TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 94/2024/HC-ST Ngày: 06-6-2024 | |
V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Nhật
Ông Võ Văn Thới
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Ông Võ Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 355/2023/TLST-HC ngày 29 tháng 11 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST-HC ngày 22 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Lê Ngọc T, sinh năm 1975. Nơi thường trú: Số B, Dương Bá T1, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thanh M, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số C, Quốc lộ F, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An; (Theo văn bản ủy quyền ngày 27/10/2023);
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Minh T2 - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Hoài T3 - Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1969. Nơi thường trú: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
(Ông M, ông N có mặt, ông T2, ông T3 có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của khởi kiện có nội dung như sau:
Bà Lê Ngọc T khởi kiện yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H 1142 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn N ngày 24/9/2008 đối với thửa đất số 1620, tờ bản đồ số 04, loại đất ONT, diện tích: 620m², tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Lý do khởi kiện: Vào năm 2001 bà T có nhận chuyển nhượng của bà Võ Thị L là mẹ ruột của ông Nguyễn Văn N thửa đất số 1797, tờ bản đồ số 4, diện tích 312m², tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An. Bà L trực tiếp giao đất, giao ranh giới cho bà T sử dụng và bà T đã xây dựng hàng rào, nhà ở từ đó cho đến nay, không tranh chấp với ai. Ngoài thửa đất số 1797 đã nhận chuyển nhượng, bà T có mua thêm một phần đất kế bên thửa đất này chạy dài giáp với rạch bằng giấy tay do ông N đứng ra bán vào ngày 25/3/2005. Bà T sử dụng ổn định cả hai phần đất này cho đến nay, qua kiểm tra lại bà T phát hiện phần đất mà bà T nhận chuyển nhượng là nằm trên 02 thửa: thửa đất số 1797, một phần thửa đất số 1620, tờ bản đồ số 04. Đối với thửa đất số 1620 trong đó có diện tích khoảng 148,6m² là bà T đang sử dụng có hàng rào và nhà cấp 4, hiện trạng thửa đất bà T đang sử dụng không có dư diện tích, có ranh giới hàng rào rõ ràng từ lúc nhận bàn giao đất và ranh. Năm 2008 ông N có xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không đo đạc thực tế, nên Ủy ban nhân dân huyện C đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chồng lấn lên một phần đất mà bà T đang quản lý, sử dụng.
Nay bà T yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên để bà được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng thực tế sử dụng.
Tại Văn bản số 7060/UBND-NC ngày 26/12/2023 của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện C trình bày có nội dung:
Việc Ủy ban nhân dân huyện C giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Văn N đối với thửa đất số 1620, tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện C là đúng theo quy định pháp luật, căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn N vào năm 2008.
Ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc T, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An giải quyết vụ án trên theo quy định của pháp luật. Sau khi có Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, Ủy ban nhân dân huyện C sẽ tổ chức thực hiện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn N trình bày: Ông là chủ sở hữu thửa đất số 1620, tờ bản đồ số 04, loại đất ONT, diện tích: 620m², tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An. Nguồn gốc đất là năm 2008 mẹ của ông là bà Võ Thị L tặng cho ông, hiện nay ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện. Vì khi mẹ ông bán đất cho bà T là bán đất lúa. Nếu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 1620 là đất thổ của ông để cấp cho bà T thì bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đất thổ thì ông không đồng ý.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
2
Về nội dung: Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa cho thấy, ngày 24/9/2008 Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N đối với thửa đất số 1620, tờ bản đồ số 04, loại đất ONT, diện tích 620m², tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An căn cứ vào hợp đồng tặng cho giữa bà Võ Thị L và ông Nguyễn Văn N. Thực tế bà T đang quản lý sử dụng một phần thửa 1620, tờ bản đồ số 4, diện tích 148,6m² tại khu A theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính và thửa 1797. Trên đất có căn nhà cấp 4, kiên cố, nền gạch đá gramic, vách tường, trần la phong, mái ngói, xung quanh nhà có cổng rào, ở bên phải và phía trước là tường rào xây 1m, trên là rào sắt 1,2m. Bên trái là hàng rào xây tường xi măng kiên cố 1,2m.
Ủy ban nhân dân huyện khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N chỉ dựa vào hồ sơ địa chính, không đo đạc và xem xét hiện trạng sử dụng đất dẫn đến cấp sai diện tích, đối tượng sử dụng đất. Bà Lê Ngọc T khởi kiện đề nghị hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn N đối với thửa đất số 1620, tờ bản đồ số 04, loại đất ONT, diện tích 620m², tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
- Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Ngọc T yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn N đối với thửa đất số 1620, tờ bản đồ số 04, loại đất ONT, diện tích 620m², tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An. Đây là khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
- Về thời hiệu khởi kiện:
Qua kiểm tra bà T phát hiện phần đất mà bà T nhận chuyển nhượng từ bà L và ông N nằm trên 02 thửa đất: thửa đất số 1797, một phần thửa đất số 1620, tờ bản đồ số 04. Nên ngày 06/11/2023 bà T nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An là còn trong thời hiệu, nên Tòa án thụ lý giải quyết là đúng quy định tại Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
- Về việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đối thoại: Tòa án đã có thông báo cho các đương sự nhưng người bị kiện vắng mặt, người khởi kiện có đơn yêu cầu không đối thoại nên Tòa án lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản không tiến hành đối thoại được theo quy định của Điều 135, 137 Luật Tố tụng Hành chính.
- Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện ông Huỳnh Minh T2, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện ông Nguyễn Hoài T3 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 158 Luật Tố tụng hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử vắng mặt ông T2, ông T3 là phù hợp.
3
- Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định:
Ngày 24/9/2008 Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N đối với thửa đất số 1620, tờ bản đồ số 04, loại đất ONT, diện tích 620m², tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An là căn cứ vào hợp đồng tặng cho giữa bà Võ Thị L với ông Nguyễn Văn N là đúng quy định về hình thức, thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành quyết định theo quy định của Luật Đất đai năm 1993.
Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N chỉ dựa vào hồ sơ địa chính, không đo đạc và xem xét hiện trạng sử dụng đất là có sai sót.
- Về nội dung của quyết định hành chính: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của các đương sự tại phiên tòa thể hiện bà T đang quản lý sử dụng một phần thửa 1620, tờ bản đồ số 4, diện tích 148,6m² tại khu A theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính và thửa 1797. Trên đất có căn nhà cấp 4, kiên cố, nền gạch đá gramic, vách tường, trần la phong, mái ngói, xung quanh nhà có cổng rào, ở bên phải và phía trước là tường rào xây 1m, trên là rào sắt 1,2m, bên trái là hàng rào xây tường xi măng kiên cố 1,2m. Cả bà T và ông N điều thừa nhận nguồn gốc đất bà T sử dụng là do nhận chuyển nhượng từ bà L (mẹ ông N) và ông N. Nội dung này được chứng minh qua lời khai bà T, ông N và biên bản thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân tỉnh Long An ngày 12/3/2024, Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 14-2024 ngày 19/3/2024 của Công ty TNHH Đ.
Như vậy, bà T nhận chuyển nhượng đất từ là L và ông N, bà T xây nhà cấp 4 kiên cố, xung quanh có cổng rào xác định ranh giới, không ai tranh chấp, trên phần đất bà T nhận chuyển nhượng có 01 phần thửa đất 1620 là 148,6m². Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn N đối với thửa đất số 1620, tờ bản đồ số 04, loại đất ONT, diện tích 620m², tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An là không đúng diện tích thực tế sử dụng đất, không đúng đối tượng sử dụng đất là trái với quy định tại Điều 10, Điều 49, Điều 50, Điều 105, Điều 107 Luật Đất đai năm 2003. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ nên được chấp nhận như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên tòa.
- Về chi phí tố tụng và án phí:
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo vẽ là 13.000.000 đồng. Bà T đã nộp và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này nên ghi nhận là phù hợp theo khoản 1 Điều 357, 358 Luật Tố tụng hành chính.
Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện C phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của Điều 348 Luật Tố tụng hành chính và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158, Điều 348, Điều 357, Điều 358 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
4
Căn cứ Điều 10, Điều 49, Điều 50, Điều 105, Điều 107 Luật Đất đai năm 2003;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc T.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H 1141 do Ủy ban nhân dân huyện C đã cấp cho ông Nguyễn Văn N ngày 24/9/2008 đối với thửa đất số 1620, tờ bản đồ số 04, loại đất ONT, tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Bà T và ông N được quyền đăng ký kê khai để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Ngọc T chịu 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc, bà T đã nộp xong.
- Về án phí: Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) bà Lê Ngọc T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000027 ngày 28/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.
Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
5
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Minh Trí |
Bản án số 94/2024/HC-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 94/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc T "Khiếu kiện quyết định hành chính" Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc
