Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HS-ST

Ngày 11-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Bảo Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Thanh Nhàn;
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như và bà Phan Thanh H – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Trọng H1 (tên thường gọi: T), sinh năm 1972; nơi sinh: Tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trọng K (đã chết) và bà Lê Thị H2; vợ: Nguyễn Thị Hồng P (cùng là bị cáo trong vụ án); con: 02 người, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/12/2023, tạm giam từ ngày 09/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh. Ngày 29/3/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay.

2. Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1980; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị N; chồng: Lê Trọng H1 (cùng là bị cáo trong vụ án), con: 02 người, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân: Ngày 03/4/2018, Ủy ban nhân dân huyện C xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7.500.000 đồng về hành vi “Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép”, nộp phạt ngày 11/4/2018, đủ thời hạn được coi là chưa bị xử phạt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/01/2024 cho đến nay.

3. Nguyễn Bảo Q, sinh năm 1985; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X (đã chết) và bà Nguyễn Thị X1; vợ: Tô Thị T1 (cùng là bị cáo trong vụ án), con: 02 người, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân:

  • + Ngày 13/9/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đương nhiên được xoá án tích.
  • + Ngày 26/02/2008, bị Tòa án nhân dân thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong toàn bộ bản án, được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2023, tạm giam từ ngày 09/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh. Ngày 29/3/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay.

4. Tô Thị T1 (tên thường gọi: M M), sinh năm 1994; nơi sinh: Thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn T2 và bà Lê Thị H3; chồng: Nguyễn Bảo Q (cùng là bị cáo trong vụ án), con: 02 người, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 31/12/2023, đến ngày 09/01/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

5. Trần Lệ T3, sinh năm 1965; nơi sinh: Tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hải T4 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T5 (đã chết); chồng: Lê Văn L (đã chết), con: 02 người, lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1994; tiền sự: Không có.

Tiền án:

  • + Bản án số 18/HSST ngày 12/6/1999 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”, tổng hợp với Bản án số 27/HSST ngày 12/6/1991 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh là 05 năm 07 tháng 04 ngày tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2001.
  • + Bản án số 110/HSST ngày 15/10/2004 của Tòa án nhân thị xã T, tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm p Điều 46, điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/01/2007.
  • + Bản án số 202/2007/HSST ngày 22/11/2007 của Tòa án nhân dân thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/5/2012.
  • + Bản án số 23/2013/HSST ngày 26.3.2013 của Tòa án nhân dân thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt 03 năm tù về tội “rộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2015.
  • + Bản án số 23/2016/HSST ngày 12-8-2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm a khoản 3 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46; điểm a, g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/7/2022.

Nhân thân:

  • + Năm 1989, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”.
  • + Ngày 25/4/1990, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
  • + Ngày 12/6/1991, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
  • + 05 tiền án.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2023, tạm giam từ ngày 09/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh. Ngày 29/3/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay.

6. Nguyễn Văn H4, sinh năm 1985; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân: Ngày 10/8/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội Cố gây thương tích, đương nhiên được xoá án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ từ ngày 31/12/2023, ngày 09/01/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ cho đến nay.

7. Trần Thanh H5, sinh năm 2002; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh V và bà Nguyễn Thị Mỹ L1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ từ ngày 31/12/2023, ngày 09/01/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ cho đến nay.

8. Nguyễn Văn L2 (tên thường gọi: B), sinh năm 1975; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị T5 (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân:

  • + Ngày 17/5/1994, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Nnh xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, được xóa án tích.
  • + Ngày 21/8/1995, Tòa án nhân dân thị xã Tây Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
  • + Ngày 03/9/1999, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phúc thẩm, xử phạt 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/12/1999, được xóa án tích.
  • + Ngày 23/3/2004, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt xử phạt 02 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, chấp hành xong bản án, được xóa án tích.
  • + Ngày 15/02/2012, Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/6/2013, chấp hành xong bản án, được xóa án tích.
  • + Ngày 08/01/2015, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2017, chấp hành xong bản án, được xóa án tích.
  • + Ngày 21/12/2017, Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/12/2020, chấp hành xong bản án, được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2023, tạm giam từ ngày 09/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh. Ngày 29/3/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay.

9. Trần Anh T6 (tên thường gọi: Tuấn K2), sinh năm 1997; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi thường trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh P1 và bà Phạm Thị Minh N1; vợ: Trần Thị Thanh T7 (chưa đăng ký kết hôn), con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân:

  • + Ngày 05/4/2018, Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép”, số tiền 7.500.000 đồng, đủ thời hạn được coi là chưa bị xử phạt.
  • + Ngày 12/11/2022, Công an xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng rượu bia gây mất trật tự công cộng”, số tiền 1.500.000 đồng, nộp phạt ngày 16/11/2022, đủ thời hạn được coi là chưa bị xử phạt.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 31/12/2023, ngày 09/01/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ cho đến nay.

10. Nguyễn Thị G, sinh năm 1954; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V1 (đã chết) và bà Phạm Thị R (đã chết); chồng: Nguyễn Văn C (đã chết), con: 03 người, lớn nhất sinh năm 1976 (đã chết), nhỏ nhất sinh năm 1982; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/01/2024 cho đến nay.

11. Nguyễn Thị H6, sinh năm 1963; nơi sinh: Tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Khu phố A, Phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bùi D (đã chết) và bà Nguyễn Thị N2 (đã chết); chồng: Trương Văn B1 (đã chết), con: 01 người, sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/01/2024 cho đến nay.

12. Nguyễn Thị Thanh L3 (tên thường gọi: H7), sinh năm 1962; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Khu phố B, Phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T8 (đã chết); chồng: Nguyễn Quốc T9, con: 01 người, sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/01/2024 cho đến nay.

13. Nguyễn Thị R1, sinh năm 1960; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Mua bán ve chai; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H8 (đã chết) và bà Nguyễn Thị B2 (đã chết); chồng: Nguyễn Văn K3 (đã chết), con: 06 người, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân: Ngày 07/4/2018, Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép dưới hình thức bài cáo được thua bằng tiền”, đủ thời hạn được coi là chưa bị xử phạt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/01/2024 cho đến nay.

Các bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Trọng H1 và Nguyễn Thị Hồng P sử dụng phần đất thuộc quyền sở hữu của H1 và P phía sau nhà thuộc ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh tổ chức cho những người tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào 03 lá được thua bằng tiền. Trong đó, H1 là người chuẩn bị bài tây, P trông coi phía trước quán và bán nước giải khát cho những người tham gia đánh bạc. Ngoài ra, để phục vụ địa điểm đánh bạc, H1 thuê Nguyễn Bảo Q rủ rê, lôi kéo những người tham gia đánh bạc và phụ giúp H1 trông coi địa điểm đánh bạc, đổi bài mới, thu tiền xâu khi có mặt tại chiếu bạc và đưa tiền lại cho H1; thuê Tô Thị T1 đến trông coi phía trước địa điểm đánh bạc, cảnh giới và bán nước giải khát phía trước quán cho khách và những người tham gia đánh bạc. Mỗi ngày Q và T1 được trả công mỗi người với số tiền từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. H1 quy định khi người làm cái thắng được tiền thì xâu cho H1 số tiền từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng.

Vào khoảng 19 giờ ngày 31/12/2023, Trần Thanh H5 và Nguyễn Văn H4 thỏa thuận hùn làm cái khi được thua sẽ chia tiền theo tỷ lệ H5 3/4, Hiệp 1/4 của tổng số tiền được thua, trong đó H5 hùn 3.000.000 đồng, H4 hùn 900.000 đồng để làm cái, H5 có số tiền 250.000 đồng trong người nhưng chưa đưa tiền cho H4, H4 chỉ có số tiền 900.000 đồng để làm cái, quy định mỗi tụ đặt cược mỗi ván với số tiền từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng, H1 đã thu được tiền xâu số tiền 200.000 đồng. Những người tham gia đánh bạc gồm: Nguyễn Văn L2, Trần Anh T6, Phạm Thị K4 (khi bị bắt khai tên là Tô Thị V3), Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị Thanh L3, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị R1, Trần Lệ T3. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện C tiến hành bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 10.280.000 đồng, thu giữ trên người số tiền 10.390.000 đồng, 102 lá bài tây (đã qua sử dụng) và 05 bộ bài tây (chưa qua sử dụng). Đối với Nguyễn Thị Hồng P khi bị bắt quả tang không có mặt tại tụ điểm đánh bạc, ngày 02/01/2024 P đến Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Các bị cáo khai nhận số tiền mang theo đánh bạc, gồm:

  • Trần Thanh H5 hùn 3.000.000 đồng với Nguyễn Văn H4 để làm cái, nhưng H5 chỉ có 250.000 đồng và chưa đưa tiền cho H4. Số tiền của H5 bị tạm giữ là 250.000 đồng.
  • Nguyễn Văn H4 hùn 900.000 đồng với Trần Thanh H5 để làm cái, nhưng H5 chưa đưa tiền cho H4, H4 có số tiền 900.000 đồng, làm cái bị thua và khi bị bắt bỏ tiền tại chiếu bạc, nên chỉ bị tạm giữ số tiền 100.000 đồng.
  • Nguyễn Thị G mang theo số tiền 1.840.000 đồng, tham gia đặt cược 05 - 06 ván, mỗi ván với số tiền 50.000 đồng, thắng số tiền 50.000 đồng. Số tiền bị thu giữ là 1.890.000 đồng.
  • Trần Lệ T3 mang theo số tiền 1.020.000 đồng, tham gia đặt cược 02 ván, mỗi ván với số tiền 30.000 đồng đến 50.000 đồng, thua số tiền 80.000 đồng. Số tiền bị thu giữ là 940.000 đồng.
  • Trần Anh T6 mang theo số tiền 950.000 đồng, tham gia đặt cược theo nhà cái 02 ván, mỗi ván với số tiền 100.000 đồng, kết quả huề. Số tiền bị thu giữ là 950.000 đồng.
  • Nguyễn Thị H6 mang theo số tiền 200.000 đồng, tham gia đặt cược 04 ván, mỗi ván với số tiền 20.000 đồng đến 50.000 đồng, thua số tiền 50.000 đồng. Số tiền bị thu giữ là 150.000 đồng.
  • Nguyễn Thị Thanh L3 mang theo số tiền 160.000 đồng, tham gia đặt cược 02 ván, mỗi ván với số tiền 50.000 đồng, thua số tiền 100.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, L3 ném số tiền 60.000 đồng xuống chiếu bạc.
  • Phạm Thị K4 mang theo số tiền 100.000 đồng, tham gia đặt cược 04 ván, mỗi ván với số tiền 50.000 đồng, thua hết số tiền 100.000 đồng.
  • Nguyễn Văn L2 mang theo số tiền 50.000 đồng, tham gia đặt cược 02 ván, mỗi ván với số tiền từ 30.000 đồng đến 50.000 đồng, chưa thắng thua. Số tiền bị thu giữ là 50.000 đồng.
  • Nguyễn Thị R1 mang theo số tiền 50.000 đồng, tham gia đặt cược 01 ván, mỗi ván với số tiền 50.000 đồng, thua hết số tiền 50.000 đồng.

Trong số tiền 10.390.000 đồng thu giữ trên người, trong đó có số tiền của Lê Trọng H1 là 5.440.000 đồng, trong đó có số tiền H1 thu tiền xâu 200.000 đồng, còn lại là tiền tiêu xài cá nhân; thu của Tô Thị T1 620.000 đồng là tiền tiêu xài cá nhân. Tổng số tiền các bị cáo khai nhận mang theo để đánh bạc ít hơn số tiền thu giữ.

Trần Thanh H5 hùn với Nguyễn Văn H4 3.000.000 đồng, nhưng chưa đưa tiền cho H4, khi bị bắt bị tạm giữ số tiền 250.000 đồng. Trần Thanh H5 chưa nộp số tiền dùng để đánh bạc chưa thu hồi được là 2.750.000 đồng.

  • * Kết luận giám định số 1344/KL-KTHS ngày 24/7/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh tây N3 kết luận: 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng; 74 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng; 21 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng; 41 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng; 08 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng cần giám định nêu trên là tiền thật.
  • * Kết luận giám định số 1656/KL-KTHS, ngày 04/9/2024 của Phòng K5, Công an tỉnh N3 kết luận về đối tượng giám định như sau: Chữ viết trên tài liệu cần giám định Bản tự khai/bản tường trình ghi tên Tô Thị V3 có đóng dấu bút lục của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh (ký hiệu A) với chữ viết trên tài liệu mẫu Bản tự khai ghi tên Phạm Thị K4 có đóng dấu bút lục ghi số 484 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh được lưu trữ tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (ký hiệu M) là do cùng một người viết ra.

Quá trình điều tra, các bị cáo Trần Thanh H5, Trần Anh T6, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị Thanh L3, Nguyễn Thị R1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Lê Trọng H1, Nguyễn Thị Hồng P có đóng góp cho địa phương và có thư cám ơn của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C; Nguyễn Thị Thanh L3 có tham gia dân công hoả tuyến.

Bị cáo Trần Lệ T3 có 05 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên hành vi lần này là tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt.

Thu giữ và xử lý vật chứng:

  • - Tiền Việt Nam 20.670.000đ (đã được niêm phong trong 02 bì thư có dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K5 Công an tỉnh N3).
  • - 102 lá bài tây (đã qua sử dụng);
  • - 05 bộ bài tây (chưa qua sử dụng);
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 1080, màu xanh, số Imiel: 354862048277391 (đã qua sử dụng).
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 6 plus, màu vàng, số Imiel: 353330076673544 (đã qua sử dụng).
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại C3, màu xanh, số Imiel: 860750040785999 (đã qua sử dụng).
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 225, màu đen, số Imei: 356478062708548 (đã qua sử dụng).
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại C11, màu xanh, số Imiel: 869150052785733 (đã qua sử dụng).
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 105, màu đen, số Imei: 356944096661060 (đã qua sử dụng).
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7, màu đen, số Imei: 353072098933544 (đã qua sử dụng).
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy, A30, màu xanh, số Imei: 354868102117118 (đã qua sử dụng).
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng, số Imei: 354834095748996 (đã qua sử dụng).
  • * Kê biên tài sản: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C kê biên của:
  • Lê Trọng H1 thửa đất số 1090, tờ bản đồ số 34, diện tích 110 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số phát hành CV787843, số vào sổ cấp GCN CS09566, cấp ngày 16/7/2020 tại ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh;
  • Nguyễn Thị Hồng P thửa đất số 646, tờ bản đồ số 30, diện tích 95 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số phát hành Đ056802, số vào sổ cấp GCN CS10967, cấp ngày 27/10/2021 tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
  • Các bị cáo Nguyễn Bảo Q, Tô Thị T1, Trần Lệ T3, Trần Thanh H5, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Văn L2, Trần Anh T6, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị Thanh L3, Nguyễn Thị R1 không có tài sản nên không kê biên.

Tại bản Cáo trạng số: 75/CT-VKSCT ngày 02-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố:

  • Lê Trọng H1, Nguyễn Thị Hồng P, Nguyễn Bảo Q, Tô Thị T1 về tội “Tổ chức đánh bạc” được quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
  • Trần Lệ T3 về tội “Đánh bạc” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự;
  • Trần Thanh H5, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Văn L2, Trần Anh T6, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị Thanh L3, Nguyễn Thị R1 đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Trọng H1, Nguyễn Thị Hồng P, Nguyễn Bảo Q, Tô Thị T1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc” được quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Trần Lệ T3 phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Trần Thanh H5, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Văn L2, Trần Anh T6, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị Thanh L3, Nguyễn Thị R1 phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

- Hình phạt chính:

  1. Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Trọng H1 từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
  2. Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng P từ 15 tháng đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
  3. Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo Q từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
  4. Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Tô Thị T1 từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
  5. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Lệ T3 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
  6. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thanh H5 từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.
  7. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H4 từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.
  8. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L2 từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
  9. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Anh T6 từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.
  10. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s, o khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
  11. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H6 từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
  12. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s, x khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh L3 từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
  13. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s, x khoản 1, 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị R1 từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã ăn năn hối cải, biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt quả tang, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

[2.1] Lê Trọng H1 và Nguyễn Thị Hồng P sử dụng phần đất thuộc quyền sở hữu của mình tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, chuẩn bị bộ bài tây, thuê Nguyễn Bảo Q và Tô Thị T1 phụ giúp trông coi, đổi bài mới, thu tiền xâu, phục vụ bán nước để tổ chức cho 10 người tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào 03 lá được thua bằng tiền.

Hành vi của bị cáo Lê Trọng H1, Nguyễn Thị Hồng P, Nguyễn Bảo Q, Tô Thị T1 đã cấu thành tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.

[2.2] Trần Thanh H5 và Nguyễn Văn H4 hùn làm cái bài cào 03 lá được thua bằng tiền cho những người tham gia đánh bạc gồm: Trần Lệ T3, Nguyễn Văn L2, Trần Anh T6, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị Thanh L3, Nguyễn Thị R1, Phạm Thị K4 bị bắt quả tang hồi 20 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, số tiền dùng vào đánh bạc là 17.560.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Trần Lệ T3 có nhiều tiền án, đã tái phạm, tái phạm nguy hiểm nên lần phạm tội này đã cấu thành tội Đánh bạc theo tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” tại điểm d khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo Trần Thanh H5, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Văn L2, Trần Anh T6, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị Thanh L3, Nguyễn Thị R1 đã cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng số: 75/CT-VKSCT ngày 02-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự, an ninh công cộng ở địa phương nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, tương xứng với mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo.

[4] Khi quyết định hình phạt, cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng:

  • + Bị cáo Lê Trọng H1 khai nhận có tổ chức đánh bạc từ trước ngày 31/12/2023 nhưng không thu giữ được vật chứng, không xác định được số người tham gia, số tiền dùng vào việc đánh bạc. Do đó, không có căn cứ xác định bị cáo phạm tội 2 lần trở lên. Ngoài ra, bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.
  • + Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ:

  • + Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • + Các bị cáo Trần Thanh H5, Trần Anh T6, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị Thanh L3, Nguyễn Thị R1 lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • + Bị cáo Nguyễn Thị G là người trên 70 tuổi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại o khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • + Bị cáo Nguyễn Thị R1, Nguyễn Thị Thanh L3 đã từng tham gia cách mạng, được ghi công nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • + Bị cáo Nguyễn Thị Hồng P, Lê Trọng H1 có đóng góp cho cộng đồng được chính quyền địa phương xác nhận, Nguyễn Thị R1 đang thờ cúng chú ruột là liệt sĩ nên hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Xem xét vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo để áp dụng hình phạt thì thấy rằng:

[5.1] Đối với các bị cáo phạm tội Tổ chức đánh bạc:

Bị cáo Lê Trọng H1 chuẩn bị bài tây, địa điểm và rủ rê nhiều người khác đến tham gia đánh bạc để thu tiền xâu, thuê Q, T1 phụ giúp trông coi sòng bạc nên phải chịu trách nhiệm hình sự chính về tội Tổ chức đánh bạc.

Bị cáo Nguyễn Thị Hồng P và bị cáo Nguyễn Bảo Q cùng bị cáo H1 tổ chức đánh bạc, giúp sức tích cực cho H1 nên phải chịu trách nhiệm hình sự bằng nhau và sau H1.

Bị cáo Tô Thị T1 phụ giúp P bán nước, cảnh giới phía trước quán cà phê, vai trò giúp sức thứ yếu nên chịu trách nhiệm hình sự sau H1, P, Q, áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T1 dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

Các bị cáo H1, P, Q, T1 tổ chức đánh bạc với quy mô nhỏ, chiếu bạc dưới 20 triệu đồng, mục đích thu lợi nhỏ, đồng thời các bị cáo có tài sản để đảm bảo thi hành án nên áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền gấp nhiều lần số tiền các bị cáo thu lợi bất chính cũng đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5.2] Đối với các bị cáo phạm tội Đánh bạc:

Bị cáo Trần Lệ T3 đã tái phạm, tái phạm nguy hiểm mà vẫn tiếp tục phạm tội, có nhân thân xấu nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe và phòng ngừa chung.

Bị cáo Nguyễn Văn H4 tham gia làm cái, có nhân thân xấu nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian.

Các bị cáo Trần Thanh H5, Nguyễn Văn L2, Trần Anh T6, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị Thanh L3, Nguyễn Thị R1 phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tổng số tiền xác định vào mục đích đánh bạc là 17.560.000 đồng nhưng số tiền mỗi bị cáo dùng vào mục đích đánh bạc dưới 2.000.000 đồng, mỗi ván cá cược từ 30.000 đồng đến 50.000 đồng, mức sát phạt không cao nên áp dụng hình phạt chính là cải tạo không giam giữ cũng đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo Trần Thanh H5 tham gia làm cái, bị cáo Nguyễn Văn L2 có nhân thân xấu nên xử phạt bị cáo H5 và bị cáo L2 mức án bằng nhau và cao hơn các bị cáo T6, G, H6, L3, R1.

[6] Về việc khấu trừ thu nhập; áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng:

[6.1] Bị cáo Trần Thanh H5 và bị cáo Trần Anh T6 khai đang có việc làm, thu nhập hàng tháng khoảng 6.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng/tháng nên buộc khấu trừ một phần thu nhập hàng tháng của bị cáo H5 và T6, không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

[6.2] Bị cáo Nguyễn Thị G, bị cáo Nguyễn Thị H6, bị cáo Nguyễn Thị Thanh L3, bị cáo Nguyễn Thị R1, bị cáo Nguyễn Văn L2 không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập. Đồng thời các bị cáo G, H6, L3, R1 là người già yếu nên không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

[6.3] Bị cáo Nguyễn Văn L2 đang trong độ tuổi lao động, không có việc làm, không thuộc trường hợp không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng. Do đó, bị cáo L2 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

[7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định hoặc mức thu nhập chỉ đủ nuôi sống bản thân, bị cáo H5 và bị cáo T6 đã bị khấu trừ thu nhập hàng tháng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Về lệnh kê biên tài sản: Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đối với quyền sử dụng đất của bị cáo Lê Trọng H1 và Nguyễn Thị Hồng P để đảm bảo thi hành án.

[9] Về xử lý vật chứng:

[9.1] Số tiền 14.810.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc, thu giữ trên người những người đánh bạc, xác định được dùng vào mục đích đánh bạc nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Buộc bị cáo Trần Thanh H5 nộp lại số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 2.750.000 đồng.

Số tiền 5.240.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Trọng H1 và 620.000 đồng thu giữ của bị cáo Tô Thị T1 đã xác định được không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[9.2] Điện thoại của các bị cáo thu giữ tại hiện trường không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho chủ sở hữu.

[9.3] Những bộ bài tây là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu mỗi người 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với Phạm Thị K4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tách vụ án và ra Quyết định truy nã bị cáo, khi nào bắt được xử lý sau.

Đối với việc Nguyễn Bảo Q khai nhận đánh bạc được thua bằng tiền mỗi ván 10.000 đồng dưới hình thức đánh bài tứ sắc trước đó tại nhà của Lê Trọng H1, cùng tham gia có bà T3, M1 (không rõ lai lịch) và T10 (vợ của T6), nhưng không thu được vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh chuyển vụ việc đến Công an xã T để giải quyết thẩm quyền.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Trọng H1, Nguyễn Thị Hồng P, Nguyễn Bảo Q, Tô Thị T1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc” được quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Trần Lệ T3 phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Trần Thanh H5, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Văn L2, Trần Anh T6, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị Thanh L3, Nguyễn Thị R1 phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

1.1. Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Trọng H1 số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.

1.2. Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng P số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.

1.3. Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo Q số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.

1.4. Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tô Thị T1 số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

1.5. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Lệ T3 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 31-12-2023 đến ngày 29-3-2024.

1.6. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H4 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 31-12-2023 đến ngày 09-01-2024.

1.7. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh H5 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện C nhận được quyết định thi hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ là 09 (chín) ngày bằng 27 (hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ.

1.8. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L2 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện C nhận được quyết định thi hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ là 90 (chín mươi) ngày bằng 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.

1.9. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Anh T6 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện C nhận được quyết định thi hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ là 09 (chín) ngày bằng 27 (hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ.

1.10. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, o khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện C nhận được quyết định thi hành án.

1.11. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh L3 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện C nhận được quyết định thi hành án.

1.12. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H6 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện C nhận được quyết định thi hành án.

1.13. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị R1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện C nhận được quyết định thi hành án.

Giao các bị cáo Nguyễn Văn L2, Trần Anh T6, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị Thanh L3, Nguyễn Thị R1, Nguyễn Thị G cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Giao bị cáo Trần Thanh H5 cho Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong thời gian chấp hành án, khấu trừ một phần thu nhập hàng tháng là 500.000 (năm trăm nghìn) đồng của mỗi bị cáo Trần Thanh H5 và Trần Anh T6 để sung quỹ Nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng.

Miễn khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị R1, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị Thanh L3, Nguyễn Văn L2.

Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với các bị cáo Trần Thanh H5, Trần Anh T6, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị R1, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị Thanh L3.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn L2 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

3.1. Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước:

  • Số tiền 14.810.000 (mười bốn triệu, tám trăm mười nghìn) đồng (đã được niêm phong trong bì thư có dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K5 Công an tỉnh N3).
  • Buộc bị cáo Trần Thanh H5 nộp số tiền 2.750.000 (hai triệu, bảy trăm năm mươi nghìn) đồng để tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

3.2. Tịch thu tiêu hủy:

  • 102 lá bài tây (đã qua sử dụng);
  • 05 bộ bài tây (chưa qua sử dụng);

3.3. Trả lại tài sản, đồ vật sau:

  • - Trả cho bị cáo Lê Trọng H1 số tiền 5.240.000 (năm triệu, hai trăm bốn mươi nghìn) đồng (đã được niêm phong trong bì thư có dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K5 Công an tỉnh N3); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 1080, màu xanh, số Imiel: 354862048277391 (đã qua sử dụng).
  • - Trả cho bị cáo Tô Thị T1 số tiền 620.000 (sáu trăm hai mươi nghìn) đồng (đã được niêm phong trong bì thư có dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K5 Công an tỉnh N3); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 6 plus, màu vàng, số Imiel: 353330076673544 (đã qua sử dụng).
  • - Trả cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh L3 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại C3, màu xanh, số Imiel: 860750040785999 (đã qua sử dụng).
  • - Trả cho bị cáo Nguyễn Văn L2 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 225, màu đen, số Imei: 356478062708548 (đã qua sử dụng).
  • - Trả cho bị cáo Nguyễn Bảo Q 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại C11, màu xanh, số Imiel: 869150052785733 (đã qua sử dụng).
  • - Trả cho bị cáo Nguyễn Thị H6 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 105, màu đen, số Imei: 356944096661060 (đã qua sử dụng).
  • - Trả cho bị cáo Nguyễn Văn H4 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7, màu đen, số Imei: 353072098933544 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy, A30, màu xanh, số Imei: 354868102117118 (đã qua sử dụng).
  • - Trả cho bị cáo Trần Thanh H5 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng, số Imei: 354834095748996 (đã qua sử dụng).

3.4. Về lệnh kê biên tài sản:

Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đối với thửa đất của Lê Trọng H1 và Nguyễn Thị Hồng P đến khi các bị cáo thi hành án xong.

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5 Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV. TA tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Sở Tư pháp Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Phòng PV 06;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - Thi hành án HS;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hồ Thị Bảo Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 94/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Trọng H1 và Nguyễn Thị Hồng P sử dụng phần đất thuộc quyền sở hữu của mình tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, chuẩn bị bộ bài tây, thuê Nguyễn Bảo Q và Tô Thị T1 phụ giúp trông coi, đổi bài mới, thu tiền xâu, phục vụ bán nước để tổ chức cho 10 người tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào 03 lá được thua bằng tiền. Trần Thanh H5 và Nguyễn Văn H4 hùn làm cái bài cào 03 lá được thua bằng tiền cho những người tham gia đánh bạc gồm: Trần Lệ T3, Nguyễn Văn L2, Trần Anh T6, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị Thanh L3, Nguyễn Thị R1, Phạm Thị K4 bị bắt quả tang hồi 20 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, số tiền dùng vào đánh bạc là 17.560.000 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger