TÒA ÁN NHÂN DÂN NAMTỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 94/2024/DS-PT Ngày: 21 – 6 – 2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Quốc Tuấn
Các Thẩm phán:Ông Hồ Văn Luông
Bà Lê Thị Thọ
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Kiều Trinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thanh Giềng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 và 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 103/2022/DS - ST ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 87/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Bảo T, sinh năm 1988
Địa chỉ: ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn:
- Ông Lê Tấn T1, sinh năm 1964
- Bà Trần Thị L, sinh năm 1965
Cùng địa chỉ: ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: anh Lê Trung K, sinh năm 1989
Địa chỉ: ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Huỳnh Chí T2
Công ty L1 – Đoàn luật sư T4.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Lê Trung K
Địa chỉ: ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Trần Thị T3
- Nguyễn Thị Q
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Q: Bà Nguyễn Thị Út N.
Cùng địa chỉ: ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Nguyễn Thị Út N
- Lê Thanh C
Cùng địa chỉ: ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Người kháng cáo bị đơn ông Lê Tấn T1 và bà Trần Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc đất trước đây là của bà Nguyễn Thị Q được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2013, đến năm 2019 thì bà Q tặng cho lại cho bà Nguyễn Thị Út N, vào năm 2022 nguyên đơn mới nhận chuyển nhượng lại từ bà N và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 141, tờ bản đồ số 8, diện tích là 1342,3m², loại đất trồng cây hằng năm khác, đất tọa lạc tại ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Khi nguyên đơn nhận chuyển nhượng thì không có đo đạc thẩm định lại mà chỉ sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nhận chuyển nhượng thì nguyên đơn có kêu máy cuốc đất để trồng trọt thì gia đình anh K ra ngăn cản lấy hàng rào chắn ngang không cho nguyên đơn sử dụng và canh tác. Việc nguyên đơn nhận chuyển nhượng từ bà Út N là hợp pháp, không liên quan với gia đình của ông T1, bà L, ông K do nguyên đơn không nhận chuyển nhượng từ những người này. Theo nội dung khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn phần đất đã lấn chiếm có chiều ngang 15m, chiều dài 20m, diện tích khoảng 300m². Nay nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận phần đất có diện tích 1342,3m², loại đất trồng cây hằng năm khác, đất tọa lạc tại ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang thuộc quyền sở hữu hợp pháp của nguyên đơn.
Quá trình giải quyết người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Nguồn gốc phần đất của bị đơn là của ông Trần Văn H khai phá và được nhà nước công nhận cho sử dụng có chiều ngang 15m, dài khoảng hơn 900m, dài tới đầu ngàn, sau đó cho bà Trần Thị T3 và bà Trần Thị L sử dụng vào năm 1981, phần đất của bà T3 từ Kênh phèn (phần đất của ông Võ Chí H1 hiện tại) lên tới đầu ngàn. Phần đất của bà Trần Thị L, ông Lê Tấn T1 tính từ Kênh phèn (phần đất của ông Võ Chí H1 hiện tại) ra phía trước tới phần nhà ở mặt tiền. Đến năm 1981, bà T3 chuyển nhượng lại cho ông Lê Văn B (05 Nhiều) và bà Phạm Thị N1, sau đó ông B chuyển nhượng lại cho ông Võ Chí H1.
Do bà T3 khó khăn nên vào năm 1983, có mượn gia đình bị đơn một phần đất để canh tác, hiện tại là phần đất tranh chấp để trồng mía. Đến năm 1984, bà T3 có hỏi vay của bà Út N số tiền là 50.000 đồng, đóng lãi mỗi ngày là 5.000 đồng. Sau đó không đóng lãi nhiều lần, nên bà Út N mới quy ra 100.000 đồng, đóng lãi mỗi ngày là 10.000 đồng. Do không có khả năng trả lãi và vốn nên đến năm 1985 mới quy ra là 05 phân vàng. Sau đó, bà Út N mới yêu cầu bà T3 cố phần đất đang canh tác (phần đất mượn của ông T1, bà L) cho bà Út N, bà T3 đồng ý cố đất. Vài ngày sau, thì bà T3 có nói với ông T1, bà L, thì ông T1, bà L đồng ý nên mới đào con mương ngang để làm ranh, đất trước đây cũng trồng mía. Khi bà T3 cố đất thì bên gia đình bị đơn vẫn đóng thuế, nhưng đến năm 2003 thì do tranh chấp kéo dài nên gia đình bị đơn tách ra và không tiếp tục đóng thuế nữa. Việc vay mượn tiền, quá trình trả tiền, đóng lãi cũng như việc cố đất giữa bà T3 với bà Út N chỉ nói miệng với nhau, không có làm giấy tờ gì. Đến khoảng năm 1996 - 1997 thì bà T3 có yêu cầu chuộc lại đất và trả 05 phân vàng, nhưng bà Út N không đồng ý, có trình lên ấp nhưng không có giải quyết, đến năm 2013 thì mới biết bà Q đã được cấp giấy trên phần đất của gia đình bị đơn, sau đó bị đơn có yêu cầu ấp giải quyết và chuyển lên thị trấn, khi đó Ủy ban thị trấn kêu chờ giải quyết, nhưng không thấy giải quyết. Bị đơn có liên hệ để trích lục hồ sơ giải quyết vào năm 2013, nhưng hồ sơ đến nay đã thất lạc không còn lưu trữ nên không trích lục được. Đến tháng 08/2022 thì bà T cho máy vào cuốc đất mới biết phần đất này đã chuyển nhượng cho bà Đoàn Thị Bảo T. Phần đất này từ năm 1985 đến nay do bà Nguyễn Thị Út N sử dụng, canh tác do gia đình nghĩ bà T3 đã cố đất cho bà Út N nên không có yêu cầu trả lại đất.
Phần đất của gia đình bị đơn, do bà T3 cố đất cho bà Út N nhưng không biết vì sao mà bà Q được cấp giấy đất trên phần đất của gia đình bị đơn. Trong khi gia đình bị đơn không có chuyển nhượng hoặc ký giáp ranh cho bà Q để cấp Giấy đất, trường hợp nếu mà gia đình bị đơn có chuyển nhượng hoặc ký giáp ranh cho bà Q thì bị đơn đồng ý giao đất, ngược lại thì bị đơn yêu cầu phải xử lý theo quy định của pháp luật. Do đó, gia đình bị đơn có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị Út N và Đoàn Thị Bảo T, buộc nguyên đơn phải trả lại phần đất có diện tích 1342,3m², loại đất trồng cây hằng năm khác, đất tọa lạc tại ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Q trình bày: Nguồn gốc phần đất trước đây là bà Q mua của bà Trần Thị T3 khoảng năm 1998-1999, do lâu quá bà Q không nhớ rõ, với giá 3,2 chỉ vàng 24K, khi nhận chuyển nhượng thì chỉ có chỉ ranh như phần đất như hiện tại mà không đo đạc để xác định diện tích. Khi mua đất bà Q có trồng mía và nhiều cây trồng khác nhưng gia đình bị đơn vẫn thống nhất, không có ý kiến hay tranh chấp gì, ông T1 có đào con mương để làm ranh với đất của bà Q. Khi nhận chuyển nhượng thì không biết là ông T1 có biết hay không nhưng sau này thì ông T1 có chứng kiến bà Q canh tác phần đất này, còn bà L có cùng ký tên với bà T3 với tờ chuyển nhượng đất nên biết rõ. Đến năm 2019 thì bà Q tặng cho phần đất cho Nguyễn Thị Út N và Út N tiếp tục canh tác phần đất này nhưng bị đơn vẫn không có ý kiến, đến khi Út N chuyển nhượng phần đất cho cháu T vào năm 2022 thì bị đơn tranh chấp. Nay bà Q không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn, đất bà Q sử dụng ổn định và đã được Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy rõ ràng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Út N trình bày: Phần đất này hiện bà Út N đã chuyển nhượng cho cháu T, nay bà Út N thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Q, không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn. Từ trước đến nay bà Út N không có cho bà T3 vay mượn vàng hay tiền, do bà Út N không biết chữ nên không biết tính toán. Bà Út N không nhớ rõ cụ thể, nhưng khoảng năm 1999-2000 bà T3 có đến yêu cầu bà Út N và bà H2 mua phần đất với giá 3,5 chỉ vàng, nhưng bà H2 chỉ đồng ý mua với giá là 03 chỉ nên bà T3 không đồng ý chuyển nhượng, nên sau đó mới chuyển nhượng cho bà Q với giá là 3,2 chỉ vàng 24K. Còn việc năm 2013, bà T3, ông T1 có khởi kiện bà Út N, có hòa giải ở ấp là do bà T3, ông T1 cho rằng chỉ chuyển nhượng 1000m², nhưng tại sao giấy của bà Q được cấp là 1342,3m², nên yêu cầu bà Út N trả lại phần đất 342,3m² bà Út N không đồng ý, do khi chuyển nhượng không có đo đạc nhưng ông T1 đã đào con mương ranh. Bà Q cho phần đất bà Út N sử dụng từ trước nhưng đến năm 2019 mới làm hợp đồng tặng cho.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T3 trình bày: Bà thống nhất với phần trình bày của bị đơn và ông K. Phần đất này trước đây là của cha bà cho bà L, sau đó bà L cho bà mượn đất canh tác, nhưng vì khó khăn nên bà có cố cho bà Út N. Một thời gian sau bà yêu cầu chuộc lại nhưng bà Út N không đồng ý, bà không có thực hiện việc chuyển nhượng cho bà Q. Nên bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện P trình bày: Hộ bà Nguyễn Thị Q thực hiện trình tự, thủ tục đăng ký biến động quyền sử dụng đất là đảm bảo theo quy định của pháp luật về đất đai năm 2003
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 103/2023/DS - ST ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang đã tuyên xử như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đoàn Thị Bảo T.
Công nhận phần đất diện tích là 1342,3m², tại thửa 141, tờ bản đồ số 8, loại đất trồng cây hằng năm khác, đất tọa lạc tại ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang theo Mảnh trích đo địa chính số 54/2023 ngày 30/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P cho bà Đoàn Thị Bảo T (Có lược đồ kèm theo).
Buộc các bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấm dứt hành vi cản trở, ngăn cản nguyên đơn sử dụng hợp pháp đối với phần đất này.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Trần Thị L và Lê Tấn T1 về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị Út N, bà Đoàn Thị Bảo T để trả lại phần đất diện tích 1342,3m² cho bị đơn.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 06 tháng 11 năm 2023, bị đơn ông Lê Tấn T1 và bà Trần Thị L có đơn kháng cáo. Nội dung kháng cáo: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Công nhận cho ông Lê Tấn T1 và bà Trần Thị L được quyền sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích 1342,3m², thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 8, loại đất trồng cây hằng năm khác, đất tọa lạc tại ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Việc tranh chấp quyền sử dụng đất đã diễn ra trong nhiều năm được thể hiện qua các biên bản xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm (BL 297, 298, 299). Bà Q được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chưa thu thập được hồ sơ cấp giấy lần đầu tiên. Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để thực hiện việc thu thập tài liệu, chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:
- Về chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có cơ sở xem xét chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/11/2023, bị đơn ông Lê Tấn T1 và bà Trần Thị L có đơn kháng cáo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Lê Tấn T1 và bà Trần Thị L.
[2.1] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp và quá trình sử dụng đất:
- Theo bà Nguyễn Thị Q thì khoảng năm 1998 - 1999 bà có nhận chuyển nhượng từ bà Trần Thị T3 với giá là 3,2 chỉ vàng 24K, khi đó chỉ làm giấy tay, nhưng đến nay giấy này đã thất lạc không còn. Đến ngày 11/5/1999 thì bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất tạm thời, sau đó, ngày 12/02/2003 bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2007, Ủy ban nhân dân huyện P thu hồi một phần đất của bà Q để làm đường trong khu hành chính. Khi đó, bà Q có yêu cầu chỉnh lý biến động phần đất và được cấp giấy chứng nhận vào ngày 07/01/2013. Vào ngày 28/9/2019 thì bà Q tặng cho lại cho bà Nguyễn Thị Út N và ngày 03/8/2022 thì bà Út N chuyển nhượng lại cho bà Đoàn Thị Bảo T.
- Bị đơn cho rằng, nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Trần Văn H cho lại bị đơn Trần Thị L và Lê Tấn T1, sau này khi bà Trần Thị T3 là em ruột của bà L gặp khó khăn nên mới cho mượn phần đất để canh tác, nhưng sau đó bà T3 cố cho bà Nguyễn Thị Út N, do nghĩ chỉ cố đất khi nào có tiền sẽ chuộc lại, nhưng không biết vì sao đến năm 2013 bà Q được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Xét thấy, khi bà Q, bà Út N canh tác trên phần đất tranh chấp liên tục trên 20 năm, bị đơn cũng biết nhưng không phản đối và có đào con mương để làm ranh. Hơn nữa, bị đơn trình bày nhưng không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ. Bởi lẽ, từ việc ông Trần Văn H cho lại phần đất của bị đơn, đến việc bị đơn cho bà T3 mượn đất để canh tác, cũng như việc cố đất giữa bà T3 với bà Út N đều chỉ nói miệng. Theo lời trình bày của bà Út N cũng xác định không có việc vay tiền, vàng hay cầm cố đất giữa bà Út N với bà T3. Do đó, lời trình bày của bị đơn, bà T3 không có cơ sở xem xét. Việc bị đơn cho rằng phần đất của nguyên đơn nằm trong giấy chứng nhận của bị đơn là không chính xác, bởi lẽ phần đất của bị đơn được cấp tại hai thửa đất là 262 và 203, còn phần đất tranh chấp tại thửa số 141 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Q từ năm 1999 đến năm 2003 thì thực hiện cấp đổi giấy chứng nhận và năm 2013 thì cũng được cấp giấy chứng nhận trên thửa đất này. Bị đơn cho rằng khi bà Q được cấp giấy năm 2003 có diện tích là 1791m², đến khi chuyển nhượng cho bà T có diện tích là 1342,3m², như vậy việc cấp giấy cho bà Q là không chính xác nên yêu cầu hủy các giấy chứng nhận cấp cho bà Q, bà Út N và bà T. Tại Công văn số 1926/UBND-NC ngày 09/8/2023 của Ủy ban nhân dân huyện P cũng xác định về trình tự, thủ tục đăng ký biến động của hộ bà Nguyễn Thị Q là đảm bảo theo quy định của pháp luật đất đai năm 2003.
Xét phần đất của bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 203, là thửa giáp ranh với thửa 141 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Q. Khi bị đơn làm thủ tục cấp giấy đối với thửa đất này vào năm 2008, thì bà Q là người ký giáp ranh cho bị đơn, khi đó bị đơn cũng không có ý kiến phản đối hay tranh chấp gì với bà Q. Bị đơn cho rằng có đóng thuế trên phần đất này đến năm 2003 và có cung cấp sổ thuế thì xác định diện tích mà bị đơn phải nộp thuế năm 1996 là 0,557ha, năm 1997 là 0,427 ha, năm 1998, 1999 và năm 2000 là 0,3795ha. Như vậy, trong khoảng thời gian từ năm 1996 đến năm 1997 diện tích phần đất có giảm từ 0,557ha xuống còn 0,427ha, là 0,1300ha, tức là 1300m². Diện tích bị giảm xuống phù hợp với thời gian chuyển nhượng, cũng như diện tích chuyển nhượng mà bà Nguyễn Thị Q đã trình bày. Theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bị đơn được cấp tại thửa 262 và 203 là 3815m². Như vậy, diện tích bị đơn được cấp giấy và thực tế đang sử dụng là phù hợp.
Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về hủy giấy chứng nhận cấp cho bà Nguyễn Thị Q, bà Út N và bà T để trả lại phần đất cho bị đơn là có căn cứ.
[2.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn đề nghị tạm ngừng phiên tòa để thu thập thêm tài liệu chứng cứ là hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Q. Bị đơn cho rằng thời điểm năm 2003 đã xảy ra tranh chấp nên không thể kê khai đăng ký để được cấp giấy Hội đồng xét xử xét thấy, năm 2000 hộ ông Lê Tấn T1 được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời không có thửa đất 141 là phần đất hiện đang tranh chấp và theo sổ thuế mà bị đơn cung cấp thì thể hiện bị đơn nộp thuế vào năm 2000 diện tích 0,3795ha phù hợp diện tích mà bị đơn được cấp theo giấy chứng nhận tạm thời. Hộ bà Nguyễn Thị Q được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời vào ngày 11/5/1999 và trên cơ sở đó được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 12/02/2003 thể hiện thửa 141 diện tích 1791m². Qua quá trình cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa 141 diện tích có thay đổi nhưng vẫn được cấp cho hộ bà Nguyễn Thị Q đến sau này chuyển nhượng lại cho nguyên đơn. Việc hộ ông Lê Tấn T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ sau khi hộ bà Nguyễn Thị Q và tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hai bên chưa phát sinh tranh chấp, bị đơn không khiếu nại yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét việc cấp chưa đủ diện tích đất là thửa 141, thể hiện bị đơn mặc nhiên thừa nhận phần đất tại thửa 141 là của bà Q. Do đó, yêu cầu của luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu nhưng được miễn nộp do thuộc hộ cận nghèo và người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Tấn T1 và bà Trần Thị L.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 103/2023/DS-ST ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Áp dụng:
- - Các Điều 101, 203 Luật đất đai năm 2013;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đoàn Thị Bảo T.
Công nhận phần đất diện tích là 1342,3m², tại thửa 141, tờ bản đồ số 8, loại đất trồng cây hằng năm khác, đất tọa lạc tại ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang theo Mảnh trích đo địa chính số 54/2023 ngày 30/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P cho bà Đoàn Thị Bảo T (Có lược đồ kèm theo).
Buộc các bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấm dứt hành vi cản trở, ngăn cản nguyên đơn sử dụng hợp pháp đối với phần đất này.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Trần Thị L và Lê Tấn T1 về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị Út N, bà Đoàn Thị Bảo T để trả lại phần đất diện tích 1342,3m² cho bị đơn.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho các bị đơn. Nguyên đơn được nhận lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lại số 0000753 ngày 22 tháng 11 năm 2022 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng), bị đơn phải nộp là 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng), nguyên đơn đã nộp xong. Bị đơn phải nộp 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang để hoàn trả cho nguyên đơn.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Lê Tấn T1 và Trần Thị L được miễn.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 21/6/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Quốc Tuấn |
Bản án số 94/2024/DS-PT ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 94/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét phần đất của bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 203, là thửa giáp ranh với thửa 141 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Q. Khi bị đơn làm thủ tục cấp giấy đối với thửa đất này vào năm 2008, thì bà Q là người ký giáp ranh cho bị đơn, khi đó bị đơn cũng không có ý kiến phản đối hay tranh chấp gì với bà Q.
