|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 94/2024/HNGĐ-ST Ngày 13/12/2024 “V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Hữu Tăng;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Hương và bà Phạm Thị Lan;
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Đào Đức Thông - Kiểm sát viên;
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 98/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2024/QĐ-ST ngày 06/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, vụ án giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bùi Thị N, sinh năm 1982;
Nơi ĐKTT: Thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Hưng Yên.
- Bị đơn: Anh Bùi Ngọc Đ, sinh năm 1983;
Nơi ĐKTT: Thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Hưng Yên.
Hiện đang lao động tại Hàn Quốc.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Cháu Bùi Xuân P, sinh ngày 12/6/2012. Người đại diện hợp pháp cho cháu P là chị N, anh Đ (là bố mẹ đẻ các cháu).
- Người làm chứng: Bà Đào Thị T, sinh năm 1960. HKTT: Thôn L, huyện Đ, tỉnh Hưng Yên.
Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị N trình bày:
Chị và anh Bùi Ngọc Đ có thời gian tìm hiểu và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Hưng Yên vào tháng 9 năm 2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 20 ngày thì anh Đ đi nước ngoài và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Sau khi đi nước ngoài vợ chồng thỉnh thoảng liên lạc với nhau, sau đó vì khoảng cách địa lý tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Đến năm 2020 thì vợ chồng chấm dứt liên lạc với nhau và cũng không quan tâm đến nhau nữa. Lý do không liên lạc với nhau và cũng không quan tâm đến nhau nữa là do tính cách vợ chồng không hợp, chị có bảo anh Đ về Việt Nam thì anh Đ không về. Biết được mâu thuẫn vợ chồng hai bên gia đình có khuyên bảo để vợ chồng sống hòa thuận vui vẻ. Tuy nhiên do tính cách anh Đ không thay đổi vẫn không về Việt Nam. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu TAND tỉnh Hưng Yên giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.
Về con chung: Chị và anh Bùi Ngọc Đ có một con chung là cháu Bùi Xuân P, sinh ngày 12/6/2012, hiện cháu P đang ở với chị N. Ly hôn chị đề nghị giao cháu P cho chị được tiếp tục, chăm sóc đến năm cháu P đủ 18 tuổi. Chị không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Chị làm nghề tự do thu nhập bình quân từ 7 triệu đồng đến 8 triệu/tháng.
Về địa chỉ của anh Đ: Do anh Đ đi xuất khẩu lao động, hết thời hạn anh Đ không về nước mà sống lưu vong ở bên đó nên chị không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Đ ở bên Hàn Quốc cho Tòa án được. Chị được biết anh Đ thường xuyên liên lạc về nhà bố mẹ đẻ là bà Đào Thị T, sinh năm 1960 và bố là ông Bùi Văn Q, sinh năm 1959 đều ở thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Hưng Yên.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên cháu Bùi Xuân P trình bày: Cháu là con của bố Đ và mẹ N, hiện bố cháu đang đi lao động tại Hàn Quốc. Trong quá trình chung sống cháu thấy bố mẹ cháu sống không hạnh phúc vì bố mẹ có nhiều mâu thuẫn bất đồng. Hiện bố mẹ cháu sống ly thân với nhau. Nếu bố mẹ không ở cùng nhau nữa thì cháu đề nghị Tòa án cho cháu ở với mẹ N.
Người làm chứng là bà Đào Thị T trình bày: Quá trình kết hôn và ly thân cũng như nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như chị N đã trình bày. Bà xác định hiện anh Đ sống lưu vong tại Hàn Quốc. Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án bà đã thông báo cho anh Đ biết qua mạng xã hội, theo đó anh Đ biết được việc chị N làm đơn xin ly hôn, anh có quan điểm như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ xác định vợ chồng chung sống với chị N không còn, chị N xin ly hôn, anh đồng ý.
Về con chung: Nhất trí với quan điểm của chị N, giao cháu Bùi Xuân P, sinh ngày 12/6/2012, cho chị N được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị N không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, anh đồng ý.
Về tài sản chung: anh Đ không yêu cầu giải quyết.
Do anh Đ đang đi lạo động tại Hàn Quốc nên anh Đ nhờ bà trình bày ý kiến và nhận các văn bản tổ tụng thay anh Đ và đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt.
Tại Công văn số 2936/PA08 ngày 07/11/2024 của Phòng X – Công an tỉnh H cung cấp: Anh Bùi Ngọc Đ, sinh ngày 12/12/1982, CMND số: [...]; địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Hưng Yên; lần cuối sử dụng hộ chiếu số N1473487 để xuất cảnh ngày 09/10/2011 qua cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Tại phiên tòa:
Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt.
Chủ tọa thay mặt Hội đồng xét xử công bố tóm tắt nội dung vụ án, lời khai của đương sự, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cũng như các tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ, Tòa án đã thực hiện việc thông báo và tống đạt văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của của chị Bùi Thị N.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Bùi Thị N có đơn khởi kiện xin ly hôn anh Bùi Ngọc Đ. Anh Đ đăng ký thường trú tại Thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Hưng Yên và hiện nay đang lao động ở Hàn Quốc. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt nhưng có yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ vào Điều 228 và 229 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt những người trên.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh Đ là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn và cả hai đã không còn chung sống từ năm từ năm 2011 đến nay. Cả chị N và anh Đ đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị N xin ly hôn, theo lời khai của bà T mẹ đẻ anh Đ thì anh Đ đồng ý. Mặt khác bà T cũng xác định chị N sống với anh Đ không có hạnh phúc Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đ và anh N đã trở nên trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị N được ly hôn anh Đ.
[2.2] Về con chung: Chị N và anh Đ có con một chung là cháu Bùi Xuân P, sinh ngày 12/6/2012. Hiện tại cháu P đang ở cùng chị N. Xét thấy chị N đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung, còn anh Đ đang lao động tại Hàn Quốc, chị N xin tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu P được anh Đ đồng ý và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu P. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục giao cháu P cho chị Đ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P đến năm cháu P đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện chị N không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên về giải quyết vụ án phù hợp với quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Bùi Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị N được ly hôn anh Bùi Ngọc Đ.
- Về con chung: Giao cháu Bùi Xuân P, sinh ngày 12/6/2012 cho chị Bùi Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi.
Ghi nhận sự nguyện của chị N không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi cháu P. Anh Đ có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
Vì lợi ích của con chung, anh Đ và chị N có quyền yêu cầu thay đổi nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Bùi Thị N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, đối trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000037 ngày 10/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên. Chị Bùi Thị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, anh Bùi Ngọc Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Hữu Tăng |
Bản án số 94/2024/HNGĐ-ST ngày 13/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 94/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
