Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/KDTM-ST

Ngày: 23/7/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Nam Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hà2. Ông Phùng Ngọc Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Minh Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Bùi Mai Phương - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2024/KDTM-ST ngày 25/01/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2024/QĐXXST- KDTM ngày 31/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 220/2024/QÐST-KDTM ngày 28/6/2024 giữa:

* Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Đ.

Trụ sở: Tầng B, R N, phường Đ, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị Á – Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Xuân K.

Địa chỉ: A, Vinhomes G - số B T, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Ông K có mặt

* Bị đơn: Công ty Cổ phần K1.

Địa chỉ: A Đ, phường L, quận B, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Quốc T – Chủ tịch Hội đồng Quản trị. Ông T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Ngày 18/10/2023, Công ty Cổ phần Đ nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội về việc “Tranh chấp hợp đồng

mua bán hàng hoá” đối với bị đơn là Công ty Cổ phần Kinh doanh vật tư và xây dựng. Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn do ông Đỗ Xuân K – đại diện theo ủy quyền trình bày:

Công ty Cổ Phần Đ (gọi tắt là Công ty Đ) có cung cấp xi măng cho Công ty Cổ phần K1 (gọi tắt là Công ty K1) theo Hợp đồng số: 0912/HĐKT TN/CMC-2021 do hai bên ký kết ngày 09/12/2021.

Sau khi ký kết hợp đồng Công ty Đ đã giao chủng loại Xi măng bao Hà Tiên X tô cho Công ty Vật tư và Xây dựng, chi tiết như sau:

  • - Ngày 28/02/2022, giao tới công trình số 273B T, Quận I, thành phố Hồ Chí Minh tổng 150 bao xi măng (khối lượng 7.5 tấn), thành tiền 11.546.182 đồng;
  • - Ngày 16/03/2022, giao tới công trình đường T, Quận I, thành phố Hồ Chí Minh tổng 170 bao xi măng (khối lượng 8.5 tấn), thành tiền 13,085,673 đồng;
  • - Ngày 19/03/2022, giao tới công trình số 273B T, Quận I, thành phố Hồ Chí Minh tổng 170 bao xi măng (khối lượng 8.5 tấn), thành tiền 13,085,673 đồng;
  • - Ngày 19/03/2022, giao tới công trình số 278 T, L, Quận I, thành phố Hồ Chí Minh tổng 170 bao xi măng (khối lượng 8.5 tấn), thành tiền 13,085,673 đồng;

Chi tiết đơn hàng về số lượng, giá cả được Công ty Đ thể hiện ở biên bản đối chiếu công nợ. Sau khi đối chiếu chốt số lượng, giá cả xong, Công ty Đ đã bàn giao hóa đơn số 00000289 ngày 01/04/2022 cho Công ty Vật tư và Xây dựng với tổng số tiền hàng là 50.803.200 đồng, tuy nhiên Công ty Vật tư và Xây dựng liên tục xin lùi thời hạn thanh toán nhiều lần và chưa thanh toán lần nào cho Công ty Đ. Hiện nay, Công ty K1 và Xây D còn nợ Công ty Đ với số tiền là: 50.803.200 đồng (năm mươi triệu tám trăm lẻ ba nghìn hai trăm đồng chẵn).

Công ty K1 không thanh toán số nợ nêu trên cho Công ty Đ là vi phạm Điều 4 của hợp đồng kinh tế số 0912/HĐKT TN/CMC-2021, ký ngày 09/12/2021 giữa Công Vật T1 và Xây D với Công ty Đ. Vì vậy Công ty Đ yêu cầu Tòa án buộc Công ty K1 và Xây dựng thanh toán nợ gốc cho Công ty Đ là: 50.803.200 đồng (năm mươi triệu tám trăm lẻ ba nghìn hai trăm đồng chẵn).

Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của Công ty Đ là: Bản sao Hợp đồng Kinh tế số 0912/HĐKT-TN/CMC-2021 ngày 09/12/2021; Bản sao đăng kí kinh doanh của nguyên đơn, bị đơn; bản sao Giấy ủy quyền, căn cước công dân của người được ủy quyền; bản photo Hoá đơn giá trị gia tăng (có đóng dấu Công ty Đ); Bản photo các biên bản giao nhận hàng (có đóng dấu của Công ty Đ); bản sao biên bản đối chiếu công nợ công ty Đ gửi cho Công ty K1 (không có dấu của công ty K1 và xây dựng); 04 phiếu giao nhận hàng (bản đối chiếu bản chính) ngày 19/3/2022 (02 phiếu), ngày 28/02/2022 (02 phiếu), ngày 16/3/2022 (01 phiếu).

* Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vắng mặt trong suốt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến đối với nội dung vụ án.

* Tại phiên toà: nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Toà án buộc Công ty Cổ phần K1 thanh toán nợ gốc cho Công ty Cổ Phần Đ là: 50.803.200 đồng (năm mươi triệu tám trăm lẻ ba nghìn hai trăm đồng chẵn) theo Hợp đồng số 0912/HĐKT TN/CMC-2021 ký ngày 09/12/2021.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình xét xử vụ án.

Thư ký tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong việc tống đạt các văn bản của Tòa án, trong quá trình xét xử vụ án.

Nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Bị đơn vắng mặt không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên Tòa án xét xử theo thủ tục chung

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí sơ thẩm: Buộc bị đơn chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Hợp đồng kinh tế số 0912/HĐKT TN/CMC-2021 ký ngày 09/12/2021 giữa Công ty Đ với Công ty K1 để Công ty Đ cung cấp xi măng cho Công ty Vật tư và X là do hai bên tự nguyện ký, hai bên đều có giấy phép đăng ký kinh doanh và có mục đích lợi nhuận.

Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì Công ty Cổ phần kinh doanh vật tư và xây dựng có trụ sở chính tại địa chỉ số A Đ, phường L, quận B, thành phố Hà Nội.

Do đó, khi hai bên có tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện. Việc Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội thụ

lý, giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 1 điều 30, điểm b khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Lê Quốc T đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt ông T.

[2] Về quan hệ pháp luật:

Ngày 09/12/202,1 Công ty Đ có ký hợp đồng kinh tế số 0912/HĐKT TN/CMC-2021 với Công ty K1 và xây dựng để Công ty Đ cung cấp xi măng cho công ty Vật tư và Xây dựng tại Công trình thi công thấp tầng khu A – khu nhà ở giai đoạn A, phường L, quận I, thành phố Hồ Chí Minh

Vì cho rằng Công ty Vật tư và Xây dựng vi phạm thỏa thuận trong việc thanh toán nên công ty Đ khởi kiện.

Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” được quy định tại Điều 24, Điều 37 Luật Thương mại.

[3] Xét nội dung khởi kiện của Công ty Đ yêu cầu Toà án buộc Công ty K1 thanh toán cho Công ty Đ số tiền nợ gốc là: 50.803.200 đồng theo Hợp đồng kinh tế số 0912/HĐKT TN/CMC-2021 ký ngày 09/12/2021.

Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 09/12/2021, Công ty ĐCông ty K1 đã ký kết Hợp đồng kinh tế số 0912/HĐKT TN/CMC-2021 về việc mua bán xi măng. Hợp đồng kinh tế đã ký kết giữa Công ty ĐCông ty K1 là hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, người ký kết hợp đồng có đủ năng lực trách nhiệm dân sự nên xác định là hợp pháp và có hiệu lực thi hành đối với các bên tham gia.

Quá trình thực hiện Hợp đồng kinh tế số 0912/HĐKT TN/CMC-2021, Công ty Đ đã giao cho Công ty Vật tư và Xây dựng đầy đủ số lượng xi măng theo Hợp đồng Kinh tế nói trên. Đến thời điểm hiện tại, Công ty K1 chưa thanh toán cho Công ty Đ tổng số tiền 50.803.200 đồng theo 04 phiếu giao nhận hàng vào các ngày 19/3/2022, 28/02/2022 và 16/03/2022. Cụ thể như sau:

  • - Ngày 28/02/2022, Công ty Đ giao 150 bao xi măng H (khối lượng 7.5 tấn) tới công trình số B T, Quận I, thành phố Hồ Chí Minh cho Công ty Vật tư và Xây dựng, tương ứng với số tiền là: 150 bao x 78.400 đồng/bao = 11.546.182 đồng (mười một triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm tám mươi hai đồng);
  • - Ngày 16/03/2022, Công ty Đ giao 170 bao xi măng H (khối lượng 8,5 tấn) tới công trình đường T, Quận I, thành phố Hồ Chí Minh cho Công ty Vật tư và

Xây dựng, tương ứng với số tiền là: 170 bao x 78.400 đồng/bao = 13.328.000 đồng (mười ba triệu ba trăm hai mươi tám nghìn đồng).

  • - Ngày 19/03/2022, Công ty Đ giao 170 bao xi măng H (khối lượng 8.5 tấn) tới công trình số B T, Quận I, thành phố Hồ Chí Minh cho Công ty Vật tư và Xây dựng, tương ứng với số tiền là: 170 bao x 78.400 đồng/bao = 13.328.000 đồng (mười ba triệu ba trăm hai mươi tám nghìn đồng).
  • - Ngày 19/03/2022, Công ty Đ giao 170 bao xi măng H (khối lượng 8.5 tấn) tới công trình số B T, L, Quận I, thành phố Hồ Chí Minh cho Công ty Vật tư và Xây dựng, tương ứng với số tiền là: 170 bao x 78.400 đồng/bao = 13.328.000 đồng (mười ba triệu ba trăm hai mươi tám nghìn đồng).

Công ty Đ đã giao xi măng cho Công ty Vật tư và Xây dựng theo các phiếu giao hàng nêu trên và gửi biên bản đối chiếu công nợ cho Công ty Vật tư và Xây dựng nhưng Công ty K1 và Xây dựng không ký vào biên bản đối chiếu công nợ, không thanh toán nợ cho Công ty Đ theo đúng thảo thuận.

Như vậy việc Công ty Vật tư và Xây dựng nợ Công ty Đ 50.803.200 đồng tiền mua hàng theo Hợp đồng kinh tế số 0912/HĐKT TN/CMC-2021 ngày 09/12/2021 là có thật.

Xét thấy, Điều 4 của hợp đồng kinh tế số 0912/HĐKT TN/CMC-2021 ký ngày 09/12/2021 giữa Công ty Cổ phần K1Công ty Cổ Phần Đ hai bên thoả thuận: “Bên A có trách nhiệm thanh toán 100% giá trị tiền hàng cho bên B, thời gian thanh toán trong vòng 07 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn hoặc hạn mức công nợ lên đến 500.000.000 VND (Năm trăm triệu đồng)”. Theo hóa đơn giá trị gia tăng số 00000289 ngày 01/04/2022, Công ty Vật Tư và Xây dựng đã quá hạn thanh toán kể từ ngày 08/04/2022

Công ty K1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, đã biết được toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các chứng cứ nguyên đơn đã nộp cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nhưng bị đơn không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến cũng như chứng cứ phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Từ những nhận định nêu trên, đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty Đ về việc buộc Công ty K1 phải thanh toán cho Công ty Đ tổng số tiền của 04 phiếu giao hàng các ngày 28/02/2022, 16/03/2022 và 19/03/2022 (2 phiếu) là: 50.803.200 đồng, căn cứ Điều 440 Bộ luật Dân sự, Điều 50 Luật Thương Mại có cơ sở để chấp nhận.

[4] Về án phí:

Bị đơn là Công ty Vật tư và Xây dựng phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26, điểm a tiểu mục 1.4 mục 1 phần II Mục A Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 1.448.000 đồng đã nộp đã tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 5, khoản 1 điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 24, Điều 34, Điều 35, Điều 50 Luật Thương mại.

Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Khoản 2 Điều 26, điểm a tiểu mục 1.4 mục 1 phần II Mục A Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Đ, buộc Công ty Cổ phần K1 và xây dựng phải thanh toán cho Công ty cổ phần Đ tổng số tiền: 50.803.200 đồng (măm mươi triệu tám trăm lẻ ba nghìn hai trăm đồng chẵn).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí: Công ty Cổ phần K1 phải nộp 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm

Công ty Cổ phần Đ không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) đã nộp tại biên lai thu tiền số 0004859 ngày 25/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền

thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự;

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận B;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Nam H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/KDTM-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá

  • Số bản án: 94/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger