Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ KON TUM

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HS-ST

Ngày 09 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Loan
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tiên và ông Nguyễn Văn Long.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Tô Quang Đô – Thư ký TAND thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Cẩm Nga – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Văn H sinh ngày 30 tháng 11 năm 2001 tại tỉnh Kon Tum; Nơi cư trú: Số F P, tổ H, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Thợ sắt; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T và bà Nguyễn Thị Thanh L; tiền án: Không, tiền sự: Không. Nhân thân tốt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Hải N, sinh năm 1986
  2. Trú tại: Hẻm L, làng P, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).

  3. Ông Võ Văn T, sinh năm 1965.
  4. Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1964.
  5. Cùng trú tại: Số F P, tổ H, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum (đều có mặt);

- Người tham gia tố tụng khác:

  • Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1973
  • Trú tại: Tổ H, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 05/3/2024, Tổ công tác Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum đang tuần tra kiểm soát trên đường P, phường D, thành phố K thì phát hiện Trần Hải N đang đi trên đường có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần sau bên phải của N có 02 bì ni lông trong suốt dán kín, bên trong có chứa vụn lá cây thực vật khô (nghi là ma túy) nên tiến hành thu giữ. Trần Hải N khai nhận vụn lá cây thực vật khô trên là ma túy, loại cần sa, N mua của H (trú tại 60/08, đường P, tổ H, P.D, TP ., tỉnh Kon Tum) vào khoảng 10 giờ ngày 05/3/2024 với giá là 200.000 đồng và cất giấu để sử dụng. Tổ công tác Công an thành phố K đã mời người chứng kiến, lập biên bản niêm phong tang vật, thu giữ các đồ vật và tài liệu có liên quan để giải quyết theo quy định.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Võ Văn H. Võ Văn H khai nhận: Vào khoảng 18 giờ ngày 10/01/2024, H đang đi bộ gần khu vực vòng xuyến D (phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum) thì gặp Ú (Chưa xác định nhân thân lai lịch) đang đứng bên lề đường. Thông qua quan hệ xã hội trước đó, biết Ú bán ma túy nên H tiến lại hỏi mua 300.000 đồng ma túy loại cần sa thì Ú đồng ý. H đưa tiền và Ú đưa lại cho H 01 bì ni lông dán kín, bên trong chứa ma túy dạng vụn lá thực vật khô. Sau khi mua được ma túy, H mang bì ni lông chứa ma túy này về nhà tại số F P, tổ H, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum và lấy một ít ma túy ra sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, H phân số ma túy còn lại thành 02 gói ma túy nhỏ hơn được đựng trong 02 bì ni lông dán kín và cất giấu trong phòng ngủ để sử dụng dần. Tuy nhiên, do chuẩn bị cưới vợ nên H không có nhu cầu sử dụng số ma túy này nữa và nảy sinh ý định bán lại để kiếm lời. Đến khoảng đầu tháng 02/2024, Võ Văn H đang đi chơi thì gặp Trần Hải N là bạn bè quen biết ngoài xã hội. Biết N có sử dụng ma túy cần sa nên H nói cho N biết hiện tại H còn một ít ma túy cần sa không sử dụng nữa, nếu N có mua thì đến nhà H bán rẻ lại cho.

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05/3/2024, N đến nhà H mua 200.000 đồng ma túy loại cần sa. Sau khi nhận của N 200.000 đồng gồm 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, H đi vào phòng ngủ lấy 02 bì ni lông chứa ma túy cất giấu trước đó đưa cho N. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi N đang đi bộ trên đường P, phường D, thành phố K thì bị Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum kiểm tra, phát hiện và thu giữ 02 bì ni lông trong suốt, dán kín, bên trong có chứa vụn lá cây thực vật khô là ma túy loại cần sa nêu trên.

Tại Kết luận giám định số: 67/KL-KTHS ngày 11/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh K đã kết luận:

“- Mẫu vụn lá cây thực vật khô (Kí hiệu M1) trong bì ni lông, trong suốt, dán kín được niêm phong trong phong bì dán kín có chữ ký của những người liên quan và hình dấu tròn của Công an phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum gửi giám định có khối lượng là 2,525 gam.

- Mẫu vụn lá cây thực vật khô (Kí hiệu M2) trong bì ni lông, trong suốt, dán kín được niêm phong trong phong bì dán kín có chữ ký của những người liên quan và hình dấu tròn của Công an phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum gửi giám định có khối lượng là 2,737 gam.

- Phòng K - Công an tỉnh K không đủ trang thiết bị, phương tiện và mẫu chuẩn để tiến hành giám định mẫu vụn lá cây thực vật khô (kí hiệu M!; M) gửi giám định. Đề nghị Cơ quan CSĐT - Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum trưng cầu Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng giám định”.

Ngày 12/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an T ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số: 288/QĐ-Đ.KT-MT trưng cầu Phân viện Khoa học hình sự tại TP . giám định chất ma túy trong các mẫu trên.

Tại bản Kết luận giám định số 523/KL-KTHS ngày 13/3/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP . đã kết luận: “Các mẫu thực vật khô (dạng vụn lá cây) đựng trong túi ni lông ký hiệu M1 và M2, trong niêm phong gửi giám định đều có tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA”.

Tại bản cáo trạng số 80/CT-VKSTPKT ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo Võ Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1.Tuyên bố bị cáo Võ Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 ;

Xử phạt bị cáo Võ Văn H từ 24 – 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (05/3/2024).

Bị cáo không có việc làm ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình, không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Hội đồng xét xử thấy rằng các hành vi tiến hành tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, cũng như các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố K, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum trong quá trình điều tra, truy tố đều đảm bảo thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không có người tham gia tố tụng nào khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trước đây tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để khẳng định:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05/3/2024, tại nhà của Võ Văn H ở số F, đường P, tổ H, P.D, TP ., tỉnh Kon Tum, Võ Văn H đã có hành vi bán chất ma túy MDMB-4en-PINACA cho Trần Hải N với tổng khối lượng là 5,262 gam. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo Võ Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét thấy: Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, có tác hại xấu đến sức khỏe thể chất và tâm thần người sử dụng, từ đó, dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội khác nên được Nhà nước quản lý chặt chẽ và độc quyền. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thể chất cho bản thân nói riêng và đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nói chung, là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự hiện hành, cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có công việc không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự hiện hành đối với bị cáo.

[7] Trong vụ án, còn có đối tượng tên Ú đã bán ma túy cho Võ Văn H. Hiện nay, chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K tách ra, tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau là phù hợp.

Đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của anh Trần Hải N: Hành vi của anh N không đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự hiện hành. Tuy nhiên, hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Trần Hải N đã vi phạm điểm a, Khoản 2, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Ngày 14/3/2024, Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Hải N về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với số tiền 3.500.000 đồng là đúng quy định pháp luật.

[8] Về vật chứng vụ án:

Đối với 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng có số seri lần lượt là RL13974790 và CR17877176, được niêm phong trong phong bì dán kín, tại mép dán có chữ ký của những người liên quan và các hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường D, thành phố K, ký hiệu “TIỀN”. Đây là số tiền bị cáo H có được do bán ma túy cho anh Trần Hải N nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động dạng cảm ứng, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, được niêm phong trong phong bì dán kín, tại mép dán có chữ ký của những người liên quan và các hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường D, thành phố K, ghi chữ “ĐT HƯNG”: Đây là tài sản của bị cáo H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

01 điện thoại di dộng dạng cảm ứng, mặt sau có chữ SAMSUNG, đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì dán kín, có chữ ký của những người liên quan và các hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường D, thành phố K, ghi chữ “ĐT”: Đây là điện thoại của anh Trần Hải N, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho anh N.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017;

    Xử phạt: Bị cáo Võ Văn H 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (05/3/2024).

  3. Về xử lý vật chứng:
  4. Áp dụng vào Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tuyên:

    Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng có số seri lần lượt là RL13974790 và CR17877176, được niêm phong trong phong bì dán kín, tại mép dán có chữ ký của những người liên quan và các hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường D, thành phố K, ký hiệu “TIỀN”;

    Trả lại cho bị cáo Võ Văn H 01 điện thoại di động dạng cảm ứng, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, được niêm phong trong phong bì dán kín, tại mép dán có chữ ký của những người liên quan và các hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường D, thành phố K, ghi chữ “ĐT HƯNG”;

    Trả lại cho anh Trần Hải N 01 điện thoại di dộng dạng cảm ứng, mặt sau có chữ SAMSUNG, đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì dán kín, có chữ ký của những người liên quan và các hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường D, thành phố K, ghi chữ “ĐT” .

    (Theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum).

  5. Về án phí:
  6. Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Võ Văn H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Căn cứ vào các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

    Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/7/2024), bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm.

Người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND Tp. Kon Tum;
  • - Sở tư pháp tỉnh Kon Tum;
  • - Công an Tp. Kon Tum;
  • - Chi cục THADS Tp. Kon Tum;
  • -Bị cáo; Người có QL,NVLQ;
  • - Lu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lê Thị Phương Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 94/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt hình phạt tù có thời hạn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger