú: tổ G, khóm T, phường T, tỉnh An Giang theo Hợp đồng ủy quyền ngày 19/6/2024. (có mặt)
+ Ông Nguyễn Hoàng P1, sinh năm: 1978; địa chỉ: Tổ H, khóm N, phường T, tỉnh An Giang; SĐT: 0889.320.xxx; (có mặt)
+ Bà Nguyễn Thị Huỳnh M1, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ G, khóm T, phường T, tỉnh An Giang. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh H (có ông Lôi Phương H1 làm đại diện theo ủy quyền) trình bày: Cha mẹ ông là cụ Nguyễn Văn T1 sinh năm 1954 (chết năm 2023 và cụ Phạm Thị Kim A, sinh năm 1952 (chết năm 2021); cụ T1 và cụ A có 07 người con, gồm: Nguyễn Thanh H, Nguyễn Vũ H2, Nguyễn Thị Kim P, Nguyễn Thị Kim N (chết, người thừa kế có con Nguyễn Thành T), Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Kim L và Nguyễn Hoàng P1; Cụ Anh khi còn sống được thừa hưởng tài sản từ mẹ gồm:
- 01 căn nhà cấp 4 có kết cấu nóc lợp Tol, vách tường, nền bê tông gạch men kiên cố, các công trình kiến trúc phụ và phần đất thổ cư diện tích 173,5m², thửa đất số 137, tờ bản đồ số 30, loại đất ODT, tọa lạc tại khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang (Nay khóm T, phường T, tỉnh An Giang); cụ T1 và cụ A đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0712Ka ngày 12/6/2006.
- Phần đất cây lâu năm diện tích 4.568m², thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 02 (Hệ thống BĐ-22), do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02278.QSDĐ/Ek cho bà Phạm Thị Kim A (diện tích đo đạc thực tế 6.508,4m², thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 02 (Hệ thống BĐ VN-2000) tọa lạc tại khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (nay khóm N, phường T, tỉnh An Giang) và các cây trồng lâu năm trên đất.
Cụ Phạm Thị Kim A và cụ Nguyễn Văn T1 chết không để lại di chúc, nên ông Nguyễn Vũ H2 chiếm giữ tài sản của cụ A và cụ T1 không chia cho các chị em khác, sau nhiều lần ông H yêu cầu chia nhưng ông H2 không đồng ý.
Nay, ông Nguyễn Thanh H yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật thành 07 kỷ phần bằng nhau đối với tài sản trên như sau:
- Đối với phần đất diện tích là 6.508,4m², thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 02 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02278.QSDĐ/ek cấp cho cụ Phạm Thị Kim A, ông yêu cầu nhận bằng hiện vật đối với phần đất trồng cây lâu năm và nhận phần diện tích đất 930m² theo thửa Tạm 2 có nhà ông đang cất và ông đồng ý hoàn trả giá trị theo giá thỏa thuận là 300.000 đồng/m2 x 0,229m² = 100.000 đồng cho người nhận phần diện tích còn thiếu tại thửa đất tích đất cuối cùng là 928,4m² tại thửa Tạm 7; Đối với cây trồng trên đất của người nào được chia, thì người đó nhận không yêu cầu xem xét giải quyết;
- Đối với đất thổ cư diện tích 173,5m² và nhà cấp 4, các công trình kiến trúc khác đồng ý để lại cho ông Nguyễn Vũ H2 nhận hiện vật, ông H yêu cầu nhận giá trị theo phần ông được hưởng theo giá đã thỏa thuận là là 1/7 trên tổng giá trị tài sản 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng, tương đương phần ông được nhận 285.714.286 đồng.
Đồng ý để cho các đồng thừa kế khác như ông H2, bà P, anh T, ông M, bà L và ông P1 được nhận 1/7 di sản.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Vũ H2 trình bày: Cha mẹ ông H2 là cụ Nguyễn Văn T1 sinh năm 1954 (chết năm 2023) và cụ Phạm Thị Kim A, sinh năm 1952 (chết năm 2021); cụ T1 và cụ A có 07 người con, gồm: Nguyễn Thanh H, Nguyễn Vũ H2, Nguyễn Thị Kim P, Nguyễn Thị Kim N (chết, người thừa kế có con Nguyễn Thành T), Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Kim L và Nguyễn Hoàng P1; Cụ A và cụ T1 khi còn sống được thừa hưởng tài sản từ mẹ gồm:
- 01 căn nhà cấp 4 có kết cấu nóc lợp Tol, vách tường, nền bê tông gạch men kiên cố, các công trình kiến trúc phụ và phần đất thổ cư diện tích 173,5m², thửa đất số 137, tờ bản đồ số 30, loại đất ODT, tọa lạc tại khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang (Nay khóm T, phường T, tỉnh An Giang); cụ T1 và cụ A đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0712Ka ngày 12/6/2006.
- Phần đất cây lâu năm diện tích 4.568m², thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 02 (Hệ thống BĐ-22), do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02278.QSDĐ/Ek cho cụ Phạm Thị Kim A (diện tích đo đạc thực tế 6.508,4m², thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 02 (Hệ thống BĐ VN-2000) tọa lạc tại khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (nay khóm N, phường T, tỉnh An Giang) và các cây trồng lâu năm trên đất.
Cụ Phạm Thị Kim A và cụ Nguyễn Văn T1 chết không để lại di chúc, nên ông Nguyễn Vũ H2 quản lý sử dụng tài sản cho đến nay;
Ông đồng ý chia điều làm 07 phần thừa kế và nhận 1/7 đối với phần đất cây lâu năm diện tích là 6.508,4m2, thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 02 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02278.QSDĐ/ek, ông yêu cầu nhận bằng hiện vật với diện tích đất 930m² theo thửa Tạm 5 có mồ mã ông bà và ông đồng ý hoàn trả giá trị theo giá thỏa thuận là 300.000 đồng/m² x 0,229m² = 100.000 đồng cho người nhận phần diện tích còn thiếu tại thửa đất diện tích 928,4m² tại thửa Tạm 7; Đối với cây trồng trên đất của người nào được chia, thì người đó nhận không yêu cầu xem xét giải quyết.
- Đối phần đất thổ cư diện tích 173,5m², thửa đất số 137, tờ bản đồ số 30, loại đất ODT có kết cấu nóc lợp Tol, vách tường, nền bê tông gạch men kiên cố, các công trình kiến trúc phụ, tọa lạc tại khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang (Nay khóm T, phường T, tỉnh An Giang); Cụ T1 và cụ A đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0712Ka ngày 12/6/2006 do ông quản lý sử dụng, do ông sinh sống với hai cụ T1 và A từ khi còn nhỏ đến lúc hai cụ chết, ông yêu cầu nhận toàn bộ bằng hiện vật và không đồng ý chia đều phần đất này, vì đây là phần tài sản dành vào việc thờ cúng ông bà.
Đồng ý để cho các đồng thừa kế khác nhận kỷ phần thừa kế đối với di sản của cụ Nguyễn Văn T1 và cụ Phạm Thị Kim A để lại phần đất diện tích 6.508,4m2 thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 02 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02278.QSDĐ/ek. Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về công sức đóng góp, giữ gìn toàn bộ di sản.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cháu Nguyễn Thành T, ông Nguyễn Văn M (cháu T và ông M có anh Nguyễn Vũ H2 làm đại diện), bà Nguyễn Thị Kim L và ông Nguyễn Hoàng P1 trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa đồng trình bày: Các ông bà đồng ý nhận di sản là hiện vật phần đất của cha mẹ chết để lại và hưởng bằng hiện vật mỗi kỷ phần là 1/7 đối với phần đất diện tích là 6.508,4m², thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 02 (Hệ thống BĐ VN-2000) tọa lạc tại khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (nay khóm N, phường T, tỉnh An Giang) và các cây trồng lâu năm trên đất, đồng ý để cho ông Nguyễn Vũ H2 nhận phần diện tích có mồ mã để quản lý trông nom.
Đối với phần đất thổ cư diện tích 173,5m², thửa đất số 137, tờ bản đồ số 30, loại đất ODT, tọa lạc tại khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang (Nay khóm T, phường T, tỉnh An Giang); cụ T1 và cụ A đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0712Ka ngày 12/6/2006, hiện do ông Nguyễn Vũ H2 đang sinh sống, các ông bà đồng ý để cho ông Nguyễn Vũ H2 được hưởng kỷ phần thừa kế của các ông bà, để ông Nguyễn Vũ H2 thờ cúng ông bà.
Bà Nguyễn Thị Kim P trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa (có ông Nguyễn Thanh H làm đại diện theo ủy quyền) trình bày: Yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật thành 07 kỷ phần bằng nhau như sau:
- Đối với phần đất diện tích là 6.508,4m², thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 02 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02278.QSDĐ/ek cấp cho cụ Phạm Thị Kim A, yêu cầu nhận bằng hiện vật đối với phần đất trồng cây lâu năm và nhận phần diện tích đất 930m² theo thửa Tạm 1 và đồng ý hoàn trả giá trị theo giá thỏa thuận là 300.000 đồng/m2 x 0,229m² = 100.000 đồng cho người nhận phần diện tích còn thiếu tại thửa đất diện tích 928,4m² tại thửa Tạm 7; Đối với cây trồng trên đất của người nào được chia, thì người đó nhận không yêu cầu xem xét giải quyết;
- Đối với đất thổ cư diện tích 173,5m² và nhà cấp 4, các công trình kiến trúc khác đồng ý để cho ông Nguyễn Vũ H2 nhận hiện vật, bà yêu cầu nhận giá trị theo phần bà được hưởng theo giá đã thỏa thuận là 1/7 trên tổng giá trị tài sản 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng, là 285.714.286 đồng.
Đồng ý để cho các đồng thừa kế khác được nhận kỷ phần của mình.
Bà Nguyễn Thị Huỳnh M1 trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Vũ H2, bà chung sống với ông Nguyễn Vũ H2 từ khi cụ Nguyễn Văn T1 và cụ Phạm Thị Kim A còn sống, trong quá trình chung sống, bà và ông H2 có cất mái tiền chế và mái che nhà bếp để sinh hoạt, tuy nhiên bà không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đối với những công sức đóng góp, giữ gìn tài sản của bà.
Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự, nhưng không thành.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án như sau:
- Về tố tụng:
+ Thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, tổ chức hòa giải, thu thập chứng cứ đúng quy định. Tuy nhiên, còn để quá thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Hội đồng xét xử, Thư ký: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án, Thư ký phiên tòa ghi biên bản phiên tòa đúng chức năng, nhiệm vụ của mình.
+ Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận diện tích đất trồng cây lâu năm đo đạc thực tế là 6.508,4m², thửa đất số 93, tờ bản đồ số 02 theo Giấy CNQSDĐ số 0227.8QSDĐ/ek do UBND huyện T cấp ngày 19/02/2001 cho bà Phạm Thị Kim A và diện tích đất ở 173,5 m², thửa đất số 137, tờ bản đồ số 30 theo Giấy CNQSDĐ số H0712Ka do UBND huyện T cấp ngày 12/6/2006 cụ ông Nguyễn Văn T1 và cụ Phạm Thị Kim A và căn nhà cấp 4 trên diện tích đất 173,5 m² tại khóm T, phường T, tỉnh An Giang là di sản thừa kế do cha, mẹ ruột các đương sự là cụ Nguyễn Văn T1 và cụ Phạm Thị Kim A chết để lại.
Cụ T1 và cụ A có 07 người con, gồm: Nguyễn Văn M, sinh năm 1974; Nguyễn Hoàng P1, sinh năm 1978; Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1981; Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1985; Nguyễn Thanh H, sinh năm 1987; Nguyễn Vũ H2, sinh năm 1991 và bà Nguyễn Thị Kim N (chết) có người thừa kế thế vị là anh Nguyễn Thành T (con ruột). Cha mẹ ruột cụ T1 là cụ Nguyễn Văn T2 và cụ Lê Thị Đ và cha mẹ cụ A là cụ Phạm Văn H3, cụ Phạm Thị H4 đều đã chết. Sinh thời cụ T1, cụ A không có con nuôi, căn cứ Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất còn sống của cụ T1, cụ A được xác định là các ông, bà Nguyễn Văn M; Nguyễn Hoàng P1; Nguyễn Thị Kim P; Nguyễn Thị Kim L; Nguyễn Thanh H; Nguyễn Vũ H2 cùng người thừa kế thế vị là anh Nguyễn Thành T. Cụ T1 chết ngày 24/12/2023, cụ A chết ngày 18/02/2021, nên thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T1 là ngày 24/12/2023, cụ A là ngày 18/12/2021.
Cụ T1, cụ A chết không để lại di chúc, căn cứ Điều 651 Bộ luật dân sự, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Do đó, việc nguyên đơn ông Nguyễn Thanh H yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T1 và cụ A chết để lại là diện tích đất trồng cây lâu năm 6.508,4 m² thửa đất số 93 và diện tích đất ở 173,5 m², thửa đất số 137 và căn nhà cấp 4 trên diện tích đất 173,5 m² thành 07 kỷ phần cho các hàng thừa kế là các ông, bà Nguyễn Văn M; Nguyễn Hoàng P1; Nguyễn Thị Kim P; Nguyễn Thị Kim L; Nguyễn Thanh H; Nguyễn Vũ H2 và anh Nguyễn Thành T là có cơ sở chấp nhận.
Theo đó thì di sản thừa kế của cụ T1 và cụ A chết để lại là (1/7) diện tích đất trồng cây lâu năm 6.508,4 m²/7 = 930 m² theo kết quả đo đạc tại bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 20/3/2025 của Công ty TNHH Đ1.
Theo kết quả đo đạc, ông H yêu cầu được nhận thửa Tạm 2, ông P1 yêu cầu được nhận thửa Tạm 3 do ông H và ông P1 đều có cất nhà và cư trú trên đất. Ông H2 yêu cầu được nhận thửa Tạm 5 do có mồ mã cha, mẹ là cụ T1 và cụ A để tiện việc phụng thờ.
Tại phiên tòa, ông H2 đại diện cho ông Nguyễn Văn M yêu cầu cho ông M được nhận phần đất trồng cây lâu năm tại thửa Tạm 4 và đại diện cho anh Nguyễn Thành T yêu cầu cho anh T được nhận phần đất trồng cây lâu năm tại thửa Tạm 7, đối với phần đất thổ cư và nhà ở không yêu cầu ông H2 hoàn lại giá trị. Người đại diện cho bà Nguyễn Thị Kim P là ông H yêu cầu cho bà P nhận thửa tạm 01. Bà Nguyễn Thị Kim L đồng ý nhận thửa Tạm 6.
Đối với diện tích đất ở 173,5 m², thửa đất số 137 cùng căn nhà cấp 4 trên đất, ông H2 yêu cầu được nhận hiện vật do ông cùng gia đình sinh sống trên đất và cư trú trong nhà. Các đồng thừa kế khác cũng đồng ý giao nhà và đất cho ông H2 quản lý, sử dụng và chỉ có ông H, bà P yêu cầu được nhận lại giá trị nhà đất theo giá được các bên thỏa thuận là 2.000.000.000 đồng/7 = 285.714.286 đồng/người, còn những người khác không yêu cầu ông H2 hoàn lại giá trị nhà đất.
Việc ông H, ông P1, ông H2 yêu cầu được nhận diện tích đất trồng cây lâu năm tại các thửa Tạm 2, T, Tạm 5, ông M yêu cầu nhận thửa Tạm 4, bà P yêu cầu nhận thửa Tạm 01, bà L yêu cầu nhận thửa Tạm 6, anh T yêu cầu nhận thửa Tạm 7 và việc ông H2 yêu cầu nhận phần di sản là diện tích đất ở 173,5 m², thửa đất số 137 cùng căn nhà cấp 4 trên đất là yêu cầu chính đáng do các đương sự đều có quá trình sử dụng đất lâu dài và có cất nhà ở trên đất. Ngoài ra, việc yêu cầu của các đương sự là phù hợp với thuần phong mỹ tục, truyền thống, đạo đức xã hội về thờ cúng ông, bà tổ tiên, nên cần được xem xét chấp nhận.
Bà P được nhận thửa Tạm 1, nhưng bà P là người gốc Việt Nam định cư ở nước, quá trình giải quyết vụ án bà P và người đại diện là ông H không cung cấp tài liệu chứng minh bà P có quốc tịch Việt Nam, nên căn cứ Điều 4, Điều 28 Luật đất đai năm 2024 bà P không được QSDĐ nông nghiệp tại Việt Nam, nên cần xem xét giao kỷ phần thừa kế là QSDĐ tại thửa Tạm 1 cho ông H là người đại diện cho P được tạm đứng tên quyền sử dụng đất thay cho bà P, khi bà P có yêu cầu thì các bên tự thỏa thuận giải quyết.
Do anh T nhận diện tích đất trồng cây lâu năm tại thửa Tạm 7 thấp hơn kỷ phần các đồng thừa kế khác được nhận là 10,0 m², nên các đồng thừa kế mỗi người có nghĩa vụ hoàn lại giá trị đất cho anh T cụ thể như sau: 930 m² - 928,4 m² = 1,6 m² x 300.000 = 480/6 = 80.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, các đương sự thống nhất hoàn lại giá trị là 100.000 đồng, nên lấy giá trị theo sự thỏa thuận của đương sự để giải quyết vụ án.
Ông Nguyễn Vũ H2 nhận toàn bộ di sản là diện tích đất ở 173,5 m² cùng căn nhà cấp 4 trên đất, nên ông H2 có nghĩa vụ hoàn lại giá trị nhà và đất cho các đồng thừa kế là ông H2, bà P số tiền 285.714.286 đồng/người (2.000.000.000 đồng/7người). Đối với ông P1, ông M, bà L và em T không yêu cầu ông H2 phải hoàn lại giá trị nên ông H2 không phải hoàn lại giá trị cho ông P1, ông M, bà L và em T.
Đối với các cây trồng và vật kiến trúc trên đất thuộc quyền sử dụng đất của ai người đó được nhận.
Quá trình sinh sống ông H2 và bà M1 có công sức giữ gìn, tôn tạo phần di sản diện tích đất ở 173,5 m² cùng căn nhà cấp 4 trên đất và có công nuôi dưỡng chăm sóc cụ T1, cụ A, nhưng ông H2, bà M1 không yêu cầu khấu trừ phần công sức này, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét trên cơ sở phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 610, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 4, 28, 44, 137, 141 Luật đất đai năm 2024, tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Thanh H. Chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn T1 và cụ Phạm Thị Kim A theo pháp luật, việc phân chia di sản cụ thể như sau:
+ Bà Nguyễn Thị Kim P được quyền sử dụng diện tích đất 930 m² tại thửa Tạm 1, tạm giao cho ông Nguyễn Thanh H đứng tên trên giấy CNQSDĐ khi bà Nguyễn Thị Kim P có yêu cầu thì bà Nguyễn Thị Kim P với ông Nguyễn Thanh H tự thỏa thuận giải quyết đối với phần di sản được tạm giao cho ông Nguyễn Thanh H. Trường hợp không thỏa thuận được thì bà Nguyễn Thị Kim P có quyền khởi kiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
+ Ông Nguyễn Thanh H được quyền sử dụng diện tích đất 930 m² tại thửa Tạm 2; ông Nguyễn Hoàng P1 được quyền sử dụng diện tích đất 930 m² tại thửa Tạm 3; ông Nguyễn Văn M được quyền sử dụng diện tích đất 930 m² tại thửa Tạm 4; ông Nguyễn Vũ H2 được quyền sử dụng diện tích đất 930 m² tại thửa Tạm 5 và diện tích đất ở 173,5 m², thửa đất số 137 cùng căn nhà cấp 4 trên đất; bà Nguyễn Thị Kim L được quyền sử dụng diện tích đất 930 m² tại thửa Tạm 6; anh Nguyễn Thành T được quyền sử dụng diện tích đất 930 m² tại thửa Tạm 7.
(Các điểm số được xác định theo bản trích đo hiện trạng khu đất 29/11/2024 và ngày 20/3/2025 của Công ty TNHH Đ1).
+ Ông Nguyễn Văn M; ông Nguyễn Thanh H; ông Nguyễn Hoàng P1; bà Nguyễn Thị Kim L; ông Nguyễn Vũ H2 và bà Nguyễn Thị Kim P có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị đất trồng cây lâu năm cho anh Nguyễn Thành T số tiền 600.000 đồng. Cụ thể mỗi người có nghĩa vụ thanh toán 100.000 đồng.
+ Ông Nguyễn Vũ H2 có nghĩa vụ hoàn lại giá trị đất thổ cư 173,5 m² và căn nhà cấp 4 trên đất cho ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị Kim P mỗi người 285.714.286 đồng.
Đối với các cây trồng và vật kiến trúc trên đất thuộc quyền sử dụng đất của ai người đó được quyền sở hữu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Tranh chấp giữa ông Nguyễn Thanh H và ông Nguyễn Vũ H2 là tranh chấp chia di sản thừa kế; Ông Nguyễn Vũ H2 có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại phường T, tỉnh An Giang; Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;
[1.2] Hàng thừa kế: Cụ Nguyễn Văn T1 sinh năm 1954 (chết năm 2023 và cụ Phạm Thị Kim A, sinh năm 1952 (chết năm 2021); cha mẹ cụ T1 là cụ Nguyễn Văn T2 (chết) và cụ Lê Thị Đ(chết), cha mẹ cụ A là cụ Phạm Văn H3 (chết năm 1951) và cụ Phạm Thị H4 (chết năm 1968); Cụ T1 và cụ A có 07 người con, gồm: Nguyễn Thanh H, Nguyễn Vũ H2, Nguyễn Thị Kim P, Nguyễn Thị Kim N (chết), Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Kim L và Nguyễn Hoàng P1; cụ T1 và cụ A không có cha nuôi mẹ nuôi hay con nuôi nào khác; Nên căn cứ theo Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn T1 và cụ Phạm Thị Kim A gồm: Nguyễn Thanh H, Nguyễn Vũ H2, Nguyễn Thị Kim P, Nguyễn Thị Kim N (chết), Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Kim L và Nguyễn Hoàng P1; bà Nguyễn Thị Kim N (chết), nên căn cứ theo Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015, hàng thừa kế thế vị của chị N là cháu Nguyễn Thành T.
[1.3] Thời điểm mở thừa kế và thời hiệu thừa kế: Cụ Nguyễn Văn T1 sinh năm 1954 (chết ngày 25/12/2023) và cụ Phạm Thị Kim A, sinh năm 1952 (chết ngày 19/02/2021), nên thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T1 là ngày 25/12/2023, cụ A là ngày 19/02/2021; Thời hiệu thừa kế đối với bất động sản là 30 năm, ngày 22/02/2024 ông Nguyễn Thanh H khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế nên vẫn còn thời hiệu thừa kế; Theo quy định tại khoản 1 Điều 611, khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015.
[1.4] Về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 29/11/2024 của Công ty TNHH Đ1, trên phần đất thuộc thửa đất số: 37, tờ bản đồ số: 30; diện tích 173,5m² có công trình kiến trúc một phần mái che diện tích 3,4m², một phần nhà diện tích 8,1m2 và một phần mái che diện tích 2,2m² thuộc thửa đất số 136, tờ bản đồ số 30 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00306QSDĐ/Ka, cấp ngày 24/5/2004 cho bà Phạm Thị Kim E; bà E có ý kiến không tranh chấp trong vụ án, bà sẽ tự khởi kiện trong một vụ án khác; Nên Tòa án không đưa bà Phạm Thị Kim E vào vụ án với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung:
[2.1] Ông Nguyễn Thanh H, Nguyễn Vũ H2, Nguyễn Thị Kim P, Nguyễn Thị Kim N (chết, có anh Nguyễn Thành T thừa kế), Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Kim L và Nguyễn Hoàng P1 đồng thống nhất di sản của cụ Nguyễn Văn T1 và cụ Phạm Thị Kim A để lại gồm:
- 01 căn nhà cấp 4 có kết cấu nóc lợp Tol, vách tường, nền bê tông gạch men kiên cố, các công trình kiến trúc phụ gắn liền phần đất thổ cư diện tích 173,5m², thửa đất số 137, tờ bản đồ số 30, loại đất ODT, tọa lạc tại khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang (Nay khóm T, phường T, tỉnh An Giang); cụ T1 và cụ A đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0712Ka ngày 12/6/2006.
- Phần đất cây lâu năm diện tích 4.568m², thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 02 (Hệ thống BĐ-22), do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02278.QSDĐ/Ek cho bà Phạm Thị Kim A (diện tích đo đạc thực tế 6.508,4m², thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 02 (Hệ thống BĐ VN-2000)) tọa lạc tại khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (nay khóm N, phường T, tỉnh An Giang) và các cây trồng lâu năm trên đất.
Khi chết, cụ T1 và cụ A không để lại di chúc, ông Nguyễn Vũ H2 đang quản lý di sản từ khi cụ T1 và cụ A chết đến nay.
Tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự có quy định những tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh gồm: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh".
[2.2] Do đó phần di sản của cụ T1 và cụ A không có di chúc, nên căn cứ theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, thì những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
Từ những nhận định trên, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh H yêu cầu chia di sản thửa kế của cụ T1 và cụ A để lại là có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H2 xác định không có chứng cứ nào khác cung cấp và thống nhất về các tài liệu chứng cứ do Tòa án công khai tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như giữa ông H (đại diện theo ủy quyền của bà P), ông H2 (đại diện theo ủy quyền của anh T, ông M), bà L và ông P1 thống nhất về giá trị tài sản là nhà cấp 4 có kết cấu nóc lợp Tol, vách tường, nền bê tông gạch men kiên cố, các công trình kiến trúc phụ và phần đất thổ cư diện tích 173,5m², thửa đất số 137, tờ bản đồ số 30, loại đất ODT, tọa lạc tại khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang (Nay khóm T, phường T, tỉnh An Giang) là 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng; đất diện tích đo đạc thực tế 6.508,4m², thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 02 (Hệ thống BĐ VN-2000) tọa lạc tại khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (nay khóm N, phường T, tỉnh An Giang) có giá 300.000 đồng/m²; Việc thỏa thuận này là phù hợp với nguyên tắc cơ bản là quyền tự định đoạt của đương sự tại Điều 5 và khoản 1 Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019 là “Đương sự có quyền cung cấp giá tài sản đang tranh chấp; thỏa thuận về giá tài sản đang tranh chấp”.
Nên việc thỏa thuận về giá này được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.4] Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 29/11/2024 của Công ty TNHH Đ1 lập thì: Thửa đất số: 137, tờ bản đồ số: 30; diện tích 173,5m²; tọa lạc tại khóm T, phường T, tỉnh An Giang. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0712Ka ngày 12/6/2006; trên đất gồm có: mái che diện tích 36,5m2, nhà bê tông diện tích 69,1m², mái che diện tích 57,2m², nhà vệ sinh 5,2m², hàng rào;
Nên việc phân chia bằng hiện vật sẽ thay đổi hiện trạng các công trình kiến trúc và diện tích tối thiểu để tách thửa không đảm bảo theo Điều 12 Quyết định số 41/2024/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh A ngày 13/10/2024, đều này sẽ dẫn đến không thi hành được bản án khi chia bằng hiện vật đối với di sản này, và ông H, ông P1, bà P, anh T, ông M và bà L cũng yêu cầu nhận bằng giá trị, để hiện vật cho ông H2 quản lý, đứng tên quyền sử dụng, ông H2 cũng yêu cầu nhận bằng hiện vật để làm nơi ở, thờ cúng ông bà; Tại phiên tòa, các đồng thừa kế ông M, bà L, cháu T và ông P1 đồng thống nhất để phần của các ông bà được hưởng giao cho ông Nguyễn Vũ H2 quản lý sử dụng, không yêu cầu hoàn trả giá trị đối với phần đất này; Nên chỉ buộc anh Nguyễn Vũ H2 phải hoàn trả giá trị cho ông H, bà P mỗi người được nhận 1/7 giá trị tài sản đã thỏa thuận với số tiền 2.000.000.000 đồng/7 = 285.714.286 đồng.
[2.5] Đối với di sản là phần đất cây lâu năm diện tích 4.568m², thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 02 (Hệ thống BĐ-22), do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02278.QSDĐ/Ek cho cụ Phạm Thị Kim A (diện tích đo đạc thực tế 6.508,4m², thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 02 (Hệ thống BĐ VN-2000) tọa lạc tại khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (nay khóm N, phường T, tỉnh An Giang) và các cây trồng lâu năm trên đất;
Đối với phần diện tích đất này diện tích đất tăng thêm, nhưng nằm trong một thửa đất, tờ bản đồ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên Cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm cấp sổ đỏ cho toàn bộ thửa đất gốc cùng phần diện tích đất tăng thêm theo loại đất đã được cấp được quy định tại Điều 137, Điều 141 Luật đất đai năm 2024.
Căn cứ Điều 12 Quyết định số 41/2024/QĐ-UBND ngày 13/10/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh A, thì quy định hạn mức đất ở diện tích tối thiểu được tách thửa đất trồng cây lâu năm tại các phường, thị trấn, xã Em²; Nên yêu cầu nhận bằng hiện vật của các đồng thừa kế là có cơ sở chấp nhận, và kỷ phần của hàng thừa kế được nhận: ông H 930m², ông H2 930m², ông M 930m², bà L 930m², ông P1 930m², bà P 930m² và anh T 928,4m².
Việc ông H, ông P1, ông H2 yêu cầu được nhận diện tích đất trồng cây lâu năm tại các thửa Tạm 2, T, Tạm 5, ông M yêu cầu nhận thửa Tạm 4, bà P yêu cầu nhận thửa Tạm 01, bà L yêu cầu nhận thửa Tạm 6, anh T yêu cầu nhận thửa Tạm 7, ý kiến của các đương sự phù hợp với hiện trạng sử dụng đất, cũng như trên đất có công trình kiến trúc nhà của ông H thửa Tạm 2, anh P1 thửa Tạm 3 và khu mộ thử Tạm 5, nên sẽ phân chia vị trí đất cho phù hợp với hiện trạng sử dụng đất, để đảm bảo quá trình sử dụng đất của các hàng thừa kế.
Do bà Nguyễn Thị Kim P là người gốc Việt Nam, nhưng đã sinh sống và nhập quốc tịch Đài Loan, phần đất bà P yêu cầu nhận bằng hiện vật là đất trồng cây lâu năm, nên phần bà P giao cho anh H đứng tên quyền sử dụng, khi bà P có yêu cầu thì bà P với ông H tự thỏa thuận giải quyết, trường hợp không thỏa thuận được thì bà P có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
[2.6] Trong quá trình quản lý di sản là phần đất thổ cư, nhà bê tông và một số công trình kiến trúc khác, ông Nguyễn Vũ H2 và bà Nguyễn Thị Huỳnh M1 có công sức đóng góp gia công mái che, công trình phụ khác và bảo quản di sản, nhưng ông H2 và bà M1 không yêu cầu xem xét chi phí này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với phần đất trồng cây lâu năm, có các cây trồng trên đất gồm: Cây Hồng Q, cây Vú Sữa và một số cây tạp khác, các đương sự đồng thống nhất cây trồng trên phần đất của người nào được chia thì người đó nhận, không yêu cầu xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.7] Ông Nguyễn Thanh H đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: 2.100.000 đồng, công đo đạc: 10.000.000 đồng, chi phí trích lục hồ sơ 68.000 đồng, tổng 12.168.000 đồng; Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì các đồng thừa kế cùng chịu toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ tương ứng theo phần giá trị tài sản được nhận; Trong vụ án này, tổng giá trị tài sản chia 3.952.520.000 đồng, mỗi kỷ phần trị giá 564.645.714 đồng; ông H và bà P mỗi người được nhận 1/7 giá trị tài sản các đương sự được chia phần tài sản bằng nhau, nên phải chịu chi phí tố tụng bằng nhau; ông H2 được nhận phần thừa kế đối với phần đất trồng cây lâu năm và đối với di sản là 5 kỷ phần thừa kế đối với căn nhà và đất thổ cư theo phần của ông, ông P1, bà L, anh T và ông M giá trị mỗi phần là 285.714.286 đồng, nên tổng giá trị ông H2 được nhận 285.714.286 đồng x 5 + 279.000.000 đồng = 1.707.571.430 đồng tương đương với 3/7 tổng giá trị di sản, nên ông H2 phải có trách nhiệm hoàn trả tương ứng theo giá trị mình được nhận cho ông H; đối với ông P1, bà L, anh T và ông M chỉ nhận giá trị tài sản 279.000.000 đồng, tương đương với 1/14 tổng giá trị di sản, nên ông P1, bà L, anh T và ông M có trách nhiệm hoàn trả chi phí tố tụng tương ứng phần mình được nhận cho ông Nguyễn Thanh H đã tạm ứng.
[2.8] Anh Nguyễn Thanh H, anh Nguyễn Vũ H2, bà Nguyễn Thị Kim P, anh Nguyễn Thành T, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Kim L và ông Nguyễn Hoàng P1, mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5%/giá trị tài sản được nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q1, cụ thể mỗi người thừa kế được chia: Ông H và bà P mỗi người được chia tổng giá trị 564.645.714 đồng, ông H2 được chia tổng giá trị 1.707.571.430 đồng, ông P1 ông M bà L và cháu T được chia giá trị 279.000.000 đồng; Nên các ông bà phải chịu 5% án phí đối với giá trị này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 610, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651 và Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 4, Điều 28, Điều 44, Điều 137 và Điều 141 Luật đất đai năm 2024;
Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 74, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành;
Điểm a, b khoản 1 Điều 24, khoản 3 Điều 25, khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh H; Chia di sản thừa kế của cụ Phạm Thị Kim A và cụ Nguyễn Văn T1 theo theo pháp luật.
Việc phân chia di sản thừa kế của cụ Phạm Thị Kim A và cụ Nguyễn Văn T1 như sau:
- Chia cho ông Nguyễn Thanh H phần đất diện tích 930m², thửa Tạm 2 theo các điểm 78, 52, 88, 67, 87, 39, 40, 79 thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 43, loại CLN, tọa lạc tại khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (nay khóm N, phường T, tỉnh An Giang) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02278.QSDĐ/eK được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 19/02/2001 cho cụ Phạm Thị Kim A.
Theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 20/3/2025 của Công ty TNHH Đ1.
- Chia cho bà Nguyễn Thị Kim P phần đất diện tích 930m², thửa Tạm 1 theo các điểm 30, 32, 64, 55, 65, 66, 53, 88, 52, 78 (tạm giao cho ông Nguyễn Thanh H đứng tên quyền sử dụng đối với phần đất diện tích 930m2 thửa Tạm 1 của bà P) thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 43, loại đất CLN, tọa lạc tại khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (nay khóm N, phường T, tỉnh An Giang) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02278.QSDĐ/eK được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 19/02/2001 cho cụ Phạm Thị Kim A:
Theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 20/3/2025 của Công ty TNHH Đ1.
- Chia cho ông Nguyễn Vũ H2 phần đất diện tích 930m², thửa Tạm 5 theo các điểm 81, 86, 85, 82, 1 thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 43, loại đất CLN, tọa lạc tại khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (nay khóm N, phường T, tỉnh An Giang) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02278.QSDĐ/eK được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 19/02/2001 cho cụ Phạm Thị Kim A.
Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 20/3/2025 của Công ty TNHH Đ1.
Và phần đất diện tích 173,5m² theo các điểm 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51 thuộc thửa đất số: 137, tờ bản đồ số 30; tọa lạc tại khóm T, phường N, thị xã T (nay khóm T, phường T, tỉnh An Giang) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0712Ka ngày 12/6/2006 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 12/6/2006 cho cụ Nguyễn Văn T1 và cụ Phạm Thị Kim A;
Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 29/11/2024 của Công ty TNHH Đ1.
- Chia cho ông Nguyễn Văn M phần đất diện tích 930m², thửa Tạm 4 theo các điểm 80, 7, 6, 86, 81, 3 thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 43, loại đất CLN, tọa lạc tại khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (nay khóm N, phường T, tỉnh An Giang) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02278.QSDĐ/eK được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 19/02/2001 cho cụ Phạm Thị Kim A.
Theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 20/3/2025 của Công ty TNHH Đ1.
- Chia cho bà Nguyễn Thị Kim L phần đất diện tích 930m², thửa Tạm 6 theo các điểm 82, 85, 68, 69, 16, 17, 84, 83 thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 43, loại đất CLN, tọa lạc tại khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (nay khóm N, phường T, tỉnh An Giang) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02278.QSDĐ/eK được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 19/02/2001 cho cụ Phạm Thị Kim A.
Theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 20/3/2025 của Công ty TNHH Đ1.
- Chia cho ông Nguyễn Hoàng P1 phần đất diện tích 930m², thửa Tạm 3 theo các điểm 79, 40, 39, 87, 8, 7, 80 thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 43, loại đất CLN, tọa lạc tại khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (nay khóm N, phường T, tỉnh An Giang) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02278.QSDĐ/eK được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 19/02/2001 cho cụ Phạm Thị Kim A.
Theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 20/3/2025 của Công ty TNHH Đ1.
- Chia cho anh Nguyễn Thành T phần đất diện tích 928,4m², thửa Tạm 7 theo các điểm 83, 84, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 2 thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 43, loại đất CLN, tọa lạc tại khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (nay khóm N, phường T, tỉnh An Giang) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02278.QSDĐ/eK được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 19/02/2001 cho cụ Phạm Thị Kim A.
Theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 20/3/2025 của Công ty TNHH Đ1.
- Buộc ông Nguyễn Vũ H2 hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị Kim P mỗi người 1/7 giá trị tài sản là thửa đất số: 137, tờ bản đồ số: 30; diện tích 173,5m²; tọa lạc tại khóm T, phường T, tỉnh An Giang. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0712Ka ngày 12/6/2006 cho cụ Nguyễn Văn T1 và cụ Phạm Thị Kim A; trên đất gồm có: mái che diện tích 36,5m², nhà bê tông diện tích 69,1m², mái che diện tích 57,2m², nhà vệ sinh 5,2m², hàng rào cụ thể như sau:
+ Buộc ông Nguyễn Vũ H2 hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh H số tiền 285.714.286 đồng;
+ Buộc ông Nguyễn Vũ H2 hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Kim P số tiền 285.714.286 đồng.
- Buộc ông Nguyễn Thanh H, ông Nguyễn Vũ H2, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Kim L, ông Nguyễn Thị Kim P và ông Nguyễn Hoàng P1 có trách nhiệm hoàn trả cho anh Nguyễn Thành T mỗi người 100.000 đồng.
Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan thi hành án có thẩm quyền hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về chi phí tố tụng:
- Buộc ông Nguyễn Vũ H2 phải hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh H số tiền 5.214.858 đồng.
- Buộc bà Nguyễn Thị Kim P phải hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh H số tiền 1.738.286 đồng.
- Buộc ông Nguyễn Văn M phải hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh H số tiền 869.143 đồng.
- Buộc bà Nguyễn Thị Kim L phải hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh H số tiền 869.143 đồng.
- Buộc ông Nguyễn Hoàng P1 phải hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh H số tiền 869.143 đồng.
- Buộc anh Nguyễn Thành T phải hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh H số tiền 869.143 đồng.
Về án phí:
- Ông Nguyễn Thanh H phải nộp 26.585.829 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 12.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010913 ngày 20/5/2024 và 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017587 ngày 15/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14 - An Giang), ông H còn phải nộp thêm 14.285.829 (mười bốn triệu, hai trăm tám mươi lăm ngàn, tám trăm hai mươi chín) đồng.
- Ông Nguyễn Vũ H2 phải nộp 63.227.143 (sáu mươi ba triệu, hai trăm hai mươi bảy ngàn, một trăm bốn mươi ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Nguyễn Thị Kim P phải nộp 26.585.829 (hai mươi sáu triệu, năm trăm tám mươi lăm ngàn, tám trăm hai mươi chín) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Văn M phải nộp 13.950.000 (mười ba triệu, chín trăm năm chục ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Cháu Nguyễn Thành T phải nộp 13.950.000 (mười ba triệu, chín trăm năm chục ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Nguyễn Thị Kim L phải nộp 13.950.000 (mười ba triệu, chín trăm năm chục ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Phạm Hoàng P2 phải nộp 13.950.000 (mười ba triệu, chín trăm năm chục ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thanh Hùng |
Bản án số 94/2025/DS-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, TỈNH AN GIANG về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 94/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thanh H yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật
