|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 94/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29-7-2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Nhi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Chu
- Bà Huỳnh Thị Bích Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ka Phu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 188/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QÐST - HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc G, sinh năm 1982. (có mặt)
Nơi ĐKTT: 131/GQ ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Chỗ ở hiện nay: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: Ông Võ Thanh B, sinh năm 1983. (vắng mặt)
Địa chỉ: 131/GQ ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 4 năm 2024, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc G trình bày:
Bà và ông Võ Thanh B kết hôn năm 2011, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân do ông B không chịu đi làm mà chỉ ở nhà nhàn rỗi và cờ bạc, mọi chi tiêu sinh hoạt trong gia đình đều do bà gồng gánh nên cuộc sống rất khó khăn, áp lực. Bà đã nhiều lần yêu cầu ông B đi làm để phụ bà một phần chi phí sinh hoạt gia đình nhưng ông B vẫn không đi làm; từ đó vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến, cự cãi. Vì thương con bà cố gắng làm việc để chăm lo cho con, đến tháng 01 năm 2023 bà không thể tiếp tục chịu đựng sự sự vô trách nhiệm của ông B nên đã đưa các con về nhà mẹ ruột ở; từ đó vợ chồng sống ly thân đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không qua lại, không liên lạc với nhau. Bà nhận thấy mâu thuẫn giữa bà và ông B đã trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc, bà không thể tiếp tục chung sống với ông B nên yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Võ Huỳnh Thanh N, sinh ngày 15/01/2013, Võ Huỳnh Thanh T, sinh ngày 20/9/2014 và Võ Thanh H, sinh ngày 20/01/2018. Hiện nay, 03 con chung đang sống cùng bà, khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng 03 con chung và tự nguyện không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Võ Thanh B vắng mặt không có lý do.
Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét thấy trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do là chưa thực hiện nghiêm quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Ngọc G đối với ông Võ Thanh B. Về con chung, đề nghị giao các cháu Võ Huỳnh Thanh N, Võ Huỳnh Thanh T, Võ Thanh H cho bà G tiếp tục nuôi dưỡng và ghi nhận bà G không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không tranh chấp nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Võ Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn ông Võ Thanh B.
[2] Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Ngọc G và ông Võ Thanh B kết hôn tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 13 tháng 10 năm 2011 nên quan hệ hôn nhân giữa bà G và ông B là hợp pháp.
Tại biên bản xác minh của Tòa án được đại diện chính quyền địa phương cung cấp thông tin: bà G và ông Bình sinh S tại địa phương nhưng trong thời gian chung sống giữa bà G và ông B xảy ra mâu thuẫn về vấn đề gì thì địa phương không rõ, do đây là chuyện nội bộ gia đình.
Nhận thấy, trong thời gian chung sống bà G và ông B xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và ông B cờ bạc, lười lao động dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi, hôn nhân không được hạnh phúc, từ tháng 01 năm 2023 vợ chồng mỗi người sống một nơi. Trong thời gian sống ly thân ông B và bà G không gặp mặt và không liên lạc với nhau. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; triệu tập xét xử nhưng ông B vắng mặt không có lý do và không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án; từ đó, thấy rằng ông B không có thiện chí hòa giải, hàn gắn hôn nhân với bà G. Bà G xác định không còn tình cảm với ông B, không thể tiếp tục chung sống với ông B nên yêu cầu ly hôn. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa bà G và ông B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục, do đó bà G yêu cầu ly hôn với ông B là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: Tại biên bản lấy ý kiến ngày 04/6/2024, hai cháu Võ Huỳnh Thanh N, Võ Huỳnh Thanh T có nguyện vọng được sống cùng mẹ, sau khi cha, mẹ ly hôn. Nhận thấy, từ lúc vợ chồng sống ly thân 03 con chung sống cùng bà G, do bà G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Bà G yêu cầu nuôi dưỡng 03 con chung là phù hợp với ý kiến của hai cháu Thanh N, Thanh T; còn cháu Võ Thanh H còn nhỏ chưa đủ 07 tuổi nên việc để bà G trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung sẽ không làm thay đổi môi trường sống của các cháu và phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Ghi nhận bà G không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi 03 chung.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà Huỳnh Thị Ngọc G phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Ngọc G. Bà Huỳnh Thị Ngọc G được ly hôn với ông Võ Thanh B.
-
Về con chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc Giàu C quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Võ Huỳnh Thanh N, sinh ngày 15/01/2013, Võ Huỳnh Thanh T, sinh ngày 20/9/2014 và Võ Thanh H, sinh ngày 20/01/2018. Ghi nhận bà G không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi 03 con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà Huỳnh Thị Ngọc G phải nộp và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001101 ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tròn, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tròn, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương Nhi |
Bản án số 94/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 94/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
