Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HS-PT

Ngày 14 - 6 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt

Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Lâm;

Ông Mai Nam Tiến.

- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Xuân Đạt-Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Lan – Kiểm sát viên

Trong các ngày 12, 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 132/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Xuân V do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Xuân V - Sinh năm 1995, tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N ; con bà: Nguyễn Thị N1; có vợ là: Lê Thị H và có 01 con sinh năm 2021; Tiền án: Không, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Công ty TNHH một thành viên C – Chi nhánh N3 (Công ty J)

Địa chỉ: B T, phường Q, TP V, tỉnh Nghệ An

* Người đại diện theo ủy quyền của bị hại:

Chị Hoàng Thị T, sinh năm: 1988( Vắng mặt)

Nơi cư trú: K, phường H, TP V, tỉnh Nghệ An

* Người làm chứng:

- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn A, xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt)

- Anh Lê Tuấn P, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH một thành viên C - Chi nhánh N3 (gọi tắt là Công ty J) có địa chỉ tại B T, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An có giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh số 0313617136 - 004 được hoạt động theo ủy quyền của Công ty TNHH một thành viên C, địa chỉ trụ sở chính tại số A đường Đ, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Trên địa bàn phường H, thị xã N, Công ty J có thành lập địa điểm kinh doanh số 4 Thanh Hóa là Bưu cục 237B01 hoạt động từ ngày 07/12/2018.

Ngày 06/9/2019, Công ty J có Quyết định số 320-2019/QĐ-GĐ về việc ban hành quy chế quản lý tiền cước phí vận chuyển, tiền thu hộ (COD) và hàng hóa vận chuyển. Tại điểm a mục 4.2.1 Nhân viên giao nhận hàng (gọi tắt là S) trong Quyết định số 320-2019/QĐ-GĐ có nêu: Shipper khi thực hiện việc giao hàng thành công phải tiến hành thao tác ký nhận trên hệ thống App và nộp tiền COD và tiền cước phí đã thu từ khách hàng về Bưu cục vào cuối giờ làm việc của ngày đó. Trường hợp không nộp kịp theo thời gian như quy định trên thì thời gian nộp tiền COD và tiền cước phí về Bưu cục muộn nhất vào lúc 09h sáng của ngày làm việc tiếp theo.

Ngày 13/5/2023, Nguyễn Xuân V được nhận vào làm thử việc ở Công ty TNHH một thành viên C - Chi nhánh N3 (gọi tắt là Công ty J) chưa có hợp đồng, chưa được công ty đóng bảo hiểm xã hội. Nguyễn Xuân V có trách nhiệm giao, nhận hàng hóa, bưu kiện cho khách hàng, thu tiền hộ, tiền cước vận chuyển (nếu có) và giao nộp toàn bộ số tiền thu hộ lại cho Bưu cục 237B01 theo quy định của Công ty. Ngày 21/6/2023, Nguyễn Xuân V đến Bưu cục 237B01 nhận các đơn hàng của Công ty J để đi giao cho khách hàng. Các đơn hàng mà Nguyễn Xuân V nhận đi giao hàng đều được quét mã “QR” trên ứng dụng “J&T Sprinter” là ứng dụng giao hàng của Công ty J để xác nhận thông tin khách hàng cần giao hàng và xác nhận đã nhận đơn hàng của Công ty J để đi giao cho khách.

Trong ngày 21/6/2023, Nguyễn Xuân V đã giao thành công 26 đơn hàng cho khách hàng và thu tiền từ khách hàng với tổng số tiền là 66.482.280 đồng. Nhưng do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Nguyễn Xuân V đã nảy sinh ý định chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên. Để tránh bị công ty nghi ngờ và phát hiện nên Nguyễn Xuân V chọn 07 đơn hàng đã giao thành công cho khách hàng với tổng giá trị 39.253.000 đồng xác nhận trên ứng dụng không giao hàng thành công; 19 đơn hàng còn lại với tổng giá trị là 26.582.780 đồng và cước vận chuyển giao hàng là 646.500 đồng thì Nguyễn Xuân V vẫn xác nhận tình trạng giao hàng thành công trên ứng dụng. Đến ngày 22/6/2023.Nguyễn Xuân V mang các đơn hàng trên thực tế chưa giao được cho khách hàng đến Bưu cục 237B01 để trả hàng nhưng không bàn giao cho ai mà chỉ để lại khu vực tuyến hàng hóa của Nguyễn Xuân V, đồng thời không nộp số tiền đã thu được của khách hàng trong ngày 21/6/2023 cho nhân viên lễ tân của Bưu cục theo quy định. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt trên Nguyễn Xuân V đã sử dụng để chi tiêu vào việc cá nhân.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã quyết định:

Căn cứ vào: Điểm c, d khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Nguyễn Xuân V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt: Nguyễn Xuân V 27 ( Hai bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/3/2024, bị cáo Nguyễn Xuân V có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh mà Toà án cấp sơ thẩm xét xử là đúng, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:

Đơn kháng cáo của bị cáo đúng thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung kháng cáo bị cáo: Ngày 13/5/2023 Nguyễn Xuân V được nhận vào làm nhân viên thử việc của Bưu cục 237B01 của Công ty TNHH C, chi nhánh N3, nhưng chưa có hợp đồng, chưa tham gia đóng bảo hiểm XH, công việc của Nguyễn Xuân V là giao, nhận hàng hóa, bưu kiện cho khách hàng, thu hộ tiền hàng, tiền cước vận chuyển (nếu có) và có trách nhiệm giao nộp toàn bộ số tiền thu hộ lại cho Bưu cục 237B01 theo quy định của Công ty. Ngày 21/6/2023, Nguyễn Xuân V đã giao thành công 26 đơn hàng và thu được tổng số tiền là 66.482.280 đồng nhưng do cần tiền chi tiêu cá nhân nên V đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên. Hành vi của bị cáo đã bị xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 175 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, bản án sơ thẩm nhận định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” đồng thời áp dụng tình tiết định khung theo điểm d khoản 2 Điều 175 BLHS là không đúng quy định của pháp luật. Bởi lẽ, bị cáo chưa ký hợp đồng lao động với công ty, chưa đóng bảo hiểm, không phải là người có chức vụ, quyền hạn trong công ty.

- Về nội dung kháng cáo thấy rằng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, tổ chức được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, xem xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS thấy rằng: Bị cáo thành khẩn khai báo; Tự nguyện bồi thường thiệt hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; Bản thân bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và được tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến (điểm b,s khoản 1,2 Điều 51 BLHS).

Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới đó là đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận; Bị hại tiếp tục có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Xét thấy, bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có thêm tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, không bị áp dụng tình tiết định khung theo điểm d khoản 2 Điều 175 BLHS nên xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt, đồng thời cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền và gia đình cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung. Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo là có cơ sở chấp nhận.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS. Đề nghị hội đồng xét xử không áp dụng điểm d khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân V. Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt giảm cho bị cáo 03 tháng tù, áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo đồng thời ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Lợi dụng sự tin tưởng của Công ty TNHH một thành viên C – Chi nhánh N3, Nguyễn Xuân V là nhân viên thử việc ở công ty, chưa có hợp đồng, chưa đóng bảo hiểm ngày 21/6/2023 tại Bưu cục 237B01 sau khi nhận các đơn hàng Công ty vận chuyển đi giao cho khách hàng, thu tiền cước và tiền hàng thu hộ từ khách hàng Nguyễn Xuân V đã không nộp cho Bưu cục theo quy định mà chiếm đoạt của Công ty số tiền cước và tiền hàng thu hộ với tổng số tiền 66.482.280 đồng để sử dụng chi tiêu cá nhân.

Do đó, với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Theo điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s,b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

[2]. Xét kháng cáo của bị cáo:

[2.1].Đơn kháng cáo của bị cáo đúng thời hạn luật định theo điều 332,điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2.2]. Về nội dung kháng cáo bị cáo: Ngày 13/5/2023Nguyễn Xuân Văn được nhận vào làm nhân viên thử việc của Bưu cục 237B01 của Công ty TNHH C, chi nhánh N3, nhưng chưa có hợp đồng, chưa tham gia đóng bảo hiểm XH, công việc của Nguyễn Xuân V là giao, nhận hàng hóa, bưu kiện cho khách hàng, thu hộ tiền hàng, tiền cước vận chuyển (nếu có) và có trách nhiệm giao nộp toàn bộ số tiền thu hộ lại cho Bưu cục 237B01 theo quy định của Công ty. Ngày 21/6/2023, Nguyễn Xuân V đã giao thành công 26 đơn hàng và thu được tổng số tiền là 66.482.280 đồng nhưng do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Nguyễn Xuân V đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên. Hành vi của bị cáo đã bị Toà án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, bản án sơ thẩm nhận định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” đồng thời áp dụng tình tiết định khung theo điểm d khoản 2 Điều 175 BLHS là chưa chính xác không đúng quy định của pháp luật. Bởi lẽ, bị cáo mới thử việc, chưa ký hợp đồng lao động với công ty, chưa đóng bảo hiểm, không phải là người có chức vụ, quyền hạn trong công ty. Do tin tưởng nên công ty đồng ý cho Nguyễn Xuân V thử việc và giao đơn hàng cho V để Nguyễn Xuân V giao cho khách hàng và thu tiền hộ cho công ty.

Về nội dung kháng cáo thấy rằng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, tổ chức được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, xem xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo;ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại; Được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; Bản thân bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và được tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến (Các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự).

Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới đó là bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc hộ cận nghèo, bố mẹ bị caó ốm đau liên miên, con bị cáo bị tai nạn, bị bỏng và gãy chân, vợ bị cáo đang mang thai, không có công ăn việc làm, bị cáo là lao động chính trong gia đình, quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định của chính quyền địa phương nơi cư trú điều này được chính quyền địa phương xác nhận; Bị hại tiếp tục có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, nguyên nhân dẫn đến bị cáo phạm tội do con bị cáo bị bỏng phải đi bệnh viện điều trị, nên bị cáo đã chiếm đoạt số tiền trên để sử dụng vào việc cứu chữa cho con bị cáo. Tại phiên toà đại diện VKSND cũng đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân V. Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt giảm hình phạt cho bị cáo 03 tháng, cho bị cáo được hưởng án treo.

Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, hành vi phạm tội mang tính bột phát, không bị áp dụng tình tiết định khung theo điểm d khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự, sau khi phạm tội bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, trước khi phạm tội bị cáo có thời gian phục vụ trong quân ngũ bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và được tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến, các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, để bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền và gia đình cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung. Việc kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo cũng như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ được hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt giảm hình phạt cho bị cáo 03 tháng, cho bị cáo được hưởng án treo.

[3]. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[4]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14.

1.Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân V

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

Không áp dụng điểm d khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào: Điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân V 24 ( Hai bốn ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 ( Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo cho UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về Trách nhiệm dân sự: Công nhận bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại.

* Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

2. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND thị xã Nghi Sơn;
  • - Chi cục thi hành án DS thị xã Nghi Sơn;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-PT ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 94/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân V “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger