|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 938/2024/DS-PT
Ngày: 30 - 10 - 2024
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn
Các Thẩm phán: Ông Ngô Đức Thọ
Bà Trần Thị Thúy Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Lê Tấn Cường, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong các ngày 22/10/2024 đến ngày 30/10/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 630/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 8 năm 2024, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1954.
- Địa chỉ: 5 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện hợp pháp của bà B: Bà Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1961.
- - Bị đơn:
- Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của Ông Nguyễn Văn T (chết 2021):
- Ông Nguyễn Phúc T1, sinh năm 1955.
- Bà Nguyễn Thị Phúc Y, sinh năm 1961.
- Bà Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh năm 1971.
- Bà Nguyễn Thị Phúc O, sinh năm 1963.
- Bà Nguyễn Thị Phúc H, sinh năm 1966.
- Ông Nguyễn Phúc H1, sinh năm 1968.
- Ông Nguyễn Phúc S, sinh năm 1959;
- Ông Phùng Văn Đ, sinh năm: 1966.
- Bà Huỳnh Thị Kim P, sinh năm: 1976.
- - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phùng Văn Đ, sinh năm: 1966.
- Bà Huỳnh Thị Kim P, sinh năm: 1976.
- Ông Nguyễn Phúc H1, sinh 1968.
- Bà Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh năm 1971.
- Ủy ban nhân dân huyện B; Địa chỉ: C đường T, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Dương Thị Kim H2, Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B.
- Văn phòng C; Địa chỉ: A N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Đình L, sinh năm 1966.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh năm 1964.
- Bà Phùng Thị L1, sinh năm 1975.
- Ông Vũ Xuân P1, sinh năm 2004.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn V.
- Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1933; Địa chỉ: D E street, T, WA 98404. USA; Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1954. Địa chỉ: 5 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Đình K, chết 2017:
- Bà Nguyễn Thị Thanh N2, sinh năm 1959 (Mất tích theo Quyết định số 168/2019/QĐST-VDS ngày 02/4/2019).
- Ông Nguyễn Đình L, sinh năm 1966; Địa chỉ: B H, ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1961; Địa chỉ: B ấp B, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị K1, chết 2011:
- Ông Đỗ Nguyễn Quốc H3, sinh năm 1979.
- Ông Đỗ Nguyễn Quốc H4, sinh năm 1980.
- - Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị B.
Địa chỉ: 1 P, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: 9 N, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Cấp C, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: C ấp C, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: B ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ thường trú: A P, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: 7 A, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: 7 A, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: B H, ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: B H, ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: 3 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thu N, ông Phùng Văn Đ, ông Nguyễn Đình L, bà Nguyễn Thị Ngọc T2 có mặt; những người tham gia tố tụng còn lại đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai của phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị B do bà Nguyễn Thị Thu N đại diện theo ủy quyền trình bày:
Cha mẹ nguyên đơn là ông Nguyễn Văn K2 (chết năm 1983) và bà Nguyễn Thị Đ1 (chết năm 1999) có tạo lập và trực tiếp sử dụng phần đất diện tích 30.610m² thuộc các thửa cũ là 315, 316, 317, 318, 319, 320, 321, 324 tờ bản đồ số 02, địa chỉ: xã T, huyện B. Thành phố Hồ Chí Minh theo đơn đăng ký quyền sử dụng đất đã được Hội đồng đăng ký ruộng đất thông qua ngày 09/4/1983. Theo tài liệu trước năm 1975, một phần đất của gia đình bà B là thuộc một phần Bằng khoán số 260, tờ bản đồ số 02 (nay thuộc một phần thửa đất số 1035, 1049, 1050, 1482, 1483 tờ bản đồ số 03 theo tài liệu Chỉ thị 02/CT-UB) tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh).
Khoảng năm 1978, ông Nguyễn Văn T có đến xin ở nhờ trên một phần đất của gia đình bà B, vì nhận thấy ông T có hoàn cảnh khó khăn nên ông Nguyễn Văn K2 đã cho ông T cất tạm một căn nhà lá nằm ngoài bìa (gần mé sông) thuộc phần đất của gia đình bà B, diện tích khoảng 100m². Đến năm 1997, căn nhà lá bị sập nên ông T không còn ở đây.
Năm 1983, ông Nguyễn Văn K2 chết. Năm 1999, bà Nguyễn Thị Đ1 chết, phần diện tích đất nên trên (30.610m²) thuộc Bằng khoán 260 được bà B và các đồng thừa kế khác của bà Đ1 trực tiếp canh tác và quản lý, sử dụng cho đến nay.
Ngày 27/11/1997, ông Nguyễn Văn T đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 955349, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 349 QSDĐ/1997 đối với diện tích đất 5.131m², thuộc các thửa 1035, 1049, 1050 1482, 1483 tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 20/04/2015, ông T đã chuyển một phần thửa 1050 (400,3m²), tờ bản đồ số 03 (tài liệu chỉnh lý 1992) tương ứng một phần thửa 162 (400,3m²), số thửa mới 773, tờ bản đồ số 52 (tài liệu BĐDC) sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 603329, số vào sổ cấp GCN: CH 04951 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho ông Nguyễn Văn T.
Sau đó, vào năm 2017 ông T đã chuyển nhượng phần đất diện tích 2.363m², thuộc thửa 1483, 1482, 1049, 1050 tờ bản đồ số 03 cho ông Phùng Văn Đ và bà Huỳnh Thị Kim P.
Tại thời điểm năm 1997 khi Ủy ban cấp giấy cho ông T thì gia đình bà B không biết, đến tháng 4/2017 ông Đ cho người vào khuôn viên đất của gia đình nguyên đơn để chặt cây thì gia đình mới phát hiện, và có mời ông Đ vào nhà làm việc nhưng sau đó ông Đ vẫn cố tình xây dựng nhà trên 02 thửa đất 1049, 1050. Sau đó gia đình có gửi đơn ngăn chặn đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai và Ủy ban huyện B. Còn thửa 1483, 1482 gia đình nguyên đơn vẫn đang trực tiếp sử dụng trồng cây tạp lâu năm.
Xét thấy quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình mình bị xâm phạm, bà B đã gửi đơn yêu cầu hòa giải đến Ủy ban nhân dân xã T, huyện B để giải quyết tranh chấp giữa gia đình bà B và ông Nguyễn Văn T. Ngày 15/06/2017, Ủy ban nhân dân xã T, huyện B đã tiến hành buổi hòa giải giữa gia đình bà B và ông T nhưng hòa giải không thành, nên bà Nguyễn Thị B đã nộp đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị xem xét giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất, yêu cầu hủy các giấy chứng nhận:
- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 955349, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 349 QSDĐ/1997 do UBND huyện B cấp cho ông Nguyễn Văn T ngày 27/11/1997 đối với diện tích đất 2.363m², thuộc các thửa 1049, 1050 1482, 1483, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do BY 603329, số vào sổ cấp GCN: CH 04951 do UBND huyện B cấp cho ông Nguyễn Văn T ngày 20/04/2015 đối với phần đất thuộc thửa đất số 773, tờ bản đồ số 52 (tài liệu BĐDC), diện tích 400,3m², tọa lạc tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B cập nhật sang tên cho ông Phùng Văn Đ, bà Huỳnh Thị Kim P ngày 07/3/2017.
Thứ hai, yêu cầu hủy các hợp đồng sau:
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 014190 ngày 22/6/2017 giữa ông/bà Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc H1, Nguyễn Thị Tuyết N1 và ông/bà Phùng Văn Đ, Huỳnh Thị Kim P đối với thửa đất số 1050, 1049 tại xã T, huyện B.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 014189 ngày 22/6/2017 giữa ông/bà Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc H1, Nguyễn Thị Tuyết N1 và bà Huỳnh Thị Kim P, đối với thửa đất số 1483, 1482 tại xã T, huyện B.
- Hủy hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ số B ấp B xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Số hợp đồng 000231 ngày 04/01/2017 giữa ông/bà Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc H1, Nguyễn Thị Tuyết N1 và ông/bà Phùng Văn Đ, Huỳnh Thị Kim P.
Thứ ba, yêu cầu ông Phùng Văn Đ và bà Huỳnh Thị Kim P2 tháo dỡ toàn bộ công trình đã xây dựng và trả lại cho gia đình nguyên đơn phần đất diện tích 2.363m², thuộc các thửa 1483, 1482, 1049, 1050, tờ bản đồ số 03, địa chỉ xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ tư, yêu cầu ông Phùng Văn Đ và bà Huỳnh Thị Kim P trả lại phần rạch diện tích 69.5m² tọa lạc tại Ấp B, xã T, huyện B, theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H lập ngày 18/11/2022.
Rút yêu cầu buộc ông Phùng Văn Đ và bà Huỳnh Thị Kim P phải trả lại cho gia đình nguyên đơn phần đất diện tích 122.0m² thuộc thửa 1047, tờ bản đồ số 03, theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H lập ngày 18/11/2022.
Về chi phí tố tụng:
Đề nghị Tòa án yêu cầu những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn T phải thanh toán lại cho nguyên đơn chi phí là 29.919.448 đồng (Gồm: Đo vẽ lần 1: 9.641.052 đồng; Đo vẽ bổ sung: 1.278.396 đồng; Thẩm định lần 1: 9.000.000 đồng; Phí chặt cỏ, chặt cây, đóng cộc phân ranh đất, sơn nước: 10.000.000 đồng). Yêu cầu ông Phùng Văn Đ, bà Huỳnh Thị Kim P phải thanh toán lại cho nguyên đơn chi phí thẩm định giá lần 2 là 7.000.000 đồng.
Theo đơn và lời khai của phí bị đơn trình bày:
Bà Nguyễn Thị Tuyết N1 người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn T xin vắng mặt và có bản khai trình bày:
Bà là con ruột của ông Nguyễn Văn T chết tháng 8/2020, ông T có vợ là bà Nguyễn Thị G chết 2003. Ông T có 8 người con bao gồm: Nguyễn Phúc T1, sinh năm 1955; Nguyễn Phúc S, sinh năm 1959; Nguyễn Thị Phúc Y, sinh năm 1961; Nguyễn Thị Phúc O, sinh năm 1963; Nguyễn Thị Phúc H, sinh năm 1966; Nguyễn Phúc H1, sinh năm 1968; Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh năm 1971; Nguyễn Thị Phúc O (chết), có chồng là ông Nguyễn Hùng P3 sinh năm 1953, có ba người con gồm: Nguyễn Lâm Phương T3 sinh năm 1982; Nguyễn Lâm Phương Q, sinh năm 1985; Nguyễn Lâm Phương T4, sinh năm 1987.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà không có ý kiến và xin được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa giải quyết vụ án.
Bị đơn ông Phùng Văn Đ, bà Huỳnh Thị Kim P có đơn xin vắng mặt, bản khai trình bày:
Ngày 22/6/2017, ông Đ– bà P và gia đình ông T đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở, nhà ở tại B Ấp B xã T, huyện B, trong đó có một căn nhà cấp 4 do ông T xây không rõ năm nào, toạ lạc tại bản đồ số 3, thửa số 1050,1049, diện tích thực tế ngang 24m dài 50m. Sau đó ông xin phép xây dựng lại căn nhà cấp 4, làm kho có diện tích 300m² và xây tường bao quanh đất, ông sử dụng hợp pháp từ đó đến nay.
Ngày 22/6/2017, bà Huỳnh Thị Kim P và gia đình ông T (gồm: Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc H1, Nguyễn Thị Tuyết N1) tiếp tục ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các thửa 1483,1482, tờ bản đồ số 3, xã T, huyện B, là đất trồng cây lâu năm, đất ruộng. Do bà B khởi kiện ông T nên hai thửa đất này vợ chồng ông chưa được đứng tên quyền sở hữu và chưa được canh tác mặc dù đã được ủy ban xã C1.
Đề nghị Tòa công nhận quyền sở hữu, sử dụng các thửa đất số 1050,1049, 1483, 1482 cho vợ chồng ông.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông Nguyễn Ngọc M có đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị B có đơn xin vắng mặt, bản khai trình bày:
Thống nhất với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bà Nguyễn Thị Thu N trình bày:
Bà là con của ông Nguyễn Đình K, bà thống nhất với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ông Nguyễn Đình L có đơn xin vắng mặt, bản khai trình bày:
Ông là con của ông Nguyễn Đình K. Ông là người đang cư trú một phần trên phần đất tranh chấp ở địa chỉ B Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình, ông đồng ý với ý kiến cũng như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị B. Ông đề nghị Q1 tòa án xem xét và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B. Ông không có ý kiến nào khác đối với vụ án trên.
Bà Nguyễn Thị Ngọc T2 có đơn xin vắng mặt, bản khai trình bày:
Bà là vợ của ông Nguyễn Đình L hiện đang cư trú một phần trên phần đất tranh chấp ở địa chỉ B Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Thống nhất với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ông Đỗ Nguyễn Quốc H4, ông Đỗ Nguyễn Quốc H3 có đơn xin vắng mặt, bản khai trình bày:
Các ông là con của bà Nguyễn Thị K1. Đối với các yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B về việc buộc ông Nguyễn Văn T, ông Phùng Văn Đ, bà Huỳnh Thị Kim P phải trả lại cho gia đình ông các phần đất nêu trên là hợp lý, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình, đề nghị tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện trên của bà Nguyễn Thị B.
Bà Phùng Thị L1, ông Vũ Xuân P1 có đơn xin vắng mặt, bản khai trình bày:
Đối với tranh chấp giữa bà B và ông T ông bà không có ý kiến. Đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông, bà sẽ chấp hành các phán quyết của Tòa.
Văn phòng C có đơn xin vắng mặt, bản khai trình bày:
Ngày 04/01/2017, Văn phòng C đã chứng nhận Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số: 000231 đối với bất động sản tại thừa đất số 773, tờ bản đồ số 52, địa chỉ tại số H Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa bên chuyển nhượng là hộ gia đình ông Nguyễn Văn T, bao gồm ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Phúc H1, bà Nguyễn Thị Tuyết N1 với bên nhận chuyển nhượng là ông Phùng Văn Đ là Huỳnh Thị Kim P.
Ngày 22/6/2017, Văn phòng C đã chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 014189 đối với bất động sản tại thừa đất số 1483,1482, tờ bản đồ số 3, địa chỉ tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa bên chuyển nhượng là hộ gia đình ông Nguyễn Văn T, bao gồm ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Phúc H1, bà Nguyễn Thị Tuyết N1, với bên nhận chuyển nhượng là bà Huỳnh Thị Kim P.
Ngày 22/6/2017, Văn phòng C đã chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 014190 đối với bất động sản tại thửa đất số 1050, 1049, tờ bản đồ số 3, địa chỉ tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa bên chuyển nhượng là hộ gia đình ông Nguyễn Văn T, bao gồm ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Phúc H1, bà Nguyễn Thị Tuyết N1, với bên nhận chuyển nhượng là ông Phùng Văn Đ và bà Huỳnh Thị Kim P.
Tại thời điểm ký kết những hợp đồng chuyển nhượng nêu trên, người yêu cầu công chứng đã cung cấp đầy đủ hồ sơ pháp lý liên quan đến việc chuyển nhượng, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật, đã đọc, hiểu rõ nội dung hợp đồng chuyển nhượng, tự nguyện ký kết (ký từng trang và ghi rõ tôi đã đọc và đồng ý), điểm chỉ vào văn bản công chứng trước sự chứng kiến của công chứng viên Văn phòng C. Công chứng viên đã tiến hành kiểm tra đầy đủ bản chính hồ sơ công chứng, kiểm tra đúng nhân thân người yêu cầu công chúng trước khi ký, đóng dấu và phát hành văn bản công chứng theo đúng quy định pháp luật.
Đại diện Ủy ban nhân dân B xin vắng mặt, có ý kiến sau:
Về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 349/QSDĐ/1997 ngày 27 tháng 11 năm 1997 cho hộ ông Nguyễn Văn T:
Ngày 29 tháng 5 năm 1996, ông Nguyễn Văn T lập Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất các thửa 1482, 1483, 1035, 1050, 1049, tờ bản đồ số 3 (TLCL 1992), bộ địa chính xã T, tổng diện tích 5.131m², nguồn gốc chiếm dụng ruộng đất ông Nguyễn Văn T tự khai là đất ông Nguyễn Văn K2 cho ở từ năm 1976 đến nay. Hội đồng xét cấp Giấy chứng nhận xã T thuận cấp ngày 04 tháng 9 năm 1997;
Ngày 04 tháng 9 năm 1997, Ủy ban nhân dân xã T lập Tờ trình số 15 TT-UB trình Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt cấp Giấy chứng nhận;
Ngày 25 tháng 11 năm 1997, Phòng Địa chính Huyện lập Tờ trình số 25 TT-ĐC trình Ủy ban nhân dân huyện cấp Giấy chứng nhận cho 63 hộ gia đình cá nhân (trong đó có hộ ông Nguyễn Văn T, số thứ tự 12).
Ngày 27 tháng 11 năm 1997, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 80/QĐ-UB-QLĐT thuận cấp Giấy chứng nhận cho 63 hộ gia đình cá nhân (trong đó có hộ ông Nguyễn Văn T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 349/QSDĐ 1997).
Về nội dung biến động liên quan đến Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 349/QSDĐ/1997 ngày 27 tháng 11 năm 1997 cho hộ ông Nguyễn Văn T:
Ngày 01 tháng 4 năm 2002, hộ ông Nguyễn Văn T chuyển nhượng trọn thửa 1055, tờ bản đồ số 3 (TLCL 1992), bộ địa chính xã T cho ông Trần Duy M1.
Ngày 22 tháng 02 năm 2017, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 3136/QĐ-UBND cho phép ông Nguyện Văn T5 được chuyển mục đích sử dụng đất thừa 1483, 1049, tờ bản do số 3 (TLCL 1992), bộ địa chính xã T, diện tích 1003m² sang đất trồng cây lâu năm, được Chi nhánh Văn phòng Đ biến động ngày 28/3/2015.
Ngày 28 tháng 3 năm 2015, ông Nguyễn Văn T tách một phần thừa 1050, diện tích 400,3m² tương ứng một phần thửa 162 (số thửa mới 773), tờ bản đồ số 52 (BĐĐC), bộ địa chính xã T sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ CH04951 ngày 20 tháng 4 năm 2015.
Đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ CH04951 ngày 20 tháng 4 năm 2015:
Ngày 21 tháng 01 năm 2015, ông Nguyễn Văn T đại diện đồng sở hữu lập thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần diện tích 400,3m² thuộc một phần thửa 1050, tờ bản đồ số 3 (TLCL 1992), bộ địa chính xã T, tương ứng một phần thửa 162, tờ bản đồ số 52 (BĐĐC), bộ địa chính xã T.
Ngày 20 tháng 4 năm 2013, Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ CH04951 ngày 20 tháng 4 năm 2015 cho ông Nguyễn Văn T (đồng sở hữu và đại diện những người thừa kế).
Căn cứ Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5 2014 của Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu và đăng ký bổ sung đối với tài sản gắn liền với đất, Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ CH04951 ngày 20 tháng 4 năm 2015 cho ông Nguyễn Văn T (đồng sở hữu và đại diện những người thừa kế).
Về nội dung biến động gắn liền với Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ CH04951 ngày 20 tháng 4 năm 2015:
Ngày 04 tháng 01 năm 2017, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Phúc H1 và bà Nguyễn Thị Tuyết N1 lập Hợp đồng chuyển nhượng nhà ở, đất ở tại một phần thửa 1050, diện tích 400,3m² tương ứng một phần thửa 162 (số thừa mới 773), tờ bản đồ số 52 (BĐĐC), bộ địa chính xã T cho ông Phùng Văn Đ và bà Huỳnh Thị Kim P, được Công chứng viên Văn phòng C chứng nhận số 000231, quyền số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04 tháng 01 năm 2017.
Ngày 07 tháng 03 năm 2017, Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động trên trang 4 Giấy chứng nhận nội dung ông Nguyễn Văn T chuyển nhượng toàn bộ diện tích cho ông Phùng Văn Đ và bà Huỳnh Thị Kim P.
Đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) VAN C.T có đơn xin vắng mặt, bản khai trình bày:
Công ty hiện đang sản xuất lắp giày, kệ sắt tại địa chỉ B H, Ấp B, xã T, huyện B. Đối với tranh chấp giữa bà B và ông T công ty không có ý kiến. Đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật. Công ty sẽ chấp hành các phán quyết của Tòa. Công ty xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Ông Phùng Văn Đ, bà Huỳnh Thị Kim P có đơn xin vắng mặt, bản khai trình bày:
Ngày 22/6/2017, ông Đ– bà P và gia đình ông T đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở, nhà ở tại B Ấp B xã T, huyện B, trong đó có một căn nhà cấp 4 do ông T xây không rõ năm nào, toạ lạc tại bản đồ số 3, thửa số 1050,1049, diện tích thực tế ngang 24m dài 50m. Sau đó ông xin phép xây dựng lại căn nhà cấp 4, làm kho có diện tích 300m² và xây tường bao quanh đất, ông sử dụng hợp pháp từ đó đến nay.
Ngày 22/6/2017, bà Huỳnh Thị Kim P và gia đình ông T (gồm: Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc H1, Nguyễn Thị Tuyết N1) tiếp tục ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các thửa 1483,1482, tờ bản đồ số 3, xã T, huyện B, là đất trồng cây lâu năm, đất ruộng. Do bà B khởi kiện ông T nên hai thửa đất này vợ chồng ông chưa được đứng tên quyền sở hữu và chưa được canh tác mặc dù đã được ủy ban xã C1. Đề nghị Tòa công nhận quyền sở hữu, sử dụng các thửa đất số 1050,1049, 1483, 1482 cho vợ chồng ông.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 363/2024/DS-ST ngày 17/6/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc:
- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 955349, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 349 QSDĐ/1997 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho ông Nguyễn Văn T ngày 27/11/1997 đối với diện tích đất 2.363m², thuộc các thửa 1049, 1050, 1482, 1483, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do BY 603329, số vào sổ cấp GCN: CH 04951 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho ông Nguyễn Văn T ngày 20/04/2015 đối với phần đất thuộc thửa đất số 773, tờ bản đồ số 52 (tài liệu BĐDC), diện tích 400,3m², tọa lạc tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, đã được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện B cập nhật sang tên cho ông Phùng Văn Đ, bà Huỳnh Thị Kim P ngày 07/3/2017.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 014190 ngày 22/6/2017 giữa ông/bà Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc H1, Nguyễn Thị Tuyết N1 và ông/bà Phùng Văn Đ, Huỳnh Thị Kim P đối với thửa đất số 1050, 1049 tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 014189 ngày 22/6/2017 giữa ông/bà Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc H1, Nguyễn Thị Tuyết N1 và bà Huỳnh Thị Kim P, đối với thửa đất số 1483, 1482 tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hủy hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ số B Ấp B xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Số hợp đồng 000231 ngày 04/01/2017 giữa ông/bà Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc H1, Nguyễn Thị Tuyết N1 và ông/bà Phùng Văn Đ, Huỳnh Thị Kim P.
- Yêu cầu ông Phùng Văn Đ và bà Huỳnh Thị Kim P2 tháo dỡ toàn bộ công trình đã xây dựng và trả lại cho gia đình nguyên đơn phần đất diện tích 2.363m², thuộc các thửa 1483, 1482, 1049, 1050, tờ bản đồ số 03, địa chỉ xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Yêu cầu ông Phùng Văn Đ và bà Huỳnh Thị Kim P trả lại phần rạch diện tích 69.5m² tọa lạc tại Ấp B, xã T, huyện B, theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H lập ngày 18/11/2022.
- Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Phùng Văn Đ và bà Huỳnh Thị Kim P phải trả lại phần đất diện tích 122.0m² thuộc thửa 1047, tờ bản đồ số 03 do nguyên đơn đã rút yêu cầu.
Ngoài ra án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị B làm đơn kháng cáo, yêu cầu giải quyết lại theo trình tự phúc thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phía nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Bà N là người đại diện cho bà B thì cho rằng, diện tích đất tranh chấp là diện tích đất do ông bà của bà B cho mượn nhưng phía ông T lại đăng ký và không sử dụng, sau đó chuyển nhượng lại cho người khác. Nay bà yêu cầu hủy các giấy chứng nhận cấp cho ông T, yêu cầu trả lại diện tích đất trên và yêu cầu hủy tất cả hợp đồng chuyển nhượng của phía ông T cho ông Đ và bà P. Ngoài ra, bà còn yêu cầu được hoàn lại các cái chi phí tố tụng mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với phía nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng, quá trình xử lý, giải quyết vụ án Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo luật định. Về nội dung Viện kiểm sát xét thấy trong quá trình sử dụng đất, ông Nguyễn Văn K2 và bà Nguyễn Thị Đ1 là cha mẹ của bà B có giao phần đất đang tranh chấp nêu trên cho ông T. Trong quá trình sử dụng và kê khai thì phía bà B không có kê khai nhưng phía ông T có kê khai, cơ quan quản lý nhà nước đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T là đúng quy định của pháp luật. Sau đó, ông T đã chuyển nhượng và người mua là ông Đ, bà P, là những người chuyển nhượng hợp pháp, đầy đủ các trình tự, thủ tục nên Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu của bà B là đúng. Tại phiên tòa phía bà B cũng không đưa ra được những tài liệu, chứng cứ gì nên Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa nghe đương sự trình bày và nghe Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục kháng cáo:
- Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:
- Về nguồn gốc đất tranh chấp
- Tòa án cấp sơ thẩm đã công nhận quyền sử dụng đất tranh chấp
- Do xác định quyền sử dụng đất hợp pháp là của ông T
- Đối với khởi kiện trước đây,
- Đối với phần rạch 69,95m²,
- Tại cấp phúc thẩm,
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị B làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
phía nguyên đơn khai có cha mẹ là ông Nguyễn Văn K2 và bà Nguyễn Thị Đ1 tạo lập và trực tiếp sử dụng diện tích 30.610m² thuộc các thửa 315, 316, 317, 318, 319, 320, 321, 324, tờ Bản đồ số 2, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo đăng ký ruộng đất vào năm 1983 và tài liệu trước 1975 một phần đất của gia đình bà B là thuộc bằng khoáng số 260 thuộc xã T, huyện B do bà B và các đồng thừa kế khác của bà Đ1 trực tiếp canh tác và quản lý, sử dụng đến nay.
Tuy nhiên, qua thẩm tra hồ sơ thì thấy vào ngày 29/5/1992, bà Nguyễn Thị Đ1 chỉ đăng ký 14.484m² đối với thửa 802, 1294, 1296, 1297, 1298, 1484, 1485 ở xã T và có xác nhận Ủy ban xã vào ngày 8/6/1992. Sau đó thì có quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 187 năm 1992 và bà Đ1 đã được duyệt cấp 14.484m².
Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 484 năm 1993 thì bà được cấp các thửa đất như đã đăng ký nêu trên và bà không có đăng ký đối với diện tích đất tranh chấp.
Đối với ông Nguyễn Văn T thì ông sử dụng diện tích đất này ông khai là do phía bà Đ1 cho để sử dụng từ năm 1978 với diện tích là 5.131m², gồm các thửa 1482, 1483, 1035, 1050, 1049.
Ngày 29/5/1996, ông T kê khai nguồn gốc và đã có xác nhận của Ủy ban xã là thuận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy xác nhận trên được lập ngày 4/9/1997.
Các trình tự, thủ tục hành chính về đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Ủy ban nhân dân xã đã thực hiện và chuyển lên huyện đều đúng quy định theo Luật Đất đai.
Theo quy định tại Điều 1 Luật Đất đai năm 1993 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý và Điều 2 quy định người sử dụng đất ổn định được Ủy ban xã, phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo luật đất đai”.
Như vậy, quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T đối với diện tích đất nêu trên đã thực hiện đúng theo Điều 20 của Luật Đất đai năm 1993.
trên cho ông T và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
nên các hợp đồng chuyển nhượng từ phía ông T cho ông Đ, bà P cũng như việc công nhận biến động, cập nhật biến động đối với phần diện tích đất nêu trên là phù hợp với quy định pháp luật.
Ngoài ra, ông Đ và bà P là người chuyển nhượng đất của ông T hợp pháp nên Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của ông Đ và bà P là phù hợp. Ông Đ, bà P không có kháng cáo về vấn đề này.
bà B yêu cầu diện tích 122m² nhưng sau đó bà không yêu cầu nữa. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã đình chỉ đối với yêu cầu này không giải quyết là có căn cứ.
phần này không nằm trong phần diện tích mà bà Nguyễn Thị Đ1 được cấp giấy chứng nhận và phần này bà cũng không có đăng ký đối chiếu với các hồ sơ sổ bộ. Theo Giấy chứng nhận số 484 năm 1993 thì không có thửa đất có diện tích 69m² mà đây là thuộc về đất rạch. Phía nguyên đơn cũng có khai nhận đây là đất rạch trên đất của Nhà nước để làm công trình thủy lợi nên Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở.
phía bà B kháng cáo, nhưng cũng không đưa ra được những tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Tòa án cấp phúc thẩm cũng đã tạm hoãn, tạm dừng phiên tòa nhiều lần để phía nguyên đơn cung cấp các tài liệu bổ sung. Tuy nhiên, phía nguyên đơn không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh có việc đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp theo Luật Đất đai, nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật.
Do không chấp nhận kháng cáo của bà B nên người kháng cáo phải chịu theo luật định. Bà B là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.
Bởi các lẽ trên;
Căn cứ Điều 308 Bộ Luật tố tụng Dân sự.
QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị B. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng Điều 34, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 147, Điều 155, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Áp dụng Luật Đất đai năm 1993; Áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12, Điều 24, Điều 25, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Áp dụng Luật Người cao tuổi; Áp dụng Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc:
- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 955349, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 349 QSDĐ/1997 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho ông Nguyễn Văn T ngày 27/11/1997 đối với diện tích đất 2.363m², thuộc các thửa 1049, 1050, 1482, 1483, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do BY 603329, số vào sổ cấp GCN: CH 04951 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho ông Nguyễn Văn T ngày 20/04/2015 đối với phần đất thuộc thửa đất số 773, tờ bản đồ số 52 (tài liệu BĐDC), diện tích 400,3m², tọa lạc tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, đã được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện B cập nhật sang tên cho ông Phùng Văn Đ, bà Huỳnh Thị Kim P ngày 07/3/2017.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 014190 ngày 22/6/2017 giữa ông/bà Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc H1, Nguyễn Thị Tuyết N1 và ông/bà Phùng Văn Đ, Huỳnh Thị Kim P đối với thửa đất số 1050, 1049 tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 014189 ngày 22/6/2017 giữa ông/bà Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc H1, Nguyễn Thị Tuyết N1 và bà Huỳnh Thị Kim P, đối với thửa đất số 1483, 1482 tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hủy hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ số B Ấp B xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Số hợp đồng 000231 ngày 04/01/2017 giữa ông/bà Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc H1, Nguyễn Thị Tuyết N1 và ông/bà Phùng Văn Đ, Huỳnh Thị Kim P.
- Yêu cầu ông Phùng Văn Đ và bà Huỳnh Thị Kim P2 tháo dỡ toàn bộ công trình đã xây dựng và trả lại cho gia đình nguyên đơn phần đất diện tích 2.363m², thuộc các thửa 1483, 1482, 1049, 1050, tờ bản đồ số 03, địa chỉ xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Yêu cầu ông Phùng Văn Đ và bà Huỳnh Thị Kim P trả lại phần rạch diện tích 69.5m² tọa lạc tại Ấp B, xã T, huyện B, theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H lập ngày 18/11/2022.
- Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Phùng Văn Đ và bà Huỳnh Thị Kim P phải trả lại phần đất diện tích 122.0m² thuộc thửa 1047, tờ bản đồ số 03 do nguyên đơn đã rút yêu cầu.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị B được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ HOÀNG TẤN |
Bản án số 938/2024/DS-PT ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 938/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
