|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 94/2024/HS-ST
Ngày: 10-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Thành Viên.
- Bà Châu Thị Lệ .
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thu Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Kim Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Uông Từ L, sinh năm: 1993, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 247 đường Q, Khu phố D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 2 đường N, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Uông Văn L1 và bà Từ Thị D; Có vợ tên Nguyễn Thị Thanh H và 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2022; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ, tạm giam ngày: 01/01/2024; (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, Tổ công tác Công an P, quận G kết hợp Tổ tuần tra 363 Công an quận G tiến hành kiểm tra và bắt quả tang đối tượng Uông Từ L có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại số A đường P, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 (một) gói bằng tờ tiền 5.000 đồng chứa chất bột màu trắng (m1); 01 (một) gói bằng tờ tiền 2 USD chứa chất bột màu trắng (m2) và đoạn ống nhựa màu đen, tất cả được niêm phong thành một gói, bên ngoài có chữ ký ghi tên U Từ L và hình dấu tròn của Công an P, quận G.
- - 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (m3) được niêm phong thành một gói bên ngoài có chữ ký ghi tên U Từ L và hình dấu Công an P, quận G.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone đã qua sử dụng có số sim 0977774749.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, Uông Từ L sử dụng xe máy Yamaha biển số 5962 – 085.25 chở vợ là Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1994, nơi cư trú: 220/28/6 đường N, Phường 1, quận G từ nhà L đến dự tất niên nhà ông H1 (là chú quen biết với L ngoài xã hội) ở khu vực phường Đ. Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến nhà ông H1, L gặp ông H1 và em trai cùng cha khác mẹ là Nguyễn Từ T, sinh năm 1996, HKTT: số H đường L, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh và Trần Hoàng Đức H2, sinh năm: 1999, HKTT: số A đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là bạn của T cùng một số người bạn nữa. L nhậu đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì muốn sử dụng ma tuý tổng hợp Ketamine nên L một mình đi bộ ra trước ngõ nhà ông H1, rồi sử dụng điện thoại di động iphone sim số 0977.774.xxx vào mạng xã hội messenger tên tài khoản là “Linh Uông” gọi cho một người bạn quen qua mạng messenger có tên tài khoản là “Quang L2” để đặt mua ma tuý tổng hợp Ketamine với số tiền 2.000.000 đồng, Quang L2 đồng ý, hẹn Từ Linh khoảng 45 phút sau sẽ mang ma tuý tới cho Từ L. Sau khi đặt ma tuý với Quang L2 xong, Từ L2 đi vào nhậu tiếp cùng H2, T và mọi người, L2 không nói cho ai biết việc đặt mua ma tuý. Khoảng 45 phút sau thì Quang L2 đi xe máy tới, gọi Từ L2 ra và giao cho Từ L một gói ma tuý tổng hợp Ketamine, do Từ L đã mua ma tuý của Quang L2 nhiều lần nên Từ L2 nói với Quang L2 để sáng mai trả tiền thì Quang L2 đồng ý rồi điều khiển xe máy đi đâu không biết. Sau khi mua được gói ma tuý thì Từ L một mình đi vào trong toilet nhà ông H1 lấy một ít ma tuý trong gói nylon bỏ ra 2 tờ tiền, 01 tờ 5.000 đồng và 1 tờ 2 USD, mỗi tờ một ít để xào ma tuý Ketamine để sử dụng, số ma tuý trong gói nylon còn lại Từ L cất giấu vào túi quần trước bên trái. Sau đó, Từ L sử dụng một ít ma tuý trong tờ tiền 5.000 đồng rồi gói lại cất trong túi quần cùng với gói nylon chứa ma tuý và gói ma tuý gói bằng tờ tiền 2 USD đã xào sẵn, rồi đi ra ngoài. Lúc này, khoảng 24 giờ cùng ngày, vợ Từ L thấy Từ L xỉn nên chở Từ L và con trai về. Khi về tới đầu đường N, phường T, Quận A thì vợ Từ L dừng xe để mua cơm tấm. Lúc này, T cũng lái xe ô tô biển kiểm soát 51A – 140.42 chở H2 đi tới. Thấy Từ L xỉn nên T nói lên xe ô tô để T chở về, Từ L đồng ý lên xe ô tô của T. T lái xe, H2 ngồi ghế phụ phía trước, thấy vậy Từ L lên ngồi phía sau H2. Khi ngồi lên xe ô tô, Từ L lấy gói ma tuý được gói trong tờ tiền 5.000 đồng từ trong túi quần bên trái đang mặc bỏ vào hộc tay nắm cửa xe ô tô bên phải để sử dụng tiếp. Lúc đó vợ Từ L nói Từ L lên ngồi phía trước xe cho đỡ say thì H2 xuống ngồi phía sau, Từ L lên ghế phụ ngồi, Từ L vẫn để gói ma tuý gói bằng tờ tiền 5.000 đồng ở tay nắm cửa sau. Khi lên ngồi trên ghế phụ, Từ L lấy gói ma tuý trong tờ tiền 02 USD mà Từ L cất trong túi quần trái ra sử dụng tiếp. Khi đến trước địa chỉ số A đường P, Phường 1, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì Tổ công tác 363 Công an quận G cùng Công an P, quận G đang làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện thu giữ ma túy như trên.
Từ L đã khai nhận gói nylon chứa tinh thể không màu là của Từ L và chất bột màu trắng bên trong 2 tờ tiền (5.000 đồng và 2 USD) cùng đoạn ống nhựa màu đen trên xe ô tô là ma tuý tổng hợp Ketamine của Từ L mua để sử dụng, nhưng chưa sử dụng hết thì bị Công an bắt. Lúc này thì T và H2 mới biết số ma tuý mà Công an đã thu giữ là của Từ L và chứng kiến sự việc. Công an đã thu giữ, niêm phong và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Từ L về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Vật chứng vụ án: 02 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên U Từ L và hình dấu Công an P, quận G. Căn cứ giám định số 716/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:
- Gói 1:
- + Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2010g (không phẩy hai không một không gam), loại Ketamine.
- + Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0448g (không phẩy không bốn bốn tám gam), loại Ketamine.
- Gói 2:
- + Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m3 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9588g (không phẩy chín năm tám tám gam), loại Ketamine.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone đã qua sử dụng có số sim 0977774749.
Đối với đối tượng có tài khoản mạng xã hội messenger tên "Quang L2” bán ma tuý cho Từ L2 do chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục áp dụng các biện pháp điều tra xác minh, khi nào xác định được sẽ đề nghị xử lý sau theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Từ T, Trần Hoàng Đức H2, Nguyễn Thị Thanh H khai nhận không biết việc L2 có cất giấu ma tuý và sử dụng ma túy trên xe vì lúc đó ai cũng mệt và ngủ say, T thì tập trung lái xe nên không biết. Khi Công an kiểm tra xe ô tô và thu giữ ma tuý như nêu trên thì Nguyễn Từ T, Trần Hoàng Đức H2, Nguyễn Thị Thanh H mới biết và chứng kiến sự việc, nên không có căn cứ xác định Nguyễn Từ T, Trần Hoàng Đức H2, Nguyễn Thị Thanh H đồng phạm với Uông Từ L.
Tại bản Cáo trạng số 101/CT-VKS-GV, ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Uông Từ L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
- - Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Xử phạt bị cáo Uông Từ L từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.
- - Áp dụng vào Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- - Tịch thu và tiêu hủy lượng ma túy thu giữ.
- - Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone đã qua sử dụng có số sim 0977774749.
Tại phiên tòa khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, tại trước số nhà A đường P, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng 1,2046g, loại Ketamine, mục đích để sử dụng. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 101/CT-VKS-GV, ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: không có.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với ma túy thu giữ qua giám định là ma túy, loại Ketamine là chất Nhà nước cấm tàng trữ, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone đã qua sử dụng có số sim 0977774749 thu giữ của bị cáo, bị cáo sử dụng liên lạc mua ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với đối tượng có tài khoản mạng xã hội messenger tên "Quang L2” bán ma tuý cho bị cáo do chưa xác định được nhân thân, lại lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận G tiếp tục xác minh, điều tra khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Từ T, Trần Hoàng Đức H2, Nguyễn Thị Thanh H khai nhận không biết việc bị cáo có cất giấu ma tuý và sử dụng ma túy trên xe. Khi Công an kiểm tra xe ô tô và thu giữ ma tuý như nêu trên thì Nguyễn Từ T, Trần Hoàng Đức H2, Nguyễn Thị Thanh H mới biết và chứng kiến sự việc nên không có căn cứ xác định Nguyễn Từ T, Trần Hoàng Đức H2, Nguyễn Thị Thanh H đồng phạm với Uông Từ L.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[10] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Uông Từ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo U Từ L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 01/01/2024.
Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) gói nylon bên trong chứa tinh thể rắn không màu, được niêm phong thành một gói bên ngoài có chữ ký ghi tên Uông Từ L và hình dấu của Công an P, quận G.
- - Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone đã qua sử dụng có số sim 0977774749.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 32/PNK ngày 22/02/2024 của Công an quận G)
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Châu Ly |
Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 94/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Uông Từ L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
