Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 936/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18/12/2025

V/v: “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Chanh

Bà Nguyễn Thị Hà

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Bạch Lê Dũng - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình về “Ly hôn, nuôi con” thụ lý số: 629/2025/TLST-HNGĐ ngày 23/10/2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lâm Thị P, sinh năm 1990

Nơi đăng ký HKTT: thôn T, xã K, huyện T, Thành phố Hà Nội nay là thôn T, xã T, Thành phố Hà Nội.

Nơi cư trú: thôn K, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội nay là thôn K, xã P, Thành phố Hà Nội.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1981

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn T, xã K, huyện T, Thành phố Hà Nội nay là thôn T, xã T, Thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa: Chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn - Chị Lâm Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lâm Thị P kết hôn với anh Nguyễn Ngọc A năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, Thành phố Hà Nội trên tinh thần tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà chồng tại thôn T, xã K, huyện T, Thành phố Hà Nội nay là thôn T, xã T, Thành phố Hà Nội. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận. Sau đó một thời gian chị P và anh Ngọc A nảy sinh mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không chia sẻ được với nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đỉnh điểm từ năm 2021 nên từ đầu năm 2021 chị P về nhà mẹ đẻ sinh sống và vợ chồng ly thân từ đó cho tới nay. Nay chị P xác định tình cảm không còn nên chị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị P được ly hôn với anh Ngọc A để cả 02 ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A có 02 con chung gồm: Nguyễn Bảo T, sinh ngày 15/09/2009 và Nguyễn Minh T1, sinh ngày 22/03/2013. Ly hôn, chị P có nguyện vọng nuôi dưỡng cả 02 con chung nhưng nếu anh Ngọc A không đồng ý mà phải phân chia thì chị P có nguyện vọng nuôi cháu Nguyễn Bảo T và không yêu cầu anh Ngọc A cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức: Chị Lâm Thị P không yêu cầu giải quyết

* Bị đơn - Anh Nguyễn Ngọc A trình bày:

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Ngọc A thừa nhận anh Ngọc A kết hôn với chị Lâm Thị P năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, Thành H. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà anh Ngọc A tại thôn T, xã K, huyện T, Thành phố Hà Nội nay là thôn T, xã T, Thành phố Hà Nội. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, hòa thuận. Sau một thời gian, giữa vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không chia sẻ được với nhau. Vợ chồng ly thân từ năm 2021, chị P về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó cho đến nay. Nay chị P xin ly hôn, anh Ngọc A đồng ý ly hôn để cả hai ổn định cuộc sống.

Về con chung: Anh Nguyễn Ngọc A thừa nhận, anh Ngọc A và chị Lâm Thị P và có 02 con chung gồm: Nguyễn Bảo T, sinh ngày 15/09/2009 và Nguyễn Minh T1, sinh ngày 22/03/2013. Hiện tại, cháu Minh T1 đang ở với anh Ngọc A và cháu Bảo T đang ở với chị P. Ly hôn, anh Ngọc A có nguyện vọng nuôi dưỡng cả 02 con chung nhưng nếu chị P muốn nuôi cháu Bảo T thì anh Ngọc A cũng đồng ý.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Nguyễn Ngọc A thừa nhận, anh Ngọc A và chị Lâm Thị P không có, tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại đơn trình bày nguyện vọng của con chung: Cháu Nguyễn Bảo T có nguyện vọng được chị Lâm Thị P nuôi dưỡng; cháu Nguyễn Minh T1 có nguyện vọng được anh Nguyễn Ngọc A nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa: Chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lâm Thị P và cho chị P được ly hôn anh Nguyễn Ngọc A; về con chung: Đề nghị giao con chung là Nguyễn Bảo T, sinh ngày 15/09/2009 cho chị Lâm Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành và giao con chung là Nguyễn Minh T1, sinh ngày 22/03/2013 cho anh Nguyễn Ngọc A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành theo như nguyện vọng của cả hai con chung; tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A; về tài sản chung, công sức, công nợ: Không xem xét; về án phí: Chị Lâm Thị P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A đều có hộ khẩu thường trú tại: thôn T, xã K, huyện T, Thành phố Hà Nội nay là thôn T, xã T, Thành phố Hà Nội. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, việc giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Thành phố Hà Nội.

[1.2] Về sự vắng mặt của chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A: Chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Lâm Thị P kết hôn với anh Nguyễn Ngọc A năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, Thành phố Hà Nội nên hôn nhân giữa chị P và anh Ngọc A là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị P cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị P là do vợ chồng không có tiếng nói chung và vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2021, chị P về nhà mẹ đẻ sinh sống cho tới nay. Nay chị P xin ly hôn anh Ngọc A để ổn định cuộc sống.

Xét thấy: Chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A đã ly thân được một thời gian tương đối dài, trong thời gian ly thân cả hai (chị P, anh Ngọc A) đều không có giải pháp cải thiện tình cảm vợ chồng. Nay chị P cương quyết xin ly hôn với anh Ngọc A nên cần xác định mâu thuẫn giữa chị P và anh Ngọc A đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị P và cho chị P được ly hôn anh Ngọc A để cả hai ổn định cuộc sống.

[2.2] Về con chung: Chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A có 02 con chung là: Nguyễn Bảo T, sinh ngày 15/09/2009 và Nguyễn Minh T1, sinh ngày 22/03/2013. Hiện con chung là Nguyễn Bảo T đang ở với chị P; Nguyễn Minh T1 đang ở với anh Ngọc A. Con chung Nguyễn Bảo T có nguyện vọng ở với chị P; Nguyễn Minh T1 có nguyện vọng với anh Ngọc A. Để ổn định trong sinh hoạt của các con chung nên cần giao chị P tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo T và giao anh Ngọc A nuôi dưỡng cháu Minh T1 cho đến khi trưởng thành hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

Chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A đều không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét đây là sự tự nguyện của chị P và anh Ngọc A nên cần chấp nhận và ghi nhận sự tự nguyện của chị P và anh Ngọc A. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị P và anh Ngọc A cho đến khi các bên có yêu cầu.

[2.4] Về tài sản chung, công sức, công nợ: Chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.5] Về án phí: Chị Lâm Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 266, 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

[1]. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lâm Thị P và cho chị Lâm Thị P được ly hôn anh Nguyễn Ngọc A.

[2]. Về con chung: Chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A có 02 con chung là: Nguyễn Bảo T, sinh ngày 15/09/2009 và Nguyễn Minh T1, sinh ngày 22/03/2013.

Giao con chung là Nguyễn Bảo T, sinh ngày 15/09/2009 cho chị Lâm Thị P tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

Giao con chung là Nguyễn Minh T1, sinh ngày 22/03/2013 cho anh Nguyễn Ngọc A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

Chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A cho đến khi các bên có yêu cầu.

[4]. Về tài sản chung: Không xem xét.

[5]. Về án phí: Chị Lâm Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Chị Nguyễn Thị T2 đã nộp 300.000 đồng (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu: BLTU/25E số: 0013128 ngày 23 tháng 10 năm 2025) tại Phòng thi hành án Dân sự khu vực 6 – Thành phố Hà Nội.

[6]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, chị Lâm Thị P và anh Nguyễn Ngọc A có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

- TAND TP Hà Nội;

- VKSND Khu vực 6 – TP Hà Nội;

- Chi THADS Khu vực 6 – TP Hà Nội;

- UBND xã Thanh Oai, Hà Nội (xã Kim An cũ)

(Số:02/2007);

- Các đương sự;

- Lưu HSVA./.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hoàng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 936/2025/HNGĐ-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 936/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên ly hôn giữa nguyên đơn và bị đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger