|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 935/2024/DS-PT Ngày: 29 - 10 - 2024 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán: Ông Cao Văn Tám
Bà Lê Thúy Cầu
- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 540/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5268/2024/QĐPT-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Quốc Đ, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Số E, ấp N, xã Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt).
- Bị đơn: Bà Đặng Phạm Tuyết T (tên thường gọi P), sinh năm 1994. Nơi cư trú: Số nhà A, ấp D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S. Địa chỉ: Số A, đường H, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1950. Nơi cư trú: Số C ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Ông Đặng Minh S, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Số D đường Đ, ấp D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bà Đặng Thị H, sinh năm 1963Nơi cư trú: Số nhà A, ấp D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)..
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đỗ Minh Q, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Số A Hẻm A, đường N, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn T: Ông Lưu Trí D, sinh năm 1959. Nơi cư trú: Số C đường N, khóm C, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S: Ông Nguyễn Văn Đ1 - Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh S (vắng mặt)
Người kháng cáo: nguyên đơn ông Phạm Quốc Đ
Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện của nguyên đơn Phạm Quốc Đ, thì vụ án có nội dung như sau:
Năm 2019, ông Phạm Quốc Đ có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn T1 phần đất có diện tích 569m², thuộc một phần của thửa đất số 95 (nay là thửa số 98), tờ bản đồ số 62, đất toạ lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, với giá chuyển nhượng là 280.000.000đ, nhưng chưa làm thủ tục sang tên cho ông Đ.
Vào thời điểm đó, bác của ông Đ là ông Phạm Khoa N, quốc tịch Úc có nhờ ông Đ để lại cho con ông Đ là chị Đặng Phạm Tuyết T mượn đứng tên quyền sử dụng đất, để hợp thức hóa hồ sơ đi du lịch, xong việc sẽ sang tên trả lại cho ông Đ và ông Đ đồng ý. Theo yêu cầu của ông Đ, thì ông T1 đã làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất trên cho bà T đứng tên trên hợp đồng chuyển nhượng và đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà T đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 751699 ngày 08/5/2019.
Từ ngày chuyển nhượng đất đến khi bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Đ là người giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quản lý, sử dụng đất cho đến nay.
Sau khi bà T được đứng tên sử dụng đất, ông Đ không rõ lý do vì sao mà bà T lại không đi du lịch được. Nay ông Đ có nhu cầu sử dụng phần đất trên, nên ông Đ đã yêu cầu bà T làm thủ tục chuyển tên trên giấy chứng nhận đối với phần đất nêu trên cho ông Đ, nhưng bà T không đồng ý.
Bà T đã trình báo mất giấy chứng nhận QSDĐ thửa đất nêu trên vào ngày 27/7/2023. Vào ngày 31/7/2023, ông Đ có đến UBND xã A thì được biết bà T đang làm thủ xin cấp lại giấy chứng nhận QSDĐ mới. Việc này cho thấy bà T đã cố tình chiếm đoạt của ông Đ đối với diện tích đất nêu trên, hành vi của bà T là trái đạo đức xã hội và hoàn toàn không đúng pháp luật.
Vì vậy, nguyên đơn Phạm Quốc Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy giấy chứng nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 751699 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho bà Đặng Phạm Tuyết T vào ngày 08/5/2019 (do việc bà T đứng tên trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn T1 và đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 751699 ngày 08/5/2019 đều là giả tạo).
- Công nhận phần đất có diện tích là 569m², thửa đất số 95 (nay là thửa số 98), tờ bản đồ số 62, đất toạ lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Phạm Quốc Đ, vì ông Đ mới chính là người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T1.
* Bị đơn Đặng Phạm Tuyết T trình bày tại văn bản ngày 24/11/2023 và tại phiên tòa, có nội dung như sau:
Ông Phạm Khoa N hiện nay ở Úc và mẹ bà T không phải là quan hệ hôn nhân chính thức, khi mẹ bà T mang thai bà T thì cũng là thời điểm ông N về Úc rời bỏ mẹ con bà T từ năm 1993. Sau đó, ông N có vợ khác và có con nên mối quan hệ giữa cha, con (bà T) tình cảm giữa mẹ bà T với ông N ngày một phai nhạt, mâu thuẫn.
Bà T lớn lên hoàn cảnh gia đình như thế, mẹ bà T là người mẹ đơn thân nuôi bà T khôn lớn, bà T trả hiếu lại mẹ nên rời bỏ gia đình lên thành phố Hồ Chí Minh làm thuê kiếm sống, để phụ giúp chi phí gia đình từ năm 2015 cho đến nay. Quá trình lao động cực nhọc, cật lực của bản thân, bà T đã tích lũy dần đến tháng 01 năm 2018, bà T có số tiền tiết kiệm tài khoản Ngân hàng là: 175.000.000đ (một trăm bảy mươi lăm triệu đồng). Đây cũng là số tiền để chứng minh làm hồ sơ phỏng vấn nộp cho Đại sứ Q1 tại Việt Nam. Nếu phỏng vấn đạt kết quả thì ông Phạm Khoa N sẽ bảo lãnh cho bà T sang nước Úc du lịch. Nhưng trong năm 2018, bà T được phỏng vấn 02 lần đều bị rớt nên bà T đã bỏ cuộc.
Khoảng đầu năm 2019, ông Phạm Quốc Đ là người ở thị trấn Đ, huyện L là cháu ruột của ông Phạm Khoa N (cha bà T) xuống nhà bà T ở L chơi, ông Đ ngỏ ý giới thiệu với mẹ bà T là có người muốn bán miếng đất cặp Đường N ở xã A, huyện K, kêu mẹ bà T mua, nên mẹ bà T gọi điện thoại báo cho bà T về để đi xem đất mua cho bà T, để khi có gia đình về đây sinh sống.
Qua việc bàn bạc giữa mẹ con thống nhất quyết định mua miếng đất này, nên bà T với mẹ bà T, người môi giới (ông Đ) đi xem đất của ông Nguyễn Văn T1. Qua thỏa thuận giá chuyển nhượng nền đất có diện tích 569m² của ông T1 với giá bán là: 280.000.000đ (hai trăm tám mươi triệu đồng). Nhưng vì số tiền trong tài khoản Ngân hàng và tiền mặt của bà T chỉ có hơn 200.000.000đ nên không đủ tiền sang nhượng miếng đất của ông Nguyễn Văn T1. Tại thời điểm này, bà T có gọi cho ông Phạm Khoa N (cha bà T) để ông N hỗ trợ cho bà T số tiền để mua đất, ông N thống nhất gởi tiền về giúp bà T khoảng trên dưới 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng) nên bà T quyết định nhận chuyển nhượng diện tích đất của ông T1 có diện tích 569m² tại thửa đất số 95, tờ bản đồ số 62 (sau khi sang tên qua bà T là thửa 98) tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K với số tiền là: 280.000.000đ (hai trăm tám mươi triệu).
Ngày hai bên ký hợp đồng chính thức tại UBND xã A cũng là ngày bà T đưa tiền cho ông T1 và bà T nhận đất.
Tại thời điểm nhận chuyển nhượng đất của ông Nguyễn Văn T1, bà T đang sống làm thuê tại S, ở nhà trọ, ít được về quê nên về giấy tờ bà T giao cho ông Phạm Quốc Đ ở quê đi làm cho bà T. Khi bà T được Nhà Nước cấp giấy chứng nhận QSDĐ, ông Đ lấy về và bà T nhờ ông Phạm Quốc Đ giữ giấy giùm bà T (vì bà T với Đ là bà con chú bác ruột).
Đến năm 2022, 2023, ông Đ báo gì cho cha bà T không biết, ông N đã gọi về cho bà T hoài, bảo bà T bán lại miếng đất trên để chia cho ông, bà T không thống nhất mà để lại khi bà T có chồng cất nhà ở. Lúc này, tình cha con mất đoàn kết nên ông Phạm Khoa N cấu kết với cháu ông là Phạm Quốc Đ vu khống bà T cố tình chiếm đoạt tài sản của ông Đ là hoàn toàn không có căn cứ và đây ông Đ mới là hành vi trái đạo đức xã hội. Bởi lẽ, hồ sơ bà T đăng ký phỏng vấn đi du lịch Úc là từ năm 2018, bà T bị rớt mới không đi (có hồ sơ kèm theo) chứ không phải như ông N và ông Đ cấu kết nhau như phần trên bà T đã đề cập.
Nay, bà T đề nghị Tòa án tuyên bác toàn bộ nội dung đơn khởi kiện của ông Phạm Quốc Đ.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024 của
Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, quyết định:
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Quốc Đ, về việc:
- - Hủy giấy chứng nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 751699 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho bà Đặng Phạm Tuyết T vào ngày 08/5/2019.
- - Công nhận phần đất có diện tích là 569m², thuộc thửa đất số 98, tờ bản đồ số 62, đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Phạm Quốc Đ.
- Ghi nhận sự tự nguyện và buộc bị đơn Đặng Phạm Tuyết T phải trả chi phí san lấp mặt bằng và giá trị cây trồng trên đất tranh chấp cho nguyên đơn Phạm Quốc Đ với số tiền tổng cộng là: 128.728.000đ (một trăm hai mươi tám triệu, bảy trăm hai mươi tám nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí sơ thẩm, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, quyền kháng cáo và thi hành vụ án theo luật định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 24 tháng 6 năm 2024, nguyên đơn ông Phạm Quốc Đ làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
- Ngày 26 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng kháng nghị theo hướng đề nghị chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Đề nghị Tòa phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của mình. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Chấp nhận kháng cáo và Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của ông Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt đều đã được tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần; Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử theo quy định.
[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Quốc Đ và Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, thấy rằng:
[2.1]. Phía nguyên đơn cho rằng việc bị đơn bà Đặng Phạm Tuyết T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 751699 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 08/5/2019 là do ông Phạm Khoa N (cha bị đơn, bác ruột nguyên đơn) có nhờ mượn đứng tên quyền sử dụng đất (đang tranh chấp) để hợp thức hóa hồ sơ, thủ tục đi du lịch Úc, sau khi xong sẽ sang tên trả lại cho Đ. Tuy nhiên, sau khi bị đơn được cấp giấy lại không đi du lịch được và cũng không sang tên lại cho ông.
Còn phía bị đơn cho rằng phần đất diện tích 569m² đang tranh chấp là do bị đơn mua của ông Nguyễn Văn T1, giá chuyển nhượng là 280.000.000đồng, ông Đ chỉ là người môi giới đi xem đất. Do đó, không có việc mượn đứng tên dùm như nguyên đơn trình bày.
[2.2]. Hồ sơ thể hiện:
- Ông Phạm Khoa N (bác nguyên đơn, cha bị đơn) trình bày tại “Tờ tường tình” tháng 8 năm 2023, ngày 10/7/2024 thể hiện: “Vào tháng 02 năm 2019. Tôi có nhờ cháu tôi là: Phạm Quốc Đ, sinh ngày: 10/08/1988. Cư ngụ: ấp N, T2, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Để cho tôi mượn thửa đất số: 95 nay là thửa đất số: 98 tờ bản đồ số: 62 với diện tích 569m vuông (năm trăm sáu mươi chín mét vuông), tọa lạc tại: ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Để cho con tôi là: Đặng Phạm Tuyết T, sinh năm: 1994. Số CMND: [...], cư ngụ: ấp D, TT- L, tỉnh Sóc Trăng mượn. Đứng tên quyền sử dụng đất. Do cháu tôi là: Phạm Quốc Đmua của ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1950. CCCD số: 0940500000056. Cư ngụ: ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Với mục đích là để con tôi: Đặng Phạm Tuyết T. Hợp thức hồ sơ, đủ điều kiện xin VISA du lịch UC xong sẽ trả lại cho cháu tôi nhưng đến nay tôi có nhận được trình bày của Đ là cháu tôi nói vào ngày 27/07/2023 Trinh con tôi có đến UBND xã An Lạc Tây báo mất giấy quyền sử dụng đất điều đó là sai sự thật vì giữa giao ước của tôi là Phạm Khoa N với Đ cháu tôi khi nào có quyền sử dụng đất là để cháu tôi giữ đến khi nào xong việc thì T con tôi sẽ kí trả lại quyền sử dụng đất cho Đ cháu tôi mà không có bất cứ điều kiện gì và tôi cũng đã có trao đổi với con tôi để kí trả lại quyền sử dụng đất cho Đ cháu tôi toàn quyền sử dụng nhưng Trinh con tôi không đồng ý. Nên tôi làm đơn này gửi đến: UBND xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Và các cơ quan có thẩm quyền xác minh và đồng thời động viên con tôi là: Đặng Phạm Tuyết T. Phải có trách nhiệm ký trả lại quyền sử dụng đất cho cháu tôi: Phạm Quốc Đ (không có bất cứ điều kiện gì)”.
- Người chuyển nhượng đất ông Nguyễn Văn T1 trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 03/5/2024 và tại phiên tòa phúc thẩm xác nhận: “Năm 2019 cháu Đ có liên với tôi để mua phần đất của tôi có mặt tiền giáp Lộ Nam Sông Hậu là 08m, chiều dài hơn 70m một chút với giá là 280.000.000 đồng, tôi nhận đủ tiền trực tiếp từ Đ. Khi làm thủ tục sang tên giấy tờ đất, tôi có nghe Đ nói để cho cô Đặng Phạm Tuyết T là chị em bà con với Đ đứng tên giấy tờ dùm vì lý do gì thì tôi không rõ và từ trước đến nay tôi cũng không biết mặt cô T. Sau khi mua đất của tôi thì Đ có mướn xe cuốc đến cuốc nền và đổ cát cao bằng mặt lộ nhựa vì trước đây là đất vườn thấp hơn lộ nhựa cả 01m, sau khi san lấp mặt bằng thì tôi thấy Đ trồng D1 và cho người ở xóm là Bùi Văn Ú ở giáp ranh đất trồng cây đu đủ để hai trái. Tôi chưa từng thấy cô T sử dụng trên phần đất đang tranh chấp”.
- Tất cả mọi thủ tục, hồ sơ chuyển nhượng QSD đất đều do nguyên đơn trực tiếp làm; Giấy chứng nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 751699 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 08/5/2019, hiện nay cũng do nguyên đơn cất giữ.
- Thực tế phần đất đang chấp nguyên đơn trực tiếp sử dụng từ khi chuyển nhượng đến nay, đã đầu tư san lấp mặt bằng, trồng cây trên đất theo định giá số tiền 128.728.000đồng, được bị đơn thừa nhận và đồng ý hoàn trả lại do nguyên đơn.
[2.3]. Từ những phân tích và chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định: Phần đất diện tích 569m², thuộc thửa đất số 98, tờ bản đồ số 62, đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Phạm Quốc Đ; phía bị đơn chỉ là người nhờ đứng tên để làm thủ tục xuất cảnh sang Úc.
[3]. Án sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo, cũng như kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng. Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm.
[3]. Về chi phí tố tụng và án phí: Do sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên được tính lại như sau:
[3.1]. Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, tổng cộng là: 25.990.000 đồng. Bị đơn bà T phải chịu toàn bộ theo quy định tại Điều 157 và Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Phía nguyên đơn ông Đ không phải chịu. Phía ông Đ đã nộp xong, phía bị đơn có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Đ số tiền trên.
[3.2]. Về án phí dân sự sơ, phúc thẩm:
- Án phí sơ thẩm: Bị đơn Đặng Phạm Tuyết T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng); Nguyên đơn Phạm Quốc Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; số tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012110, ngày 09/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng, được nhận lại.
- Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông Đ không phải chịu, ông Đ được hoàn lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo B lại thu tiền tạm ứng án phí số 0002951 ngày 27/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Quốc Đ và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Quốc Đ. Công nhận phần đất có diện tích là 569m², thuộc thửa đất số 98, tờ bản đồ số 62, đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Phạm Quốc Đ, vị trí tứ cận như sau:
- - H giáp thửa đất số 97 có các số đo 2,85m + 5,15m.
- - Hướng Tây Nam giáp kinh thủy lợi (đã lấp) có các số đo 2,16m + 5,84m.
- - Hướng Đông Nam giáp thửa đất số 90 có các số đo 4,89m + 66,56m.
- - Hướng Tây Bắc giáp thửa đất số 97 có các số đo 4,90m + 66,55m.
(Kèm theo sơ đồ bản vẽ Sơ đồ hiện trạng đất ngày 31/01/2024)
- Ông Phạm Quốc Đ có quyền liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền về đất đai tỉnh Sóc Trăng để đăng ký thủ tục cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
- Về chi phí tố tụng và án phí:
- Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, tổng cộng là: Bà Đặng Phạm Tuyết T phải chịu 25.990.000 đồng. Phía ông Đ đã nộp xong, bà T có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Đ số tiền 25.990.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ, phúc thẩm:
- Án phí sơ thẩm: Bị đơn Đặng Phạm Tuyết T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng); Nguyên đơn Phạm Quốc Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; số tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012110, ngày 09/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng, được nhận lại.
- Án phí phúc thẩm: ông Đ không phải chịu, ông Đ được hoàn lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo B lại thu tiền tạm ứng án phí số 0002951 ngày 27/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Các thẩm phán |
Thẩm phán – Chủ tọa |
|
|
Chung Văn Kết |
Bản án số 935/2024/DS-PT ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 935/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 11/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
