TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do -Hạnh phúc |
Bản án số: 94/2025/DS - PT
Ngày 17 - 6 - 2025
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn
Ông Nguyễn Văn Nghĩa
-Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16, 17 tháng 6 năm 2025; tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 151/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 52/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường bị kháng cáo:
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXPT – DS ngày 21 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị V, sinh năm 1955 và ông Trần Văn Q, sinh năm 1954; cùng địa chỉ: Số B, ngõ A H, khu A, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn Q: Bà Đỗ Thị V, sinh năm 1955; địa chỉ: Số B, ngõ A H, khu A, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Vũ Văn D– Luật sư công ty L3 và cộng sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh V (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thế M, sinh năm 1958; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).
Ủy ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn L – Quyền chủ tịch Ủy ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (Vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bà Đỗ Thị V là nguyên đơn và ông Nguyễn Thế M là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại phiên toà, nguyên đơn bà Đỗ Thị V (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn Q) trình bày:
Nguồn gốc diện tích hiện bà đang quản lý, sử dụng tại thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc là bà nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn T; địa chỉ: Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc năm 1990. Khi nhận chuyển snhượng thì các bên có lập hợp đồng chuyển nhượng có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phú (cũ). Diện tích nhận chuyển nhượng ước lượng là 300m² (quy ra là 12,5 thước), giá trị theo hợp đồng là 1.300.000 đồng. Khi đó ông T cùng với bà đã chỉ mốc giới, các chiều cạnh còn không đo, vẽ cụ thể. Khi đó có ông Nguyễn Văn L1 là cán bộ địa chính Ủy ban nhân dân xã C chứng kiến. Tại thời điểm bà nhận chuyển nhượng đất của ông T thì phần đất hiện ông Nguyễn Thế M đang sử dụng là do bố mẹ ông Nguyễn Thế L2 và Lê Thị H để lại.
Ngày 10/9/1992 bà đã được Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phú (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Bà Đỗ Thị V. Diện tích đất được cấp là 300m², thửa đất số 438, tờ bản đồ số 7. Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà xác định bị thiếu hụt 163m² đất nên đã khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã C về việc thiếu đất nhưng không có kết quả. Bà không khiếu nại đến Ủy ban nhân dân huyện V đề nghị xem xét, giải quyết. Bà và ông Q đã từng sử dụng quyền sử dụng đất để vay tiền tại Quỹ tín dụng nhân dân xã C Khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T năm 1990 thì không có công trình xây dựng gì trên đất mà chỉ có một số cây cối trên đất. Cùng năm 1990 thì vợ chồng bà đã xây dựng công trình là nhà ở trên đất (chưa xây dựng tường bao). Năm 1990 thì ranh giới đất của bà với phần đất của cụ L2 và cụ H chỉ bằng cây duối.
Năm 2001 Ủy ban nhân dân xã C có chủ trương đo đạc lại để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho toàn xã. Thửa đất nhà bà thuộc thửa số 496, tờ bản đồ số 3, diện tích 359,8m² (so với bản đồ 299 đất nhà bà bị thiếu 103,2m²). Tại thời điểm đó Ủy ban nhân dân xã C đã tự đo, bản thân bà đã tự chỉ mốc giới nhưng kết quả đo đạc không đúng diện tích thực diện tích đất bà đang sử dụng. Diện tích đất bà quản lý, sử dụng chỉ là 359,8m² nên bà không đồng ý. Vì không đồng ý diện tích đất thực tế theo đo đạc nên bà không đi đăng ký, kê khai để cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Năm 2013 Ủy ban nhân dân huyện V và Ủy ban nhân dân xã C tiến hành đo bản đồ VN 2000, diện tích đất của bà quản lý, sử dụng thuộc thửa 605, tờ bản đồ số 17, diện tích là 541,9m². Bà đã đồng ý với diện tích đất này và đề nghị để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chưa được cấp. Năm 2019 Ủy ban nhân dân huyện V đã có quyết định thu hồi một phần đất của gia đình nhà bà là 38,4m² và gia đình bà đã được nhận tiền bồi thường là 80.000.000 đồng. Diện tích đất sau thu hồi của gia đình bà là 503,5m².
Đối với thửa đất của gia đình ông Nguyễn Thế M: Theo bản đồ 299 thuộc thửa số 439, tờ bản đồ số 07 có diện tích 240m² đứng tên bố ông M là ông Nguyễn Thế L2. Năm 1992 ông Nguyễn Thế L2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 534245 thuộc tờ bản đồ số 07, thửa số 439 diện tích 280m² (so với bản đồ 299 thì diện tích đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tăng 40m²). Theo bản đồ 2001 thửa đất thuộc thửa số 505, tờ bản đồ số 03 có diện tích 352,1m² (tăng 72,1m²)
Năm 2020 ông M đã tự ý chặt cây, phá dỡ toàn bộ phần tường bao loan giáp phần đất nhà ông M đang sử dụng của gia đình bà và xây tường bao loan mới trên phần đất của bà. Phần tường bao loan mà ông M đã phá dỡ của bà thì bà đã xây dựng từ năm 2016 và 01 phần tường bao loan bà đã xây từ năm 1993. Sau khi ông M phá dỡ tường bao loan của bà thì bà đã gửi đến Công an xã C, Ủy ban nhân dân xã C đề nghị giải quyết nhưng chưa có kết luận.
Nay bà xác định diện tích đất ông M đã lấn chiếm là 22,5m². Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bà đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường giải quyết:
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/9/2003 mang tên Hộ ông Nguyễn Thế M. Thông tin thửa đất là thửa số 505, tờ bản đồ số 03, diện tích 352,1m² thuộc thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Buộc vợ chồng Nguyễn Thế M, bà Nguyễn Thị N phải trả cho vợ chồng bà diện tích đất 22,5m² tại thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Đối với tài sản, vật kiến trúc trên đất thì ông M, bà N phải tự tháo dỡ, thu dọn.
Bị đơn ông Nguyễn Thế M trình bày:
Nguồn gốc thửa đất gia đình ông đang quản lý, sử dụng là đất thổ cư ông cha để lại cho ông. Đất đã được Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000 231 QSDĐ/29/02/2004 ngày 29/09/2003, thửa đất số 505, tờ bản đồ số 03 thuộc thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Đối với quyền sử dụng đất của ông thì trước đến nay gia đình ông vẫn sử dụng ổn định và không có tranh chấp với bất kỳ ai.
Đến tháng 3/2016 khi gia đình ông chuẩn bị xây dựng lại nhà mới trên thửa đất nêu trên thì ông có làm đơn đề nghị Ủy ban nhân dân xã C và địa chính xã đến chỉ mốc giới. Ủy ban nhân dân đã cử cán bộ địa chính xã đến xác định mốc giới cho gia đình ông để gia đình ông xây dựng công trình trên đất. Sau khi cán bộ địa chính Ủy ban nhân dân xã C xác định mốc giới (không có tranh chấp với ai, bao gồm ông Q, bà V) thì ông đã xây dựng công trình kiên cố trên đất như hiện tại.
Năm 2017 do bức tường bao loan của gia đình bà V, ông Q đã đổ vào phần cửa sổ ngôi nhà 02 tầng của gia đình ông nên ông đã đẩy bỏ. Trước khi đẩy bỏ bức tường của gia đình bà V thì ông đã thông báo cho ông Q (là chồng của Vụ), ông Q trả lời là “Tùy chú”. Vì tại thời điểm này ông Q, bà V không sinh sống trên đất. Toàn bộ phần tường bao loan nhà bà V, ông Q thì xây dựng trên diện tích đất ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003. Khi bà V xây dựng tường bao loan thì ông không có mặt tại gia đình.
Ông xác định mình không lấn đất nhà bà V, ông Q (không lấn đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà V). Phần diện tích đất lớn hơn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà V thì ông không công nhận là đất của bà V. Phần diện tích đất hiện ông đang sử dụng (lớn hơn diện tích tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông được cấp) là đất hành lang giao thông không phải là đất của bà V, ông Q. Trường hợp có căn cứ xác định ông lấn đất của bà V, ông Q thì ông sẽ đồng ý tháo dỡ tài sản trên đất để trả đất cho bà V, ông Q.
Vì vậy ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị V, ông Trần Văn Q.
Ông xác định quyền sử dụng đất là của ông (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp theo bản đồ đo vẽ năm 2001). Đối với công trình xây dựng trên phần đất hiện đang tranh chấp là tài sản của ông và bà N, các con của ông và bà N là anh Nguyễn Thế M1 và chị Nguyễn Thị N1 thì đều không có liên quan gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị N tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng bà N đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bà N có ý kiến trình bày: Bà N đồng ý với ý kiến, lời trình bày của ông M.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Ủy ban nhân dân xã C vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có văn bản thể hiện nội dung:
Trên cơ sở hồ sơ địa chính và quá trình sử dụng đất của bà Đỗ Thị V, ông Trần Văn Q, Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc xã xác định ranh giới thửa đất xác định theo bản đồ 2001 diện tích 359,8m², thể hiện tại sổ mục kê lập năm 2000 được sử dụng ổn định. Phần diện tích tăng lên giáp đường hành lang đê chưa được công nhận quyền sử dụng đất.
Với nội dung trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số: 52/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường đã quyết định:
Áp dụng các Điều 166, Điều 175, Điều 176, Điều 190 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Đỗ Thị V.
- Buộc ông Nguyễn Thế M phải trả cho bà Đỗ Thị V, ông Trần Văn Q diện tích đất 7,5m² tại thửa đất số 607, tờ bản đồ số 17, thuộc thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc,
- Buộc ông M, bà N phải có nghĩa vụ tự tháo dỡ, thu dọn toàn bộ tài sản, vật kiến trúc (là tường xây) trên diện tích đất 7,5m², thể hiện tại các điểm 7,8,9,10,11,41,C,B,A,7.
- Buộc ông M, bà N phải có nghĩa vụ tự tháo dỡ, thu dọn phần tường xây trên phần đất hành lang đê để đảm bảo việc sử dụng đất của bà V, ông Q, thể hiện tại các điểm 11,12,12'.
(Có sơ đồ chi tiết kèm theo bản án).
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Đỗ Thị V và ông Nguyễn Thế M kháng cáo Bản án sơ thẩm với nội dung: Bà Đỗ Thị V đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết sửa Bản án dân sự sơ thẩm, buộc gia đình ông Nguyễn Thế M phải trả cho gia đình bà Đỗ Thị V 23,m² đất đã lẫn chiếm; Ông Nguyễn Thế M không đồng ý toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông M và bà V thay đổi kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau: Ông Nguyễn Thế M phải trả cho bà Đỗ Thị V, ông Trần Văn Q diện tích đất 5,3m² đất tranh chấp tại thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc có chỉ giới B-A-7-B (Theo sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền với đất ngày 16/6/2025); ông M, bà N có trách nhiệm phá dỡ bức tường gạch thẻ có chiều dài 9-7 = 16,79m.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu và có quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về phía các đương sự: Các đương sự đã chấp hành đúng trách nhiệm của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
Về đường lối giải quyết vụ án: Tại phiên Toà phúc thẩm, các đương sự đã thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 147, Điều 148, Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Đỗ Thị V và bị đơn ông Nguyễn Thế M. Sửa Bản án sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà V và ông M nộp trong hạn luật định; bà V, ông M sự là người cao tuổi được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên đơn kháng cáo được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bà Đỗ Thị V, ông Nguyễn Thế M thấy: Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Đỗ Thị V và ông Nguyễn Thế M kháng cáo Bản án sơ thẩm với nội dung: Bà Đỗ Thị V đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết sửa Bản án dân sự sơ thẩm, buộc gia đình ông Nguyễn Thế M phải trả cho gia đình bà Đỗ Thị V 23,m² đất đã lấn chiếm; Ông Nguyễn Thế M không đồng ý toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông M và bà V thay đổi kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau: Ông Nguyễn Thế M và bà Nguyễn Thị N phải trả cho bà Đỗ Thị V, ông Trần Văn Q diện tích đất 5,3m² + 1,4m² được ký hiệu là V3+ B1 có chỉ giới là 9, A, B, 7, 8, 9 tại thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Theo sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền với đất theo sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà ngày 16/6/2025); ông M có trách nhiệm phá dỡ bức tường gạch thẻ có chỉ giới là 7, 8, 9 có chiều dài là 16,79 m
Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy nội dung kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn đã được các bên đương sự tự nguyện thỏa thuận. Sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm theo sự công nhận thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Đối với phần diện tích đất chênh lệch giữa hiện trạng sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các đương sự:
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Bà Đỗ Thị V, diện tích đất được cấp là 300m² tại thửa đất số 438, tờ bản đồ số 7. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Hộ ông Nguyễn Thế M, diện tích đất được cấp là 352.1m² tại thửa đất số 505, tờ bản đồ số 3. Đối với phần diện tích đất tăng thêm, các đương sự đã sử dụng ổn định, lâu dài, có mốc giới ổn định và không tranh chấp với các hộ xung quanh, các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Đối với phần diện tích hành lang đê (V2=147,9 m² ) hiện nay do bà V và ông Q sử dụng, đại diện Ủy ban nhân dân xã C không có yêu cầu phản tố nên khi nào có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết sau.
Đối với phần diện tích hành lang đê (V5=42 m² ) hiện nay do ông M và bà N sử dụng, đại diện Ủy ban nhân dân xã C không có yêu cầu phản tố nên khi nào có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết sau.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm là 5.500.000 đồng. Ông M và bà V thống nhất thỏa thuận mỗi người chịu 2.750.000 đồng. Xác nhận bà V đã nộp đủ; ông M có trách nhiệm trả lại cho bà V số tiền 2.750.000 đồng.
[4]. Về án phí: Ông M, bà V được miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị V và ông Nguyễn Thế M.
Căn cứ vào Điều 147, Điều 148, Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Sửa bản án dân sự số 52/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Ông Nguyễn Thế M và bà Nguyễn Thị N phải trả cho bà Đỗ Thị V và ông Trần Văn Q tổng diện tích 6,7m² (bao gồm 5,3m² + 1,4m² được ký hiệu là V3+ B1) có chỉ giới là 9, A, B, 7, 8, 9 tại thôn Đ, xã C, (nay là xã S) huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông Nguyễn Thế M và bà Nguyễn Thị N phải phá dỡ bức tường gạch thẻ chiều dài là 16,79 m có chỉ giới là 7, 8, 9;
(Theo sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền với đất theo sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà ngày 16/6/2025 kèm theo bản án).
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự, ông V, bà M mỗi người chịu 2.750.000 đồng. Xác nhận bà V đã nộp đủ, ông M có trách nhiệm trả lại cho bà V số tiền 2.750.000 đồng.
Kể từ ngày bà V có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông M còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về án phí: Ông M, bà V được miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thu Hiền |
8
Bản án số 94/2025/DS - PT ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 94/2025/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Đỗ Thị V và Nguyễn Thế M
