|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 94/2024/HSST Ngày: 26/9/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Oanh – Phó Ban dân vận huyện ủy.
Ông Lê Quang Thế - Phó giám đốc trung tâm văn hoá thể thao và du lịch huyện Khoái Châu.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang Vân – Thẩm tra viên.
Đại diện VKSND huyện Khoái Châu tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị H - KSV.
Hôm nay, ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2024/HSST ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024 đối với bị cáo: Phạm Đức Đ, sinh năm 1995; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 11/12; Nghề nghiệp: lái xe; Con ông: Phạm Đức M, sinh năm 1960; Con bà: Nguyễn Thị K, sinh năm 1962; Vợ: Đào Thị K1, sinh năm 1985; Con: 01 con sinh năm 2023; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba. Tiền án, tiền sự: Chưa có; Nhân thân: Ngày 10/3/2016, bị Công an huyện T, tỉnh Hải Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, chấp hành xong quyết định ngày 14/3/2016. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024 đến ngày 12/6/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại:
- Ông Đào Xuân X, sinh năm 1968; Trú tại: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (Đã chết);
Người đại diện hợp pháp cho ông Đào Xuân X đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là: Bà Nguyễn Thị T, 1973; Trú tại: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (Vắng mặt tại phiên toà có lý do).
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Thế T1, sinh năm 1977; Trú tại: thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương (Vắng mặt tại phiên toà không có lý do);
- Anh Đào Văn T2 sinh năm 1993;
- Anh Đào Văn D sinh năm 2003;
- Chị Đào Thị Thanh L, sinh năm 1997;
Đều trú tại: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (Đều vắng mặt tại phiên toà có lý do);
Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1992; Trú tại: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên (Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Đức Đ có giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở Giao thông Vận tải tỉnh H cấp ngày 03/8/2023 có giá trị đến ngày 03/8/2028. Khoảng 06 giờ ngày 03/6/2024, Đ điều khiển xe ô tô tải biển số 34C-357.64 đi trên đường Đ theo hướng từ huyện V, tỉnh Hưng Yên về huyện K, tỉnh Hưng Yên. Khi Đ điều khiển xe đến địa phận xã T, huyện K thì phát hiện phía trước cùng chiều có 01 xe ô tô 4 chỗ đang dừng đỗ ở rìa đường nên Đ đánh lái điều khiển xe ô tô biển số 34C-357.64 sang phần đường bên trái (phần đường dành cho xe đi hướng từ huyện K về huyện V). Khi xe ô tô biển số 34C - 357.64 đã di chuyển sang phần đường bên trái thì Đ phát hiện thấy có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển số 90B2-369.72 do ông Đào Xuân X, sinh năm 1968 ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam đang điều khiển đi hướng ngược chiều, cách đầu xe ô tô của Đ khoảng 10m. Đ đạp phanh xe ô tô để giảm tốc độ nhưng do khoảng cách quá gần nên phần đầu xe ô tô biển số 34C – 357.64 (phía bên trái người điều khiển) đã đâm vào phía trước của xe mô tô biển số 90B2 - 369.72. Hậu quả: ông X chết tại hiện trường, 02 phương tiện giao thông bị hư hỏng. Ngay sau khi sự việc xảy ra, Đ để xe ô tô tại hiện trường và đến Công an huyện K đầu thú. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở và kiểm tra ma túy đối với Đ. Kết quả xác định Đ không sử dụng chất có cồn và âm tính với ma túy.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, quản lý: 01 xe ô tô tải BKS 34C - 357.64 và 01 xe mô tô BKS 90B2 - 369.72 cùng các giấy tờ có liên quan, đồng thời trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh H khám nghiệm tử thi, xác định nguyên nhân chết của ông Đào Xuân X.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ là tại đoạn đường ĐT378 thuộc địa phận thôn P, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Đây là đoạn đường cong cua, được trải nhựa áp phan bằng phẳng, có độ rộng mặt đường là 09m; giữa đường có vạch kẻ sơn màu vàng đứt quãng phân chia hai chiều đường xe chạy; tại hai mép đường có vạch kẻ sơn màu trắng liền nét không đứt quãng chạy dọc theo chiều đường. Trên mặt đường có hai chiều đường xe chạy; một chiều hướng đi huyện V, tỉnh Hưng Yên; một chiều hướng đi huyện K, tỉnh Hưng Yên. Quan sát hiện trường, không phát hiện chướng ngại vật làm ảnh hưởng đến tầm quan sát của người tham gia giao thông. Thống nhất lấy chân cột Km 94 + 200 làm điểm mốc và chọn mép đường phải theo hướng đi từ huyện K về huyện V làm mép đường chuẩn. Tiếp giáp mép đường phải là lề đường phải, trên lề đường phải có cắm các cọc tiêu bằng bê tông, tiếp giáp lề đường phải là sườn đê. Tiếp giáp mép đường trái là lề đường trái, trên lề đường trái có các cọc tiêu bằng bê tông, tiếp giáp lề đường trái là sườn đê. Tại lề đường phải và lề đường trái không có cắm biển báo hiệu giao thông đường bộ.
Soát xét hiện trường vụ tai nạn giao thông, phát hiện vết mài miết hằn đen trên mặt đường, kích thước (15,70 x 0,45)m, chiều phát triển từ hướng huyện V về huyện K; gọi là dấu vết số 01. Đo từ cạnh ngoài bên trái đầu dấu vết số 01 (tính theo chiều phát triển của dấu vết) vào mép đường phải là 2,07m. Đo từ cạnh ngoài bên trái cuối dấu vết số 01 (tính theo chiều phát triển của dấu vết) vào mép đường phải là 2,25m. Đo từ cạnh ngoài bên trái đầu dấu vết số 01 (tính theo chiều phát triển của dấu vết) ra mép đường trái 1,85m và đo vuông góc hướng về huyện K 0,35m là đầu dấu vết mài miết hằn đen mặt đường kép, kích thước (15,60 x 0,45)m, chiều phát triển từ hướng huyện V về huyện K; gọi là dấu vết số 02. Đo từ cạnh ngoài bên trái đầu dấu vết số 02 (tính theo chiều phát triển của dấu vết) vào mép đường phải là 04m. Đo từ cạnh ngoài bên trái cuối dấu vết số 02 (tính theo chiều phát triển của dấu vết) vào mép đường phải là 4,1m. Đo từ cạnh ngoài bên trái đầu dấu vết số 01 (tính theo chiều phát triển của dấu vết) xuôi hướng về huyện K 5,2m và đo vuông góc vào mép đường phải 0,2m là tâm đám biểu bì, mô mỡ, kích thước (0,6 x 0,5)m; gọi là dấu vết số 03. Đo từ tâm dấu vết số 03 vào mép đường phải là 2,05m. Đo từ cạnh ngoài bên trái đầu dấu vết số 01 (tính theo chiều phát triển của dấu vết) xuôi hướng về huyện K 5,4m và đo vuông góc vào mép đường phải 0,15m là vết cà xước mặt đường đứt quãng, kích thước (2,3 x 0,3)m, chiều phát triển từ lòng đường vào mép đường phải; gọi là dấu vết số 04. Đo từ đầu dấu vết 04 vào mép đường phải là 2,1m. Đo từ cuối dấu vết 04 vào mép đường phải là 0,17m. Điểm cuối cùng của dấu vết 04 trùng với cần để chân phía sau bên phải (bên phải người điều khiến) của xe mô tô biển số 90B2 - 369.72, xe mô tô nằm đổ nghiêng sang phải, đầu xe quay về hướng huyện V, đuôi xe quay về hướng huyện K, gọi là dấu vết số 05. Đo từ trục bánh trước xe mô tô ra mép đường phải là 0,13m. Đo từ dấu vết số 04 xuôi hướng về huyện K 1,1 m và đo vuông góc vào mép đường phải 2,9m là chân phải của tử thi; gọi là dấu vết số 06. Tử thi là nam giới trong tư thế nằm sấp, mặc quần dài màu tím than, mặc áo dài tay kẻ sọc màu xanh trắng, nằm vuông góc với mặt đường, đầu hướng vào sườn đê, chân hướng ra lòng đường. Đo từ gót chân phải của tử thi ra mép đường phải là 0,78m, đo từ đỉnh đầu của tử thi ra mép đường phải là 2,14m. Đo từ cạnh ngoài bên trái cuối dấu vết số 02 (tính theo chiều phát triển của dấu vết) xuôi hướng về huyện K 9,3m và đo vuông góc vào mép đường trái 4,9m là má lốp ngoài bánh ngoài bên trái (bên trái người điều khiển) trục thứ tư (tính từ đầu xe về đuôi xe) của xe ô tô biển số 34C - 357.64; gọi là dấu vết số 07. Xe ô tô đang đỗ trên lề đường trái, đầu xe hướng huyện K, đuôi xe hướng huyện V. Đo từ má lốp ngoài bánh ngoài bên trái (bên trái người điều khiển) trục thứ tư (tính từ đầu xe về đuôi xe) vào mép đường phải là 8,7m. Đo từ má lốp ngoài bánh ngoài bên trái (bên trái người điều khiển) trục thứ ba (tính từ đầu xe về đuôi xe) vào mép đường phải là 8,45m. Đo từ má lốp ngoài bánh bên trái (bên trái người điều khiến) trục thứ hai vào mép đường phải là 8,2m. Đo từ má lốp ngoài bánh bên trái (bên trái người điều khiển) trục thứ nhất (tính từ đầu xe về đuôi xe) vào mép đường phải là 08m. Đo từ cạnh ngoài bên trái đầu dấu vết số 02 (tính theo chiều phát triển của dấu vết) xuôi hướng huyện V 11m và đo vuông góc vào mép đường trái 5,65m là chân cột Km94+200 làm điểm mốc. Ngoài những dấu vết, phương tiện trên, không phát hiện dấu vết, phương tiện nào khác.
- Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô BKS 34C - 357.64, xác định:
Tại vị trí cụm đèn pha và đèn xi nhan bên trái (bên trái người điều khiến)phía trước bị lực tác động làm nứt vỡ nhựa, để lộ toàn bộ hệ thống pha và bóng đèn bên trong; Tại vị trí ốp nhựa bảo vệ cụm đèn pha và đèn xi nhan bên trái (bên trái người điều khiển) phía trước, vị trí tiếp giáp với bậc lên xuống cabin bên trái (bên trái người điều khiển) phía trước, bị lực tác động làm nứt vỡ, bật nẫy, rời khỏi thân xe; Tại vị trí mặt ngoài góc trái (bên trái người điều khiển) ba đờ sốc phía trước bị lực tác động làm bẹp lõm kim loại, kích thước (30 x 07)cm, chiều phát triển từ trước về sau; tại vị trí này có vết mài miết bong tróc sơn, trên bề mặt dấu vết có chất bột bám dính màu đen; Tại vị trí khung kim loại bắt cụm đèn pha, đèn xi nhan và ba đờ sốc bên trái (bên trái người điều khiển) phía trước bị lực tác động làm nút vỡ kim loại; Tại vị trí mặt ngoài bậc lên xuống cabin bên trái (bên trái người điều khiển) có chất bám dính dạng mô mỡ, biểu bì và các sợi vải màu tím than, kích thước (40 x 03)cm, chiều phát triển từ trước về sau; Tại vị trí ốp nhựa phía dưới bậc lên xuống cabin bên trái (bên trái người điều khiển) có vết mài miết sạch bụi đất, kích thước (40 x 10) cm, chiều phát triển từ trước về sau; Tại vị trí mặt ngoài tai xe bên trái (bên trái người điều khiển), tiếp giáp với cánh cửa bên trái (bên trái người điều khiển) bị lực tác động làm nứt vỡ nhựa, bong tróc sơn, kích thước (09 x 24)cm; Tại vị trí mặt ngoài phía dưới cánh cửa bên trái (bên trái người điều khiển) có vết mài miết bong tróc sơn, làm sạch bụi đất, kích thước (62 x 40)cm, chiều phát triển từ trước về sau; trên bề mặt có chất bám dính dạng biểu bì, mô mỡ và máu; Tại vị trí mặt ngoài ốp nhựa chắn bùn bánh xe bên trái (bên trái người điều khiển) phía trước có vết mài miết sạch bụi đất, kích thước (58 x 10) cm, chiều phát triển từ trước về sau; Tại vị trí mặt ngoài cạnh bánh xe phía trước bên trái (bên trái người điêu khiển) của trục bánh xe thứ nhất (tính từ đầu xe về đuôi xe) có vết trượt xước, mài miết cao su, kích thước (15 x 30)cm; trên bề mặt dấu vết này dính nhiều biểu bì, mô mỡ và máu; chiều phát triển ngược chiều kim đồng hồ, điểm cuối vết cách đầu dòng chữ "BRIGE STONE" là 05 cm; Tại vị trí mặt ngoài ốp la zăng bánh xe bên trái (bên trái người điều khiến) phía trước của trục bánh xe thứ nhất (tính từ đầu xe về đuôi xe) có vết mài miết, trượt xước nhựa, kích thước (25 x 03)cm; điểm gần nhất cách chân van của bánh xe là 23 cm.
- Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển số 90B2 - 369.72, xác định:
Tại vị trí gương và góc gương chiếu hậu bên trái (bên trái người điều khiển) bị lực tác động làm nứt vỡ, bật rời khỏi thân xe; Tại vị trí cụm đèn pha và đèn xi nhan bị lực tác động làm nứt vỡ, bật rời khỏi thân xe; Tại vị trí ốp nhựa mặt nạ trang trí phía trước đầu xe và cụm đèn xi nhan phải, trái bị lực tác động làm nứt vỡ, gãy bật khỏi thân xe, để lộ dây dẫn điện và các thiết bị điện bên trong; Tại vị trí cánh yếm chắn gió bên phải, bên trái bị lực tác động làm nứt vỡ nhựa, bật rời khỏi xe; Tại vị trí đầu tay nắm tay lái bên trái (bên trái người điều khiển) có vết mài miết sạt nhựa, kích thước (2,5 x 02)cm, chiều phát triển từ trước về sau; Tại vị trí đầu chắn bùn phía trước có vết nứt vỡ nhựa, kích thước (20 x12)cm; trên bề mặt dấu vết có chất bám dính màu đen dạng sơn, chiều phát triển từ trước về sau; Tại vị trí bánh xe phía trước bị lực tác động làm bánh xe bị đẩy ép sát chắn bùn, tại vành bánh xe có vết bẹp lõm kim loại, kích thước (10 x 01)cm; Tại vị trí dây phanh phía trước bị lực tác động làm bật rời khỏi vị trí ban đầu; Tại vị trí ốp nhựa bảo vệ sườn xe bên trái (bên trái người điều khiển) phía sau bị lực tác động làm nứt vỡ, trượt xước nhựa, bong tróc sơn, kích thước (20 x40)cm; tại vị trí này có chất bám dính dạng biểu bì, mô mỡ và máu; Tại vị trí cần số xe bị lực tác động làm cong gập, biến dạng từ trước về sau, ép sát thân xe; Tại vị trí cần để chân bên trái (bên trái người điều khiền) phía trước bị lực tác động từ trước về sau, làm cong gập, thay đổi so với vị trí ban đầu một góc khoảng 60°; Tại vị trí để chân bên trái (bên trái người điều khiển) phía sau bị lực tác động làm bật rời khỏi thân xe; Tại vị trí đầu cần tay phanh bên phải (bên phải người điều khiển) có vết mài miết kim loại, kích thước (01 x 01)cm; trên vết này có chất bám dính đất, cát; Tại vị trí đầu cần để chân bên phải (bên phải người điều khiển) phía trước có vết mài miết, rách cao su, kích thước (03 x 03)cm; Tại vị trí đầu cầu để chân bên phải (bên phải người điều khiển) phía sau có vết mài miết, xước kim loại, kích thước (03 x 0,5)cm; Tại vị trí ốp nhựa bảo vệ sườn xe bên phải (bên phải người điều khiển) phía sau có vết trượt xước nhựa, kích thước (18 x 15) cm; trên bề mặt có đất, cát bám dính; Tại vị trí mặt ngoài yên xe bên phải (bên phải người điều khiển) phía trước có vết bám bụi đất, cát, kích thước (04 x 20)cm; Tại vị trí quai xe bên phải (bên phải người điều khiển) phía sau có vết mài miết kim loại, bong tróc sơn, kích thước (12 x 03)cm.
- Kết quả khám nghiệm tử thi Đào Xuân X, xác định:
Tử thi được xác định là ông Đào Xuân X sinh năm1968 ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam.
Đặc điểm trang phục và vật dụng mang theo: Mặc ngoài áo vải dài tay, dạng áo chống nắng kẻ sọc xanh - trắng, áo có mũ, bám dính chất bẩn, chất màu nâu đỏ, khóa áo bung ra khỏi khuy khóa. Mặt trước thân áo bên trái, cách gấu áo 03 cm, cách đường chỉ thân áo trái 14cm, có vết rách vải, kích thước (09 x 03)cm. Mặt trước thân áo bên trái, cách gấu áo 40cm, cách đường chỉ thân áo trái 05cm, có đám rách vải, kích thước (25 x 16)cm; Mặc ngoài quần vải dài màu tím than, quần bám dính chất bẩn, chất màu nâu đỏ. Mặt trước ống quần bên trái, cách cạp quần 12cm, sát đường chỉ ngoài, có đám rách vải, kích thước (90 x 20)cm.
- Vùng đầu, mặt: Tử thi hai mắt nhắm, nhãn cầu hai bên không tổn thương; Ống tai ngoài bên phải chảy máu, ống tai ngoài bên trái không chảy máu; Hai lỗ mũi chảy máu; Miệng ngậm, lưỡi nằm trong cung răng, hệ thống răng không tổn thương; Vùng trán, thái dương, má bên phải, sát đường giữa, sát chân tóc trán, có đám sây sát trợt da, kích thước (20 x 13)cm; Vùng cổ: Mặt trước, mặt bên, mặt sau cổ bên trái, cách mỏm cằm 05cm, sát đường giữa, có đám rách toác da sâu, kích thước (20 x 08) cm; Vùng ngực, bụng:Vùng ngực hai bên nằm trên đường giữa, sát bờ dưới xương đòn hai bên, có đám sây sát da sưng nề, kích thước (34 x 25)cm; Kiểm tra vùng ngực thấy gãy xương đòn bên trái, gãy xương ức, gãy cung trước các xương sườn số 1, 2, 3, 4, 5, 6 bên phải, gãy cung trước và cung bên các xương sườn số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 bên trái; Vùng bụng hai bên nằm trên đường giữa, cách khớp mu 14cm, có đám sây sát da, kích thước (15 x 05)cm.
- Vùng lưng, chậu hông: không phát hiện tổn thương; Kiểm tra xương chậu hai bên vững; Hậu môn không bài tiết phân, bộ phận sinh dục ngoài không tổn thương.
- Bộ phận khác: Hai tay: Mu bàn tay phải và vùng liên đốt bàn ngón 1, có đám sây sát da, kích thước (10 x 03)cm. Mặt trước trong đoạn 1/3 trên cánh tay trái, có đám sây sát da bầm tím, kích thước (15 x 08)cm. Mu bàn tay trái có vết sây sát da, kích thước (11 x 09)cm; Hai chân: Mặt ngoài đùi phải, cách mào chậu phải 24cm, có vết bầm tím, kích thước (05x03) cm. Mặt trước cẳng chân phải, cách bờ dưới xương bánh chè 06cm, có vết sây sát da, kích thước (03 x 01)cm. Vùng đùi trái có đám sây sát, rách da sưng nề, kích thước (40 x 30)cm. Kiểm tra thấy gãy xương đùi trái tại đoạn 1/3 dưới. Mặt trong gối trái có vết bầm tím, kích thước (07 x 05) cm. Đoạn 1/3 dưới cẳng chân, mu bàn chân, gót chân trái có đám rách da, kích thước (20 x 18)cm. Kiểm tra thấy gãy hai xương cẳng chân trái thành nhiều mảnh, gãy vỡ xương gót chân trái; Mổ vết thương vùng cổ bên trái thấy tổ chức dưới da, cơ bầm tụ máu, rách đứt các cơ, mạch máu vùng cổ trái, gãy vỡ các xương đốt sống cổ số 5,6,7 kích thước (08 x 05)cm.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số: 112/KL-GĐTT-PC09 ngày 05/6/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh H, xác định nguyên nhân chết của ông Đào Xuân X, sinh năm: 1968 ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam là do “Đa chấn thương, gồm chấn thương cột sống cổ, chấn thương ngực kín”.
Về vật chứng:
Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô tải biển số 34C-357.64 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Thế T1, sinh năm 1977 ở thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương. Anh T1 thuê Phạm Đức Đ lái xe để chở cát cho các công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Chiếc xe mô tô biển số 90B2-369.72 là tài sản hợp pháp của ông Đào Xuân X. Ngày 12/6/2024 và ngày 11/7/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô biển số 34C -357.64 cùng toàn bộ giấy giờ liên quan cho anh T1; trả lại chiếc xe mô tô biển số 90B2 – 369.72 cùng toàn bộ giấy tờ liên quan cho con trai ông X là anh Đào Văn T2 sinh năm 1993 ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam. Anh T1, anh T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu đề nghị gì.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Phạm Đức Đ đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Đào Xuân X với tổng số tiền là 250.000.000đ, trong đó bao gồm tiền mai táng phí và tiền sửa chữa, thay thế chiếc xe mô tô bị hư hỏng trong vụ tai nạn. Đại diện gia đình người bị hại đã nhận tiền, không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho cáo.
Tại bản cáo trạng số 96/CT-VKSKC, ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố Phạm Đức Đạt về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS.
Tại phiên toà hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm nhân dân huyện K trình bày quan điểm: Giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Đ và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm a khoản 1, 5 Điều 260; Khoản 1,2,5 Điều 65; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 41 của BLHS; khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Đ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Cấm bị cáo hành nghề lái xe từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, đại diện VKS nhân dân huyện K còn đề xuất đường lối xử lý vật chứng.
- Bị cáo Đ trình bày: Thừa nhận bị cáo là người gây tai nạn cho ông X là do bị cáo chủ quan, thiếu quan sát, điều khiển phương tiện tham gia giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ nhưng đi không đi đúng phần đường quy định; Không tuân thủ quy định về khoảng cách an toàn trong các trường hợp phải giảm tốc độ dẫn đến tai nạn giao thông đường bộ với xe mô tô biển số 90B2 -369.72 do ông X điều khiển gây hậu quả nghiêm trọng làm ông X bị chết. Được nói lời sau cùng bị cáo rất hối hận vì sự cẩu thả, chủ quan của mình, đề nghị HĐXX cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội lao động kiếm tiền giúp đỡ gia đình.
- Tại phiên toà hôm nay, đại diện hợp pháp của ông X đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đào Văn T2, anh Đào Văn D, chị Đào Thị Thanh L và người làm chứng là anh Nguyễn Văn Đ1 đã được triệu tập tham gia phiên toà nhưng bà T3, anh T2, anh D và chị L vắng mặt có lý do còn anh T1 và anh Đ1 vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án, họ đã có lời khai, quan điểm rõ ràng, việc vắng mặt của họ tại phiên tòa hôm nay, không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 của BLTTHS vẫn tiến hành xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp cho các bị hại và những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp đúng pháp luật.
- Về tội danh và điều luật áp dụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đ đã thừa nhận bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã được cấp giấy phép lái xe hạng C do Sở Giao thông Vận tải tỉnh H cấp ngày 03/8/2023 có giá trị đến ngày 03/8/2028, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 34C-357.64 đi trên đường Đ theo hướng từ huyện V, tỉnh Hưng Yên về huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nhưng trong lúc điều khiển phương tiện là nguồn nguy hiểm cao độ do chủ quan, bị cáo không chấp hành Luật giao thông đường bộ, đi không đúng làn đường, phần đường quy định, vượt xe khi có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, đã vi phạm khoản 1 Điều 9; điểm a khoản 5 Điều 14 của Luật giao thông đường bộ. Nên phần đầu xe ô tô biển số 34C – 357.64 (phía bên trái người điều khiển) đã đâm vào phía trước của xe mô tô biển số 90B2 -369.72. Hậu quả: ông X chết tại hiện trường, 02 phương tiện giao thông bị hư hỏng. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông; Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; Biên bản khám nghiệm tử thi; Bản kết luận giám định pháp y về tử thi; Các biên bản làm việc với đại diện hợp pháp của người bị hại đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T; Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thế T1, anh Đào Văn T2, anh Đào Văn D, chị Đào Thị Thanh L; lời khai của người làm chứng là anh Nguyễn Văn Đ1 và phù hợp với tất cả các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ ngày 03/6/2024, Phạm Đức Đ điều khiển xe ô tô tải biển số 34C- 357.64 đi trên đường Đ hướng huyện V, tỉnh Hưng Yên về huyện K, tỉnh Hưng Yên. Khi đến địa phận thôn P, xã T, huyện K, Đ điều khiển xe ô tô đi không đúng phần đường quy định nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 90B2-369.72 do ông Đào Xuân X điều khiển đi hướng ngược chiều. Hậu quả: Ông X chết tại hiện trường. Lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Do đó, bị cáo Đ bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu truy tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Xét về nhân thân: Ngày 10/3/2016, bị cáo từng bị Công an huyện T, tỉnh Hải Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” chấp hành xong quyết định ngày 14/3/2016.
- Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và được đại diện của bị hại và những người có quyền lợi, nhĩa vụ liên quan có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bản thân bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương được UBND xã nơi bị cáo cư trú xác nhận. Nên bị cáo Đ được áp dụng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 (02 tiết) Điều 51 của BLHS. Ngoài ra, trong hồ sơ thể hiện sau khi gây tai nạn bị cáo giữ nguyên hiện trường và đến cơ quan công an huyện K đầu thú, nhưng bị cáo không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là đầu thú bởi lẽ tại điểm b khoản 1 Điều 38 của Luật giao thông đường bộ có quy định về Trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra tai nạn giao thông là: “b. Ở lại nơi xảy ra tai nạn cho đến khi người của cơ quan công an đến, trừ trường hợp người điều khiển phương tiện cũng bị thương phải đưa đi cấp cứu hoặc phải đưa người bị nạn đi cấp cứu hoặc vì lý do bị đe dọa đến tính mạng, nhưng phải đến trình báo ngay với cơ quan công an nơi gần nhất” và khoản 17 Điều 8 của của Luật giao thông đường bộ có Quy định về các hành vi bị nghiêm cấm “ ...Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm”. Như vậy, từ đầu đến cuối bị cáo khẳng định bị cáo không có ý định bỏ trốn nhằm trốn tránh trách nhiệm hình sự, thì việc bị cáo có mặt, trình diện tại cơ quan điều tra là trách nhiệm của bị cáo chứ không phải đầu thú.
Từ những nhận định, phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015, lần phạm tội này là lỗi vô ý do cẩu thả nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng khoản 1,2,5 Điều 65 của BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đảm bảo được tính nghiêm minh, đủ để răn đe cải tạo bị cáo thành công dân có ích. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện khai báo theo khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách. Người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu về việc đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “đầu thú” được quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS cho bị cáo là không có căn cứ, nên không được chấp nhận. Tuy nhiên, các đề nghị khác như về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo là vẫn phù hợp, có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội khi đang hành nghề lái xe nhưng lại vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, lỗi của bị cáo Đ là lỗi vô ý do cẩu thả. Bản thân bị cáo là người trực tiếp chứng kiến toàn bộ quá trình xảy ra tai nạn, dẫn đến việc tinh thần hoảng loạn nên cần cho bị cáo có một thời gian nhất định để ổn định tinh thần. Vì vậy, cần áp dụng Điều 41 và khoản 5 Điều 260 của BLHS, cấm bị cáo Đ hành nghề lái xe thời hạn là 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã tự nguyện đến gặp gỡ, bồi thường dân sự cho gia đình bị hại với tổng số tiền là 250.000.000đ, bao gồm tiền mai táng phí, chi phí sửa chữa, thay thế chiếc xe mô tô bị hư hỏng trong vụ tai nạn. Đại diện gia đình ông X đã đồng ý nhận số tiền trên, không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì thêm nữa, nên HĐXX không đặt ra giải quyết.
- Về vật chứng: Quá trình điều tra ngày 12/6/2024 và ngày 11/7/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô biển số 34C -357.64 cùng toàn bộ giấy giờ liên quan cho anh T1; trả lại chiếc xe mô tô biển số 90B2 – 369.72 cùng toàn bộ giấy tờ liên quan cho con trai ông X là anh T2. Anh T1, anh T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu cầu đề nghị gì.
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 136 của BLTTHS. Cần buộc bị cáo Đ phải chịu án phí HSST là 200.000₫.
Riêng về 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Phạm Đức Đ do Sở Giao thông Vận tải tỉnh H cấp ngày 03/8/2023 thì cần áp dụng khoản 3 Điều 106 của BLTTHS tuyên trả cho bị cáo Đ nhưng tạm quản lý tại hồ sơ vụ án trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt bổ sung.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ:
Điểm a khoản 1, 5 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 khoản, khoản 1,2,5 Điều 65; Điều 41 của BLHS năm 2015; Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 1992.
Tuyên bố:
Bị cáo Phạm Đức Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt:
Bị cáo Phạm Đức Đ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/9/2024). Giao bị cáo Đ cho UBND xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện khai báo theo khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung:
Cấm bị cáo Đ hành nghề lái xe thời hạn là 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về vật chứng:
Căn cứ khoản 3 Điều 106 của BLTTHS năm 2015.
Trả lại cho bị cáo Phạm Đức Đ 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Phạm Đức Đ do Sở Giao thông Vận tải tỉnh H cấp ngày 03/8/2023 nhưng tạm quản lý tại hồ sơ vụ án trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt bổ sung.
Về án phí:
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015. Buộc bị cáo Đ phải chịu án phí HSST là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331; Điều 333 của BLTTHS năm 2015. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/9/2024). Báo cho đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hương |
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa
Nơi nhận:
- TAND tỉnh HY;
- VKSND tỉnh HY;
- VKSND huyện KC;
- Công an huyện KC;
- Chi cục THADS huyện KC;
- Bi cáo;
- UBND xã Phượng Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương;
- Lưu HSVA.
Nguyễn Thị Thu Hương
Bản án số 94/2024/HSST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 94/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Đức Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
