TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 94/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15 - 8 - 2024 “V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Minh Thư
- - Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể
- Ông Bùi Văn Hồng
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 102/2024/ TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 88/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2024/QĐST - HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Anh Hồ Văn B, sinh năm 1987; Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án chị Nguyễn Thị H trình bày.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn B đăng ký kết hôn ngày 20/8/2010 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Hôn nhân được hình thành trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nhưng chị H vẫn cố gắng chịu đựng để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Đến năm 2014, vợ chồng chị H, anh B đi lao động làm ăn tại Trung Quốc, lúc này mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân do hoàn cảnh kinh tế khó khăn dẫn đến bất đồng quan điểm, tính tình không hợp. Đồng thời, anh B tính tình nóng nảy nên thường xuyên có những hành vi bạo lực với chị H. Hiện tại hai vợ chồng đã ly thân, cắt đứt liên lạc với nhau, chị H xác định không còn tình cảm gì với anh B nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh B.
- - Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Hồ Bảo L, sinh ngày 04/5/2011. Hiện nay con chung đang sống cùng với bà nội là bà Đặng Thị D trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Khi ly hôn, chị H đồng ý giao con chung cho anh B được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trong thời gian anh B đang lao động ở nước ngoài, chị H đồng ý để bà Đặng Thị D chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L thay anh B cho đến khi anh B về Việt Nam.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản ghi nhận sự việc thông qua việc gọi điện (ghi âm, ghi hình) qua tài khoản mạng xã hội với anh Hồ Văn B do người thân cung cấp, có sự chứng kiến của bà Đặng Thị D (mẹ đẻ của anh B), nội dung anh trình bày như sau:
Về thời gian, điều kiện đăng ký kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng như chị H khai là đúng. Vợ chồng hiện nay sống mỗi người một nơi, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Anh cũng thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn, nay chị H yêu cầu ly hôn, anh đồng ý ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Hồ Bảo L, sinh ngày 04/5/2011. Nay cháu L đang sống cùng với bà nội là Đặng Thị D trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Khi ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng; Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt anh và ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho mẹ đẻ là bà Đặng Thị D, Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội tuyên xử:
- - Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn B.
- - Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là Hồ Bảo L, sinh ngày 04/5/2011. Vợ chồng thống nhất giao con chung cho anh Hồ Văn B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành là phù hợp với nguyện vọng của con chung. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trong thời gian anh B chưa về nước tạm giao cháu Hồ Bảo L cho bà nội là bà Đặng Thị D chăm sóc, nuôi dưỡng.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
- - Về án phí: Áp dụng Điều 143; khoản 4 Điều 147; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Hồ Văn B đang sống và làm việc tại Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. Tuy nhiên Tòa án đã thông qua gia đình để thu thập đầy đủ ý kiến anh B đối với việc giải quyết ly hôn. Theo công văn số 627/PA08 - Đ1 ngày 02/7/2024 của Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh Công An tỉnh H thì anh Hồ Văn B đã xuất cảnh lần cuối ngày 23/3/2021, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung là đúng theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Do điều kiện công việc nên anh B đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu liên quan đến vụ án đề nghị Tòa án gửi về cho mẹ đẻ là bà Đặng Thị D để giao nhận các tài liệu liên quan đến vụ án. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị H và anh B theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 20/8/2010 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh B là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, do điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình nên chị H và anh B cùng đi lao động tại Trung Quốc. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2014 thì mẫu thuẫn trở nên trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, mỗi người ở một nơi không ai quan tâm đến nhau nên tình cảm vợ chồng trở nên xa cách. Chị H xác định không còn tình cảm với anh B, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài nên mong muốn được ly hôn. Anh B cũng thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nên chị H xin ly hôn, anh đồng ý.
Xét thấy mục đích hôn nhân là xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, tiến bộ, vợ chồng phải tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân giữa chị H và anh B không đạt được mục đích đó, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng. Hiện tại, các đương sự đều tự nhận thấy không còn tình cảm với nhau và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng nên đồng thuận ly hôn. Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật. Vợ chồng sống mỗi người một nơi không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 51, 55 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Hồ Bảo L, sinh ngày 04/5/2011, hiện đang sống cùng với bà nội là Đặng Thị D. Chị H và anh B đều thống nhất giao con chung cho anh B được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy, cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự là giao con chung cho anh B được chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định của pháp luật, với nguyện vọng của con chung và điều kiện hoàn cảnh của mỗi bên. Chị H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Trong thời gian anh B đang lao động ở nước ngoài, chị H và anh B thống nhất để bà Đặng Thị D chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L thay anh B cho đến khi anh B về Việt Nam.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; Điều 464, 469, 474, 475, 479; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn B.
- Về con chung: Giao con chung Hồ Bảo L, sinh ngày 04/5/2011 cho anh Hồ Văn B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Trong thời gian anh Hồ Văn B ở nước ngoài, giao cháu Hồ Bảo L cho mẹ đẻ của anh B là bà Đặng Thị D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh B về Việt Nam.
- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai số 0000891 ngày 28/5/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Trả lại cho chị Nguyễn Thị H 150.000 đồng tiền tạm ứng án phí còn dư.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Minh Thư |
Bản án số 94/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 94/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị H ly hôn với anh Hồ Văn B
