Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CT
TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 94/2021/HS-ST.
Ngày: 16/11/2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CT - TỈNH TIỀN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Nhơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Châu Bích Phượng.
  2. Nguyễn Thị Mai Khanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CT tham gia phiên tòa:Nguyễn Thị Ngọc Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 107/2021/TL-HSST ngày 01 tháng 10 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Hoàng T
Sinh năm 1990, tại Tiền Giang
Đăng ký thường trú: ấp VB, xã VK, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.
Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: không. Trình độ học vấn: 10/12.
Con ông: Dương Văn H, sinh năm 1955;
Con bà: Phạm Thị B, sinh năm 1955.
Anh, chị, em ruột: có 04 người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình.
Vợ: Trương Thị Mai T1, sinh năm 1992 (đã chết).
Con: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ ngày 20/7/2021, tạm giam từ ngày 23/7/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

+ Bị hại: Ông Trần Văn A, sinh năm 1959. Địa chỉ: ấp LL, xã LH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn B1, sinh năm 1960. Địa chỉ: 264/7/12 khu vực 5, phường TD, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

+ Người làm chứng:Nguyễn Thị Bé H1, sinh năm 1964. Địa chỉ: ấp LL, xã LH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Dương Hoàng T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện CT, tỉnh Tiền Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 22/5/2021, Dương Hoàng T và vợ là Trương Thị Mai T1, sinh năm 1990, đăng ký thường trú: ấp VB, xã VK, huyện CT, tỉnh Tiền Giang (đã chết tháng 8/2021) dẫn theo 02 con nhỏ đến thuê phòng tại khách sạn KH, tọa lạc tại ấp LL, xã LH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang do ông Trần Văn A, sinh năm 1959 làm chủ. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày T1 dẫn 02 con đi ra ngoài mua đồ, còn T đi đến quầy tiếp tân nhờ chị Nguyễn Thị Bé H1, sinh năm 1964, đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp LL, xã LH huyện CT, tỉnh Tiền Giang đi mua nước uống. Khi chị H1 vừa đi khỏi thì T nhìn thấy chiếc xe mô tô gắn biển số 60FK-0756, trên xe có gắn sẵn chìa khóa dựng gần khu vực cổng ra vào nên nảy sinh ý định lấy trộm. T lén lút dẫn chiếc xe ra ngoài lộ và lên xe chạy về hướng Quốc lộ 1A, đến Bến Lức, tỉnh Long An bán cho một người nam (không rõ họ tên, địa chỉ) được số tiền 1.700.000 đồng, số tiền này T tiêu xài cá nhân hết.

Khi phát hiện T lấy trộm xe, ông A đuổi theo T nhưng không kịp, khi ra đến Quốc lộ 1A thì gặp T1 và hai đứa bé nên ông A giữ lại và trình báo cơ quan công an. Quá trình T trộm xe mô tô biển số 60FK-0756 được camera của khách sạn KH ghi lại.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 185 ngày 07/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện CT, tỉnh Tiền Giang kết luận: 01 xe môtô kiểu dáng Wave 50 phân khối, màu sơn xanh, biển số 60FK-0756 có giá là 3.300.000 đồng.

Thu giữ vật chứng: 01 (một) điện thoại di động Samsung màu trắng, đã cũ của bị cáo Dương Hoàng T.

Tại bản cáo trạng số 109/CT-VKSCT ngày 27/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Dương Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Dương Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 32, Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Hoàng T từ 06 đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn A không yêu cầu bị cáo bồi thường, do đó không xem xét giải quyết.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại, người có nghĩa vụ, quyền, lợi ích liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy:

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Hoàng T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Khoảng 15 giờ ngày 22/5/2021, lợi dụng sơ hở của bị hại Trần Văn A khi để xe không có người trông giữ, trên xe có gắn sẵn chìa khóa, bị cáo đã lấy trộm của ông Trần Văn A 01 xe môtô kiểu dáng Wave 50 phân khối, màu sơn xanh, biển số 60FK-0756, tài sản bị cáo chiếm đoạt của ông A có giá trị là 3.300.000đ. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Dương Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy: Bị cáo Dương Hoàng T là người đã thành niên, bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản hợp pháp của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, chỉ vì muốn hưởng lợi không bằng sức lao động chính đáng của mình mà bị cáo đã lén lút chiếm đoạt của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo Dương Hoàng T là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo gây tư tưởng hoang mang trong nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, cũng như phòng ngừa chung cho các đối tượng khác.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi 03 con nhỏ, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[4] Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động Samsung màu trắng, đã cũ, đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện CT, tỉnh Tiền Giang đã trả lại cho Dương Hoàng T là đúng quy định của pháp luật.

[5] Xe mô tô 60FK-0756 do ông Trần Văn B1 sinh năm 1960. Địa chỉ: 264/7/12 khu vực 5, phường TD, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu, tuy nhiên ông B1 đã bán cho người khác không biết họ tên, khi bán chỉ giao xe, nhận tiền không làm giấy tờ, thủ tục sang tên, nay ông B1 xác định xe đã bán và không có ý kiến hay yêu cầu gì, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn A không yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị xe mô tô 60FK-0756, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Dương Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử: Phạt bị cáo Dương Hoàng T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 20/7/2021.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Dương Hoàng T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tiền Giang
- VKSND huyện CT;
- Công an huyện CT;
- Chi cục THADS huyện CT;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA


(Đã ký)


Trần Văn Nhơn
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2021/HS-ST ngày 16/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện CT - tỉnh Tiền Giang về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 94/2021/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện CT - tỉnh Tiền Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Dương Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger