Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 935/2024/HS-PT

Ngày: 26-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Khoa
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Công
Bà Trần Thị Hoà Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tú Anh, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng, Kiểm sát viên.

Từ ngày 19/9 đến ngày 26/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 980/2023/TLPT-HS ngày 23/11/2023, đối với các bị cáo Vũ Minh H và Nguyễn Hồng H1, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 224/2023/HS-ST ngày 16/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 848/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 8 năm 2024

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Vũ Minh H, sinh ngày 08/12/1953 tại tỉnh Hà Nam; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nguyên Quyền Giám đốc Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương Chi nhánh Thành phố H; Nơi cư trú: Căn hộ A, Chung cư T (địa chỉ: A P, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh); Trình độ học vấn: 10/10; Tiền án, tiền sự: Không; Là Đảng viên Đ6, bị đình chỉ sinh hoạt đảng từ ngày 16/06/2008; Con ông Vũ Văn Đ và bà Trịnh Thị M; Bị cáo có vợ và 04 con (lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1993); Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có đơn xin xét xử văng mặt).

    Người bào chữa cho bị cáo Vũ Minh H: Ông Lê Trung P, là Luật sư của Công ty L6, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

  2. Họ và tên: Nguyễn Hồng H1, sinh ngày 19/05/1974 tại tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nguyên Phó Trưởng phòng tín dụng Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương Chi nhánh Thành phố H; Nơi cư trú: 7 đường N, Tổ I, Khóm F, Phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; Trình độ học vấn: 12/12; Tiền án, tiền sự: Không; Là Đảng viên Đ6, bị đình chỉ sinh hoạt đảng từ ngày 16/06/2008; Con ông Nguyễn H2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C (đã chết); Bị cáo có vợ và 01 con sinh năm 2010; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

    Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hồng H1: Ông Vy Trọng T, là Luật sư của Công ty L7, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

- Nguyên đơn dân sự: Ngân hàng H15; Địa chỉ: N Hoàng Đạo T, T, quận C, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoài T1 - Trưởng Phòng tín dụng ngân hàng H15, chi nhánh Thành phố H (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Huỳnh Minh G; Địa chỉ: Tổ C ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Ông Trần Văn V; Địa chỉ: 4 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  3. Ông Biện Văn H3; Địa chỉ: Số A đường G, Tổ B, ấp R, Xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (đã chết). Đại diện theo pháp luật: Ông Biện Ngọc H4 (vắng mặt).
  4. Ông Lê Văn M1; Địa chỉ: Số A đường G, Tổ A, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  5. Ông Phạm Văn R; Địa chỉ: Số B đường G, Tổ A, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  6. Ông Nguyễn Văn K; Địa chỉ: Số A đường số G, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  7. Ông Nguyễn Văn Ú; Địa chỉ: Số nhà A Đường G, ấp G, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  8. Ông Lý Văn À; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  9. Ông Nguyễn Văn X; Địa chỉ: B ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  10. Ông Phan Văn B; Địa chỉ: 2 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  11. Ông Lê Văn C1; Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  12. Ông Lương Văn H5; Địa chỉ: Số D N, Tổ D, ấp S, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  13. Bà Nguyễn Thị N; Địa chỉ: Xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  14. Ông Lê Văn T2 ; Địa chỉ:6 Tổ A Khu phố A, Thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  15. Ông Nguyễn Tấn N1; Địa chỉ: E Ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  16. Bà Trần Thị T3; Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  17. Ông Nguyễn Văn T4; Địa chỉ: Tổ 1, Ấp D, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  18. Trần Thị C2; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (đã chết). Đại diện theo pháp luật: bà Trần Thị P1 (vắng mặt).
  19. Bà Đoàn Thị Á; Địa chỉ: C V, Ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (đã chết). Đại diện theo pháp luật: bà Nguễn Thị H6 (vắng mặt).
  20. Ông Đỗ Văn L; Địa chỉ: Tổ C ấp P, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  21. Bà Nguyễn Thị S; Địa chỉ: A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  22. Ông Bùi Văn K1; Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  23. Ông Trần Văn N2; Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  24. Ông Nguyễn Văn S1; Địa chỉ: C Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  25. Bà Nguyễn Thị Á1; Địa chỉ: A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  26. Bà Nguyễn Thị T5; Địa chỉ: 7 Ấp D, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  27. Bà Lại Thị G1; Địa chỉ: 6 Ấp D, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh (đã chết). Đại diện theo pháp luật: Ông Lại Thanh M2 (vắng mặt).
  28. Bà Cao Thị C3; Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  29. Ông Cao Văn Cu L1; Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  30. Bà Lâm Thị N3; Địa chỉ: Số D đường N, Tổ B, ấp C, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  31. Bà Đặng Thị Thu T6; Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  32. Ông Nguyễn Văn Đ1; Địa chỉ: 1 Ấp E, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  33. Ông Nguyễn Tấn T7; Địa chỉ: C Ấp C, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  34. Bà Lê Thị N4; Địa chỉ: Tổ H, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  35. Bà Nguyễn Thị Đ2; Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  36. Ông Trần X1; Địa chỉ: Số nhà B đường A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt). Đại diện theo ủy quyền: bà Trần Thị Ngọc D (vắng mặt).
  37. Ông Nguyễn Văn H7; Địa chỉ: Tổ D ấp P, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (văng mặt)
  38. Bà Nguyễn Thị D1; Địa chỉ: A Ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  39. Bà Đinh Kim A; Địa chỉ: B Tổ E Ấp G, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  40. Bà Trần Thị T8; Địa chỉ: Số B đường N, Tổ A, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  41. Bà Phạm Thị R1; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  42. Ông Trần Văn Ắ; Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  43. Bà Nguyễn Thị H8; Địa chỉ: Ấp X, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  44. Bà Đỗ Thị D2; Địa chỉ: 1 Võ Thị B1, Tổ I, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  45. Ông Phạm Văn P2; Địa chỉ: Số B đường S, ấp S, Xã T, Huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  46. Bà Lê Thị T9; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  47. Ông Phạm Văn M3; Địa chỉ: 7 đường T, Tổ G, ấp G, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  48. Bà Huỳnh Thị Thu T10; Địa chỉ: A đường G, Tổ D, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  49. Ông Dương Văn R2; Địa chỉ: 1 Ấp E, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  50. Ông Châu Văn Q; Địa chỉ: 9 P, Tổ G, C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  51. Bà Trần Thị P1; Địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  52. Bà Nguyễn Thị T11; Địa chỉ: 1 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  53. Ông Nguyễn Văn T12; Địa chỉ: 1 Ấp C, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  54. Bà Võ Thị Đ3; Địa chỉ: Tổ A, Đường A, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  55. Ông Nguyễn Văn Đ4; Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  56. Ông Đỗ Văn C4; Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  57. Ông Quách Phụng H9; Địa chỉ: F N, Tổ 1, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  58. Bà Trần Thị Ơ; Địa chỉ: 1 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  59. Bà Đoàn Thị L2; Địa chỉ: B ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  60. Bà Lê Thị B2; Địa chỉ: 1 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh (đã chết). Đại diện theo pháp luật: bà Lê Thị V1 (vắng mặt).
  61. Bà Phùng Thị X2; Địa chỉ: 2 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  62. Ông Đoàn Văn T13; Địa chỉ: 1 Ấp C, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  63. Bà Phạm Thị T14; Địa chỉ: A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  64. Bà Nguyễn Thị M4; Địa chỉ: 2 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  65. Ông Nguyễn Thành N5; Địa chỉ: H Khu phố A, Thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  66. Bà Trần Thị N6; Địa chỉ: 1 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  67. Ông Huỳnh Văn T15; Địa chỉ: 7 Ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  68. Ông Lê Văn T16; Địa chỉ: 4 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  69. Ông Lê Văn C5; Địa chỉ: 4 ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  70. Ông Nguyễn Văn S2; Địa chỉ: 5 ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  71. Ông Nguyễn Văn A2; Địa chỉ: B ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  72. Ông Đặng Văn C6; Địa chỉ: 7 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  73. Bà Lê Thị T17; Địa chỉ: 1 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  74. Ông Nguyễn Văn K2; Địa chỉ: 1 N, Tổ F, ấp B, xã A, huyện C (vắng mặt).
  75. Ông Lê Văn N7; Địa chỉ: A, Tổ A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  76. Ông Lê Văn Q1; Địa chỉ: B, ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thành C7 (vắng mặt).
  77. Ông Trương Văn S3; Địa chỉ: 4 L, Khu phố D, Thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  78. Bà Trần Thị N8; Địa chỉ: 3 ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  79. Ông Ngô Văn T18; Địa chỉ: Tổ H ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  80. Bà Huỳnh Thị Thúy O; Địa chỉ: D Tổ D, ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  81. Ông Thái Thanh L3; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  82. Ông Nguyễn Văn C8; Địa chỉ: 1 Ấp F, xã X, huyện H, Thành phố C (vắng mặt). Đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị N9 (có mà Thành phố Hồ Chí Minh (đã chết).
  83. Bà Đỗ Thị T19; Địa chỉ: 2 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  84. Ông Tô Thành L4; địa chỉ: 4 N, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  85. Ông Nguyễn Bảo H10; địa chỉ: 3 Đ, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (văng mặt).
  86. Bà Trần Ngọc Đ5; địa chỉ: ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
  87. Bà Nguyễn Thị Cẩm H11; địa chỉ: Số B ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  88. Ông Nguyễn Văn Ả. Địa chỉ: G P, phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Quang C9, Tiêu Thị A1 nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Toà án cấp phúc thẩm không triệu tập tham dự phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung án được tóm tắt như sau:

Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương (Quỹ tín dụng Trung ương) được thành lập theo Giấy phép hoạt động số 001/NH-GP ngày 20/7/1995 của Ngân hàng H15, vốn điều lệ: 200 tỷ đồng; được cấp giấy phép hoạt động trong các lĩnh vực: Huy động vốn, cho vay và các nghiệp vụ kinh doanh khác. Ngày 04/6/2013, Quỹ tín dụng Trung ương chuyển đổi thành Ngân hàng H15 theo Giấy phép thành lập và hoạt động Ngân hàng Hợp tác xã số 166/GP-NHNN của Ngân hàng H15.

- Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H, có trụ sở tại số B T, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị trực thuộc Quỹ tín dụng Trung ương, được thành lập theo Quyết định số 268/QĐ-QTDTW ngày 26/6/1997 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Quỹ tín dụng Trung ương; là đơn vị hạch toán kế toán phụ thuộc, có con dấu và có cán bộ kế toán riêng; có chức năng: Đại diện theo ủy quyền của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương tại các tỉnh, thành phố để kinh doanh tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng...; có nhiệm vụ: Nhận tiền gửi của các Quỹ tín dụng thành viên; Huy động vốn của các cá nhân, tổ chức trên địa bàn; Cho vay thành viên là các Quỹ tín dụng nhân dân; cho vay doanh nghiệp ngoài thành viên, các cá nhân và thực hiện một số dịch vụ ngân hàng khi được Tổng Giám đốc cho phép; Kiểm tra vốn cho vay đảm bảo thu hồi được nợ gốc và lãi theo chế độ quy định. Ngày 04/6/2013, Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H đổi tên thành Ngân hàng H15 Chi nhánh Thành phố H. Từ ngày 01/3/2003 đến ngày 07/4/2005, Vũ Minh H là Quyền Giám đốc Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H. Từ ngày 19/4/2022 đến nay, ông Lương Xuân V2 là Giám đốc, đại diện theo pháp luật của Ngân hàng H15 Chi nhánh Thành phố H.

Trong thời gian từ năm 2003 đến năm 2004, Vũ Minh H, Quyền Giám đốc Q Chi nhánh Thành phố H và các đồng phạm đã cùng nhau thực hiện hành vi vi phạm quy định về cho vay, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, cụ thể như sau:

Năm 2000, ông Mai Hữu N10 thế chấp 19.585m² đất tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh để thế chấp bảo lãnh cho công ty P3 (Công ty I) vay 3,5 tỷ đồng tại Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H. Ngày 02/7/2001, Công ty I đã trả hết khoản nợ 3,5 tỷ đồng và tất toán hợp đồng, nhưng ông Mai Hữu N10 (đã xuất cảnh đi Mỹ) không đến nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do Công ty I còn các khoản nợ khác quá hạn tại Quỹ tín dụng, nên Công ty I đề nghị Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H bán phát mãi lô đất của ông Mai Hữu N10 để trả nợ (Công ty I khẳng định đã mua lô đất Mai Hữu N10, nhưng không có tài liệu chứng minh). Tuy không đủ điều kiện phát mãi lô đất của ông Mai Hữu N10, nhưng Quỹ tín dụng vẫn làm thủ tục phát mãi lô đất này 02 lần để thu hồi nợ: Lần 1: Bán cho bà Nguyễn Thị Thu G2, bà G2 đã đặt cọc 900 triệu đồng nhưng không làm được thủ tục chuyển nhượng nên bà Nguyễn Thị Thu G2 yêu cầu trả lại tiền đặt cọc. Lần 2: Bán cho Công ty P3 (Công ty S4), thanh toán bằng hình thức: Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H cho Công ty S4 vay 2,6 tỷ đồng, thế chấp bằng chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Mai Hữu N10 và một số tài sản khác; số tiền 2,6 tỷ đồng này được chuyển thanh toán các khoản nợ của Công ty I. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng lô đất vẫn không thực hiện được do không đủ điều kiện phát mãi. Để xử lý khoản tiền đặt cọc của bà Nguyễn Thị Thu G2 và khoản nợ của Công ty S4, Vũ Minh H, Quyền Giám đốc Q Chi nhánh Thành phố H tiếp tục thông bảo chủ trương bán phát mãi lô đất của ông Mai Hữu N10.

Đầu năm 2003, Trần Anh T20, Giám đốc Công ty TNHH D3 biết Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H đang cần bán phát mãi lô đất 19.585m² đứng tên ông Mai Hữu N10, nên T20 đã đến gặp Vũ Minh H, Quyền Giám đốc để xin mua lô đất của ông Mai Hữu N10. Trần Anh T20 cam kết tự làm thủ tục sang tên, chấp nhận trả các khoản nợ liên quan đến bà Nguyễn Thị Thu G2 và Công ty S4, với điều kiện Quỹ tín dụng cho T20 được vay tiền trên hồ sơ vay vốn của các hộ dân do T20 giới thiệu và được Vũ Minh H đồng ý. Sau đó, Vũ Minh H thông báo với Phòng Tín dụng gồm Nguyễn Quang C9, Trưởng phòng; Nguyễn Hồng H1, Phó Trưởng phòng về chủ trương: Tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ dân do Trần Anh T20 giới thiệu đến vay tiền tại Quỹ tín dụng, nhằm mục đích bán phát mãi lô đất của Mai Hữu N10, xử lý khoản tiền đặt cọc của bà Nguyễn Thị Thu G2 và khoản nợ của Công ty S4.

Sau khi được Vũ Minh H đồng ý tạo điều kiện vay tiền trên hồ sơ tín dụng của các hộ dân, Trần Anh T20 bàn bạc với Tiêu Thị A1 (làm nghề môi giới dịch vụ vay vốn, mua bán nhà đất) và thống nhất sẽ tìm các hộ dân có nhu cầu vay vốn ngân hàng để nhận làm giúp hồ sơ vay vốn; T20 và Anh sẽ giúp các hộ dân làm thủ tục vay tiền tại Quỹ tín dụng để nhận tiền dịch vụ và vay thêm tiền trên hồ sơ vay vốn và tài sản thế chấp của các hộ dân, số tiền vay được sẽ sử dụng: Mua lô đất của ông Mai Hữu N10, dùng làm vốn kinh doanh và sử dụng cá nhân. Sau đó, do Trần Anh T20 không nộp tiền mua lô đất của ông Mai Hữu N10, nên Bùi Quang C10 đưa Tiêu Thị A1 đến gặp Vũ Minh H và thống nhất tạo điêu kiện cho Tiêu Thị A1 vay tiền trên hồ sơ vay vốn của các hộ dân để Tiêu Thị A1 mua lô đất của ông Mai Hữu N10. Phương thức, thủ đoạn của Trần Anh T20 và Tiêu Thị A1 như sau: Nhận hồ sơ ban đầu của người dân (Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...), rồi chuyển cho Bùi Quang C10, cán bộ tín dụng để lập hồ sơ vay vốn (Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản, Phương án kinh doanh, Phương án trả nợ...), sau đó chuyển lại cho các hộ dân ký. Khi đến UBND xã để xác nhận Hợp đồng thế chấp tài sản thì không ghi số tiền vay hoặc ghi số tiền vay đúng với nhu cầu vay vốn của các hộ dân, sau khi UBND xác nhận thì sửa chữa hoặc tự ghi số tiền vay cao hơn so với số tiền người dân nhờ vay, hoặc đề nghị các hộ dân nâng số tiền vay cao hơn số tiền họ muốn vay. Để các hộ dân tin tưởng, Trần Anh T20 và Tiêu Thị A1 cam kết sẽ trả nợ gốc, lãi đúng hạn, ký giấy thỏa thuận, giấy cam kết hoặc hợp đồng góp vốn với người dân.

Từ năm 2003 đến tháng 10/2004, thực hiện theo chỉ đạo của Vũ Minh H, Quyền Giám đốc, nên Nguyễn Quang C9, Nguyễn Hồng H1, Bùi Quang C10 đã lập và duyệt hồ sơ cho vay trái quy định (không thẩm định thông tin khách hàng; không phân tích tính khả thi, hiệu quả của phương án vay vốn, khả năng trả nợ của khách hàng; không thẩm định tài sản thế chấp theo theo đúng quy trình; không kiểm tra theo dõi việc sử dụng vốn vay), tạo điều kiện để Trần Anh T20, Tiêu Thị A1 vay thêm tiền trên hồ sơ vay vốn của 83 hộ dân, với tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ dân. Tổng cộng, thông qua 83 hồ sơ vay vốn, Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H đã cho vay tổng số tiền 39,690 tỷ đồng, trong đó 83 hộ dân thực nhận 11,335 tỷ đồng, Trần Anh T20 và Tiêu Thị A1 nhận 28,355 tỷ đồng (Trần Anh T20 nhận 13,810 tỷ đồng; Tiêu Thị A1 nhận 14,545 tỷ đồng). Đến hạn trả nợ, Trần Anh T20, Tiêu Thị A1 không trả nợ gốc và lãi cho Quỹ tín dụng.

Đến tháng 12/2004, Đoàn K tiến hành kiểm tra tại Chi nhánh Thành phố H, kết luận: Phần lớn các khoản vay tại các địa bàn H, C khách hàng vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích... một số doanh nghiệp và cá nhân đã sử dụng vốn Quỹ tín dụng thông qua việc nhờ các hộ dân đứng ra vay vốn... Đoàn kiểm tra kiến nghị: Bổ sung tài sản đảm bảo đối với khoản vốn các doanh nghiệp và cá nhân đã sử dụng của Quỹ tín dụng thông qua các khoản vay của hộ nông dân. Vì vậy, Vũ Minh H đã yêu cầu Trần Anh T20, Tiêu Thị A1 và những người liên quan (Nguyễn Bảo H10, Trần Ngọc Đ5) ký nhận nợ với Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H các khoản đã vay trái quy định, cụ thể: Ngày 01/12/2004, Trần Anh T20 ký Bản cam kết: Nhận trả nợ số tiền 12,92 tỷ đồng trong 42 Hợp đồng tín dụng của các hộ dân; ngày 24/3/2005, Tiêu Thị A1 ký Bản nhận nợ: Nhận trả nợ số tiền 8.895 tỷ đồng trong 27 Hợp đồng tín dụng của các hộ dân, ngày 01/12/2004, Nguyễn Hoàng B3 ký Bản cam kết: Nhận trả nợ số tiền 2.325 tỷ đồng trong 08 Hợp đồng tín dụng của các hộ dân; ngày 21/12/2004, Trần Ngọc Đ5 ký nhận nợ số tiền 03 tỷ đồng trong 08 Hợp đồng tín dụng của các hộ dân. Tại các Bản cam kết, B4 nhận nợ đều có chữ ký xác nhận của Vũ Minh H, Quyền Giám đốc Q Chi nhánh Thành phố H.

Ngay sau đó Trần Anh T20 đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã truy nã bị can nhưng đến nay chưa bắt được; Tiêu Thị A1 sau khi nhận 14,545 tỷ đồng, đã chuyển cho Trần Ngọc Đ5 vay 03 tỷ đồng dưới hình thức góp vốn vào Công ty TNHH A2; chuyển cho Nguyễn Bảo H10, Giám đốc Công ty TNHH T21 vay 1,53 tỷ đồng, còn lại Tiêu Thị A1 sử dụng.

Đến thời điểm khởi tố vụ án, số tiền 28,355 tỷ đồng Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H cho Trần Anh T20, Tiêu Thị A1 vay trái quy định đã trả được 3,43 tỷ đồng, gây thiệt hại cho Quỹ tín dụng Trung ương số tiền chưa thu hồi được là 24,925 tỷ đồng.

Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 cuốn sổ tay cá nhân do Nguyễn Hồng H1 giao nộp, trong đó, Nguyễn Hồng H1 có ghi lại về chủ trương, chỉ đạo liên quan đến việc xử lý khoản đặt cọc của bà Nguyễn Thị Thu G2, khoản nợ của Công ty S4 và cho vay trái quy định, cụ thể như sau: Ngày 05/6/2003, Vũ Minh H và Nguyễn Quang C9 chỉ đạo tạo điều kiện cho T20 cùng hộ dân vay vốn để mua lại lô đất Mai Hữu N10, chỉ đạo Nguyễn Hồng H1 giải quyết cho 03 hộ dân vay 1,450 tỷ đồng để Trần Anh T20 sử dụng 850.000.000 đồng trả lại bà Nguyễn Thị Thu G2 đã đặt cọc mua lô đất Mai Hữu N10... Ngày 18/5/2004, Nguyễn Quang C9 phổ biến cho Nguyễn Hồng H1 và Bùi Quang C10 về chỉ đạo của Vũ Minh H có chủ trương để giải quyết nợ Công ty S4 đến hạn ngày 19/6/2004 là cho hộ dân vay, tuy nhiên hộ dân chỉ nhận 30% số tiền vay, còn lại nộp trả cho Công ty S4. Tiếp đó, ngày 31/5/2004 Vũ Minh H họp Phòng tín dụng tiếp tục chỉ đạo xử lý nợ liên quan đến nợ của Công ty S4 theo hình thức đảo nợ...

Kết quả giám định tư pháp:

Bản Kết luận giám định số 110/C21B ngày 28/01/2008 của Phân viện Khoa học kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc sửa chữa, tẩy xóa trên một số hồ sơ thể chấp, kết luận: Hợp đồng thế chấp tài sản số 136 ngày 24/03/2004 của hộ Phạm Văn P2 số tiền vay bị sửa chữa, tẩy xóa từ số “0” thành số “5” (số tiền vay ban đầu 600.000.000 đồng được sửa chữa lại thành 650.000.000 đồng); hợp đồng thế chấp tài sản số 201 ngày 19/4/2004 của hộ Nguyễn Văn L5, số “4” ở mục “số tiền vay 450.000.000đ” được điền thêm (số tiền vay ban đầu 50.000.000 đồng được điền thêm thành 450.000.000 đồng); hợp đồng thế chấp tài sản các hộ Trần Thị Ơ, Nguyễn Văn X, Lê Văn T16, Nguyễn Văn K2, Đặng Văn C6, Biện Văn H12 có dấu hiệu điền thêm tại vị trí hàng trăm triệu ở mục “số tiền vay”, “nợ gốc”, song chưa đủ cơ sở để khẳng định việc sửa chữa là chữ viết của ai.

Tại Kết luận giám định ngày 03/10/2019 của Ngân hàng H15 Chi nhánh Thành phố H đối với từng hồ sơ tín dụng, kết luận: Quá trình thực hiện cho vay theo 83 hồ sơ tín dụng đã vi phạm quy định tại Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, ban hành kèm theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Ngân hàng H15 cụ thể: Vi phạm về nguyên tắc vay vốn tại khoản 2 Điều 6; Vi phạm về điều kiện vay vốn tại khoản 3, khoản 4 Điều 7; Vi phạm về thẩm định cho vay tại khoản 2 Điều 15; Vi phạm về kiểm tra sử dụng vốn vay tại Điều 21; Vi phạm về lưu giữ hồ sơ tín dụng không đầy đủ tại khoản 1 Điều 14 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN.

Tại Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Ngân hàng H15 quy định:

  • Điều 6. Nguyên tắc vay vốn: Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo:...2. Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng...

  • Điều 7. Điều kiện vay vốn: Tổ chức tín dụng xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau:... 3. Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết; 4. Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật...

  • Điều 15. Thẩm định và quyết định cho vay:... 2. Tổ chức tín dụng xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống và khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng để quyết định cho vay...

  • Điều 21. Kiểm tra, giám sát vốn vay: Tổ chức tín dụng xây dựng quy trình và thực hiện kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng phù hợp với đặc điểm hoạt động của tổ chức tín dụng và tính chất của khoản vay, nhằm đảm bảo hiệu quả và khả năng thu hồi vốn vay.

Theo đó hành vi phạm tội của các bị can như sau:

Vũ Minh H, Quyền Giám đốc Q Chi nhánh Thành phố H: Xuất phát từ mục đích bán phát mãi lô đất của ông Mai Hữu N10 để có tiền để xử lý các khoản nợ quá hạn do các sai phạm trước đó (khoản tiền đặt cọc của bà Nguyễn Thị Thu G2 và khoản nợ của Công ty S4), Vũ Minh H đã đưa ra chủ trương và chỉ đạo Nguyễn Quang C9, Trưởng phòng, Nguyễn Hồng H1, Phó trưởng phòng tín dụng về nội dung: Tạo điều kiện cho Trần Anh T20 vay thêm tiền trên hồ sơ vay vốn của các hộ dân để Trần Anh T20 mua lô đất của ông Mai Hữu N10. Với vai trò là Quyền Giám đốc, Vũ Minh H đã trực tiếp ký duyệt 83 hồ sơ vay vốn của các hộ dân, trên các tài liệu như: Báo cáo thẩm định tài sản thế chấp, Biên bản định giá tài sản thế chấp, Tờ trình thẩm định, Giấy nhận nợ, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, Hợp đồng tín dụng; trong đó có 42 hồ sơ Vũ Minh H vừa ký với vai trò Quyền Giám đôc, vừa ký với vai trò là lãnh đạo Phòng Tín dụng. Thông qua 83 hồ sơ vay vốn, Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H đã cho vay tổng số tiền 39,69 tỷ đồng, trong đó 83 hộ dân thực nhận 11,335 tỷ đồng, Trần Anh T20 và Tiêu Thị A1 nhận 28,355 tỷ đồng. Đến thời điểm khởi tố vụ án, số tiền Trần Anh T20 và Tiêu Thị A1 vay trái quy định chưa thu hồi được là 24,925 tỷ đồng.

Nguyễn Quang C9, nguyên Trưởng Phòng tín dụng: Trong thời gian từ tháng 4/2003 đến tháng 10/2003, Nguyễn Quang C9 ký duyệt 16 hồ sơ vay vốn với vai trò Lãnh đạo Phòng tín dụng; sau khi bị kỷ luật cách chức Trưởng phòng vào tháng 10/2003, Nguyên Quang C11 tiếp tục ký kiểm soát 06 hồ sơ với vai trò là cán bộ tín dụng. Tổng cộng, Nguyễn Quang C9 đã ký duyệt 22 hồ sơ tín dụng của các hộ dân, tổng số tiền cho vay là 9,210 tỷ đồng, trong đó 22 hộ dân thực nhận 2,4 tỷ đồng, Trần Anh T20 và Tiêu Thị A1 nhận 6,810 tỷ đồng. Đền thời điểm khởi tố vụ án số tiền Trần Anh T20 và Tiêu Thị A1 vay trái quy định chưa thu hồi được là 5,960 tỷ đồng.

Nguyễn Hồng H1, nguyên Phó Trưởng phòng tín dụng: Từ tháng 6/2003 đến tháng 9/2003, Nguyễn Hồng H1 ký duyệt 04 hồ sơ với vai trò Lãnh đạo Phòng tín dụng; sau khi bị kỷ luật cách chức Phó Trưởng phòng vào tháng 9/2003, Nguyên Hồng H13 tiếp tục lập 06 hồ sơ cho vay với vai trò là cán bộ tín dụng. Tổng số tiền cho vay thông qua 10 hồ sơ tín dụng là 4,610 tỷ đồng, trong đó các hộ dân thực nhận 1,250 tỷ đồng, Trần Anh T20 và Tiêu Thị A1 nhận 3,360 tỷ đồng. Đến thời điểm khởi tố vụ án số tiền Trần Anh T20 và Tiêu Thị A1 vay trái quy định chưa thu hồi được là 3,360 tỷ đồng.

Bùi Quang C10, nguyên cán bộ tín dụng, ngày 01/8/2004 được bổ nhiệm làm Phó Trưởng phòng tín dụng, đến ngày 07/4/2005 bị kỷ luật cách chức. Trong thời gian từ tháng 4/2003 đến tháng 10/2004, Bùi Quang C10 trực tiếp lập 68 hồ sơ cho vay với vai trò cán bộ tín dụng; duyệt 09 hồ sơ với vai trò lãnh đạo Phòng tín dụng. Tổng số tiền cho vay là 36,580 tỷ đồng, trong đó các hộ dân thực nhận 10,375 tỷ đồng, Trần Anh T20 và Tiêu Thị A1 nhận 26,205 tỷ đồng. Đến thời điểm khởi tố vụ án số tiền Trần Anh T20 và Tiêu Thị A1 vay trái quy định chưa hoàn trả được cho Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H là 25,305 tỷ đồng.

Tiêu Thị A1 làm nghề môi giới các dịch vụ vay vốn, buôn bán bất động sản tại địa phương: Từ tháng 6/2003 đến tháng 10/2004, Tiêu Thị A1 và Trần Anh T20 đã câu kết với các cán bộ tại Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H để được tạo điều kiện vay tiền trái quy định trên hồ sơ vay vốn, tài sản thế chấp của 41 hộ dân. Tiêu Thị A1 đã trực tiếp hoặc thông qua người môi giới nhận hồ sơ vay vốn của 41 hộ dân, sau đó cùng với cán bộ tín dụng lập hồ sơ vay vốn (người dân chỉ phải ký vào hồ sơ và ra UBND xã xác nhận hiện trạng tài sản thế chấp). Để được vay thêm tiền trên tài sản thế chấp của các hộ dân, Tiêu Thị A1 đã lập hồ sơ tín dụng với số tiền vay cao hơn nhu cầu vay của các hộ dân và hứa hẹn sẽ thực hiện trả nợ dùng hạn. Khi Quỹ tín dụng thông báo đi nhận tiền, Tiêu Thị A1 đưa các hộ dẫn đên ký Giấy nhận nợ, Giấy lĩnh tiền mặt và nhận tiền. Sau khi nhận tiền, người dân lấy đúng số tiền mà họ nhờ vay (từ 80 triệu đến 250 triệu đồng), số tiền chênh lệch Tiêu Thị A1 nhận, sử dụng (từ 250 triệu đến 600 triệu đồng). Số tiền vay trái quy định 14,545 tỷ đồng, Tiêu Thị A1 chuyển cho Trần Ngọc Đ5 vay 03 tỷ đồng dưới hình thức góp vốn vào Công ty TNHH A2; chuyển cho Nguyễn Bảo H10, Giám đốc Công ty TNHH T21 vay 1,53 tỷ đồng; nộp vào Quỹ T Chi nhánh Thành phố H 3,033 tỷ đồng để mua lô đất của ông Mai Hữu N10 (Quỹ tín dụng dùng thanh toán khoản vay của Công ty S4); nộp trả khoản tiền đặt cọc 900 triệu đồng và tiền phạt cọc của bà Nguyễn Thị Thu G2; ngoài ra Tiêu Thị A1 khai chuyển cho Trần Anh T20 2,597 tỷ đồng nhưng không có tài liệu chứng minh; số tiền còn lại sử dụng cá nhân. Đến thời điểm khởi tố vụ án khoản tiền 14,545 tỷ đồng Tiêu Thị A1 vay trái quy định đã trả được 3,345 tỷ đồng, Quỹ tín dụng chưa thu hồi được 11,200 tỷ đồng.

Tiêu Thị A1 khai nhận: Đầu năm 2003, được Trần Anh T20 cho biết sẽ mua lô đất đứng tên ông Mai Hữu N10 do Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H phát mãi. T20 đã làm việc, trao đối với Vũ Minh H, Quyền Giám đốc, được H đồng ý sẽ tạo điều kiện cho T20 sử dụng một phần tiền vay của các hộ dân do T20 giới thiệu để mua lô đất của ông Mai Hữu N10. Sau đó, T20 trao đổi, bàn bạc với Tiêu Thị A1 đi tìm các hộ dân có nhu cầu vay vốn đưa T20 làm hồ sơ vay, qua đó sẽ có tiền mua lô đất của ông Mai Hữu N10, lấy vốn làm ăn và hưởng tiền dịch vụ. Sau khi vay được tiền của một số hộ dân thì T20 không mua lô đất của ông Mai Hữu N10 nữa. Do đó, khoảng giữa năm 2004, Bùi Quang C10 đề nghị Tiêu Thị A1 mua lô đất của ông Mai Hữu N10 và đưa Tiêu Thị A1 đến gặp Vũ Minh H14 tại phòng làm việc. Vũ Minh H đề nghị bán lô đất giá trên 05 tỷ đồng, Tiêu Thị A1 nói không đủ có đủ tiền, phải cho vay tiền trên hồ sơ vay vốn của các hộ dân thì mới mua được và Vũ Minh H, Bùi Quang C10 đồng ý. Tiêu Thị A1 đã trực tiếp vay tiền trên hồ sơ vay vốn của 41 hộ dân, tổng cộng là 14,545 tỷ đồng. (BL 325-343; 3057-3064; 4164 - 4178)

Đối với Trần Anh T20 đã câu kết, thông đồng với Vũ Minh H, Bùi Quang C10 và được các bị can tại Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H tạo điều kiện cho vay tiền trên hồ sơ vay vốn của 42 hộ dân với tổng số tiền vay là 18,600 tỷ đồng, trong đó các hộ dân thực nhận 4,790 tỷ đồng; Trần Anh T20 nhận, sử dụng 13,810 tỷ đồng. Do bị can Trần Anh T20 bỏ trốn nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã, Quyết định tách vụ án hình sự và Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can Trần Anh T20 về các tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Đối với các cá nhân liên quan đến vụ án, cáo trạng xác định:

Ông Tô Thành L4, nguyên cán bộ Phòng tín dụng: Thời điểm xảy ra vụ án, Tô Thành L4 được phân công nhiệm vụ cho vay đối với cán bộ hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Từ tháng 8/2004 đến tháng 10/2004, thực hiện theo chỉ đạo của Vũ Minh H, nên Tô Thành L4 đã làm thủ tục, đề xuất cho 09 hộ dân vay với tổng số tiền 4,4 tỷ đồng, trong đó các hộ dân nhận 1,5 tỷ đồng, Trần Anh T20 và Tiêu Thị A1 nhận 2,9 tỷ đồng. Tại Bản Kết luận điều tra số A(P11) kết luận: “Hành vi của Tô Thành L4 đã có dâu hiệu vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, Tô Thành L4 là cản bộ mới được tuyển dụng, khi làm thủ tục cho 09 hộ dân vay vốn là do Vũ Minh H, Giám đốc Chi nhánh trực tiếp đưa hồ sơ của các hộ dân và chỉ đạo L4 phải giải quyết cho vay, Tô Thành L4 không biết Trần Anh T20 và Tiêu Thị A1 có vay ké trong các hồ sơ này..., thiệt hại do hành vi của L4 gây ra không lớn chưa phát hiện có vụ lợi, nên xét thấy chưa cần thiết phải khởi tố đối với Tô Thành L4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C12 sẽ có văn bản đề nghị cơ quan chủ quản xử lý nghiêm về mặt hành chính”. Mặt khác, khi vụ án được phục hồi điều tra ngày 13/6/2022, hành vi của Tô Thành L4 (gây thiệt hại 2,9 tỷ đồng) thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự kể từ ngày 05/10/2019.

Đối với ông Nguyễn Bảo H10, Giám đốc Công ty TNHH T21 và bà Trần Ngọc Đ5, Giám đốc Công ty TNHH A2: Mặc dù biết việc Trần Anh T20, Tiêu Thị A1 vay trái quy định trên hồ sơ vay vốn của các hộ dân, nhưng Nguyễn Bảo H10 đã vay lại của Tiêu Thị A1 và Trần Anh T20 2,325 tỷ đồng, Trần Ngọc Đ5 vay lại của Tiêu Thị A1 03 tỷ đồng (dưới hình thức góp vốn vào Công ty A2). Sau khi Đoàn kiểm tra nội bộ phát hiện, Nguyễn Bảo H10 và Trần Ngọc Đ5 đã ký nhận nợ trực tiếp với Quỹ tín dụng. Đến nay Nguyễn Bảo H10 đã trả hết khoản nợ 2,325 tỷ đồng; Trần Ngọc Đ5 đã trả được 2,62 tỷ đồng, còn nợ 380 triệu đồng. Tại Bản Kết luận điều tra bổ sung số 24/KLĐTBS-CSKT-P10 ngày 12/12/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C12 không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Bảo H10 và Trần Ngọc Đ5 là có căn cứ.

Về lô đất đứng tên ông Mai Hữu N10: Năm 2004, Tiêu Thị A1 đã dùng tiền (vay trái quy định trên hồ sơ tín dụng của các hộ dân) để mua lô đất của ông Mai Hữu N10, tổng số tiền thanh toán 3,033 tỷ đồng. Ngày 05/6/2004 các bên gồm: Đại diện Q Chi nhánh Thành phố H, Công ty S4 và chị Nguyễn Thị Cẩm H11 (con gái Tiêu Thị A1) ký Biên bản thỏa thuận chuyển nhượng lô đất của ông Mai Hữu N10 cho chị Nguyễn Thị Cẩm H11. Đến ngày 08/12/2004, Tiêu Thị A1 và chị Nguyễn Thị Cẩm H11 cùng với Vũ Minh H, Quyền Giám đốc Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H ký Biên bản thỏa thuận bổ sung tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng 19.585m2 đất của ông Mai Hữu N10 để bảo lãnh cho các khoản nợ mà Tiêu Thị A1 đã ký nhận nợ thay các hộ dân. Tuy nhiên, do Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H không làm được thủ tục sang tên từ ông Mai Hữu N10 sang cho chị Nguyễn Thị Cẩm H11, nên năm 2016 chị H11 đã khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đang thụ lý, giải quyết.

Tại Bản cáo trang số 1690/CT-VKSTC-V5 ngày 01/2/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã truy tố các bị cáo: Vũ Minh H, Nguyễn Quang C9, Nguyễn Hồng H1, Tiêu Thị A1 về tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” quy định tại Khoản 3 Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 224/2023/HS-ST ngày 16/5/2023 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Căn cứ khoản 3 Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm g khoản 1 Điều 52, các điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt: Vũ Minh H 07 năm tù về tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  2. Căn cứ các khoản 3, 4 Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm g khoản 1 Điều 52, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt: Nguyễn Hồng H1 03 năm tù về tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Quang C9, Tiêu Thị A1; về trách nhiệm bồi thường, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo.

Ngày 29/5/2023, bị cáo Nguyễn Hồng H1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 05/6/2023, bị cáo Vũ Minh H kháng cáo yêu cầu xem xét lại tội danh và hình phạt.

Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Vũ Minh H vắng mặt tại phiên toà nên không thể hiện ý kiến. Tuy nhiên tại đơn kháng cáo ban đầu và tại văn bản tự bào chữa gửi cho Toà án đề ngày 10/9/2024, bị cáo H kêu oan.

Bị cáo Nguyễn Hồng H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác định bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo ban đầu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

Căn cứ vào kết quả điều tra đã chứng minh được hành vi phạm tội của các bị cáo Vũ Minh H, Nguyễn Hồng H1, Nguyễn Quang C9 và Tiêu Thị Anh . Do đó, bản án sơ thẩm xét xử đối với các bị cáo này về tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” theo quy định tại Điều 179 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, không oan.

Về hình phạt: Bản án sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, vai trò của từng bị cáo và mức án mà bản sơ thẩm đã tuyên đối với từng bị cáo là phù hợp với tính chất nguy hiểm của hành vi. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo H, giữ nguyên tội danh và hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo H. Đối với bị cáo H1, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã khắc phục 213.000.000 đồng, đây là tình tiết giảm nhẹ mới cần được áp dụng cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo H1 và giảm cho bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Luật sư bào chữa cho bị cáo H trình bày:

Trong suốt quá trình điều tra, bị cáo Tiêu Thị A1 khai chỉ biết ông Trần Anh T20, không biết bị cáo H, do đó không có căn cứ để quy buộc bị cáo H chỉ đạo nhân viên dưới quyền cho 83 hộ dân vay tiền. Việc cho vay, duyệt cho vay là do nhân viên của bị cáo H thực hiện, nếu có sai sót thì đây chỉ là vi phạm hành chính. Tại báo cáo của Q gửi Ngân hàng H15 (bút lục số 110) thể hiện bị cáo Tiêu Thị A1 và ông T20 tự liên hệ với các hộ dân để vay ké. Trong 83 hộ dân vay tiền, có 60 hộ đã tất toán, còn 23 hộ đang trả nợ thì vụ án được khởi tố nên không xác định được thiệt hại. Tại Văn bản ngày 04/7/2024, ông Lương Xuân V2 là người đại diện theo pháp luật của Quỹ tín dụng xác định số tiền mà các hộ dân còn lại nợ khoảng hơn 05 tỷ đồng chưa thu hồi được. Toà án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ điều tra nhưng kết quả điều tra bổ sung cũng không làm rõ được yêu cầu của Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử huỷ toàn bộ bản án để điều tra lại theo quy định.

Luật sư bào chữa cho bị cáo H1 trình bày:

Bị cáo H1 có nhân thân tốt, tích cực thu hồi nợ đã cho vay; bị cáo đã nộp 213.000.000 đồng khắc phục hậu quả; bị cáo có mẹ là bà Nguyễn Thị C được Thống đốc Ngân hàng H15 tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Ngân hàng H15 và hiện nay đang bị bệnh nặng; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức không đáng kể; tại Văn bản số 240 ngày 09/4/2024 thì Quỹ tín dụng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H1; hiện nay bị cáo H1 đã li hôn và đang nuôi con. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo H1 bổ sung: Bản án sơ thẩm buộc bị cáo liên đới bồi thường tổng cộng 444.000.000 đồng, theo bị cáo hiểu là mỗi người phải bồi thường ½ do đó bị cáo đã bồi thường xong.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo H1 xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, để có điều kiện chăm sóc mẹ già và nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

  1. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Vũ Minh H và Nguyễn Hồng H1 làm trong hạn luật định nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

  2. Về sự vắng mặt của bị cáo H: Bị cáo H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng do bị cáo bị tai biến liệt nửa người, mắc nhiều chứng bệnh khác và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo H theo quy định tại khoản 2 Điều 349 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  3. Về việc áp dụng pháp luật: Hành vi phạm tội của các bị cáo diễn ra trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến năm 2004 (trước ngày Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực pháp luật). Do đó, bản án sơ thẩm áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét áp dụng các tình tiết có lợi cho các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

  4. Xét kháng cáo của bị cáo H và bị cáo H1, nhận thấy:

    [4.1] Về tội danh:

    Trong quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận như sau:

    • Bị cáo H khai: Các lời khai ban đầu, bị cáo H thừa nhận có chủ trương, chi đạo cho các hộ dân vay vốn để Trần Anh T20 vay ké mua lô đất của ông Mai Hữu N10 nhằm giải quyết nợ vay của Công ty S4 và nợ của bà Nguyễn Thị Thu G2. Sau này, H thay đổi lời khai chỉ thừa nhận có chủ trương cho các hộ dân vay để giải quyết nợ vay của Công ty S4 và nợ của bà G2. Đồng thời, H còn trình bày khoảng tháng 5-6/2004 do T20 đã vay ké, sử dụng tiền vay của các hộ dân nhiều nên Bùi Quang C10 dẫn Tiêu Thị A1 lên gặp H, đề xuất để Tiêu Thị A1 đứng ra mua lô đất của ông N10.

    • Bị cáo Nguyễn Quang C9 khai: Các lời khai ban đầu, bị cáo C9 thừa nhận H chỉ đạo giải quyết cho T20 vay ké tiền của các hộ dân có nhu cầu vay vốn tại Quỹ tín dụng Thành phố Hồ Chí Minh để T20 có tiền mua lại lô đất của ông N10 giúp cho Quỹ tín dụng Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết nợ vay của Công ty S4 và nợ của bà G2. Sau này, C9 thay đổi lời khai chỉ thừa nhận có chủ trương cho các hộ dân vay để giải quyết nợ vay của Công ty S4 và nợ của bà G2.

    • Bị cáo Nguyễn Hồng H1 khai: H có phổ biến, chỉ đạo cho lãnh đạo Phòng tín dụng là Nguyễn Quang C9 và H1 về chủ trương, nội dung tạo điều kiện cho T20 cùng các hộ dân vay vốn do T20 môi giới, giới thiệu để T20 vay ké, sử dụng tiền vay mua lô đất của ông N10 nhằm giải quyết nợ của Công ty S4 và nợ của bà G2. Bên cạnh đó, H trực tiếp đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ dân vay vốn cho H1, yêu cầu H1 định giá tối đa giá trị tài sản đảm bảo. H1 tính toán, áp dụng các phương pháp để định giá tài sản đảm bảo lên giá trị tối đa, cao nhất (cao hơn giá trị tài sản so với thực tế), báo cáo lại với H và được H chỉ đạo, đưa ra cho H1 giá trị khoản vay với giá trị định giá cao nhất của tài sản đảm bảo như H1 đã tính toán. Trên cơ sở ý kiến quyết định về số tiền cho vay của H, H1 hợp thức hóa hồ sơ vay vốn gồm: Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, phương án sản xuất kinh doanh, phương án trả nợ... cho đầy đủ thủ tục.

    • Ông Bùi Quang C10 (là bị can trong vụ án nhưng đã chết trong quá trình điều tra) khai: Chính được H và Nguyễn Quang C9 phổ biến, chỉ đạo phải giải quyết nhanh chóng, thuận tiện cho các hộ dân vay vốn để các hộ dân hỗ trợ cho Q2 tín dụng Thành phố Hồ Chí Minh bán lô đất của ông N10 để thu nợ quá hạn cũ, thực chất là cho T20 vay ké trong số tiền các hộ dân đứng tên vay để mua lô đất của ông N10. Ngoài ra, C9 còn trình bày: Có nhiều hợp đồng thế chấp tài sản được H ký khống sẵn từ trước để về địa phương xác nhận và ghi số tiền sau.

    • Bị cáo Tiêu Thị A1 khai: T20 cho Tiêu Thị A1 biết T20 là bạn với Bùi Quang C10 và được Chính giới thiệu T20 với H để bàn bạc về việc mua lô đất của ông N10 và được H thống nhất tạo điều kiện cho vay ké trên hồ sơ vay vốn của những hộ dân do T20 môi giới để có nguồn tiền mua lô đất của ông N10. Do đó, T20 trao đổi lại với Anh tìm các hộ dân có nhu cầu vay vốn để làm hồ sơ vay vốn, qua đó sẽ vay ké phần lớn tiền trong các hợp đồng tín dụng của hộ dân để mua lô đất của ông N10, dùng làm vốn kinh doanh và hưởng tiền dịch vụ (tiền “cò”).

      Sau khi vay ké được tiền trên hồ sơ vay vốn của các hộ dân thì T20 đổi ý không mua lô đất của ông N10 nữa mà sử dụng vào việc kinh doanh xe đầu kéo, container của T20. Do đó, khoảng giữa năm 2004, Bùi Quang C10 đề nghị A đứng ra mua lô đất của ông N10 và đưa A1 đến gặp H tại phòng làm việc của H ở Quỹ tín dụng Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, H đề nghị bán lô đất của ông N10 với giá hơn 05 tỷ đồng, Anh nói không có đủ tiền, phải cho Anh vay ké tiền trên hồ sơ vay vốn của các hộ dân thì mới mua và được Vũ Minh H và Bùi Quang C10 đồng ý.

      Ngoài ra, Bùi Quang C10 còn đề nghị Anh giúp đỡ cho bạn của C10 là Nguyễn Bảo H10, Giám đốc Công ty TNHH T21 mượn tiền từ tiền vay ké của các hộ dân và H cũng giới thiệu Trần Ngọc Đ5, Giám đốc Công ty TNHH A2 đề nghị Anh giúp đỡ cho Đ5 vay ké từ tiền vay vốn của các hộ dân. H và Bùi Quang C10 sẽ hỗ trợ, tạo điều kiện giải quyết cho các hộ dân vay vốn để Anh được vay ké, có nguồn tiền cho Nguyễn Bảo H10 và Trần Ngọc Đ5 mượn, sử dụng.

      Bên cạnh đó, Anh còn trình bày: Giấy tờ ban đầu đề làm hồ sơ vay vốn gồm giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ dân được đưa trực tiếp cho Bùi Quang C10. Số tiền vay trên hợp đồng tín dụng thì do Bùi Quang C10 căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tính toán đưa ra số tiền vay và được T20 và A1 đồng ý. Toàn bộ thủ tục, hồ sơ vay vốn (Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, phương án kinh doanh, phương án trả nợ...) do Bùi Quang C10 làm. Mỗi hồ sơ vay vốn của hộ dân phải chi tiền bồi dưỡng là 2% trên tổng số tiền vay theo hồ sơ vay vốn cho Quỹ tín dụng Thành phố Hồ Chí Minh, trực tiếp đưa cho đầu mối là Bùi Quang C10, còn Bùi Quang C10 chia lại cho lãnh đạo, cán bộ Quỹ tín dụng Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào thì A1 không biết.

    Căn cứ vào lời khai ban đầu của bị cáo H và lời khai của các bị cáo Nguyễn Quang C9, Nguyễn Hồng H1, Tiêu Thị A1 và ông Bùi Quang C10 như vừa viện dẫn, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ để kết luận:

    Trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2004, Vũ Minh H là Quyền Giám đốc Chi nhánh Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Thành phố H, do cần xử lý các khoản nợ quá hạn từ các vi phạm trước đó (phát mãi lô đất của ông Mai Hữu N10 không đủ điều kiện) nên bị cáo đã chỉ đạo các bị cáo Nguyễn Quang C9, Nguyễn Hồng H1 là các nhân viên dưới quyền thực hiện việc cho vay trái quy định, tạo điều kiện cho Trần Anh T20, Tiêu Thị A1 vay 28,355 tỷ đồng trên hồ sơ vay vốn, thế chấp của 83 người dân tại huyện H và huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Hành vi của các bị cáo đã vi phạm về nguyên tắc vay vốn, điều kiện vay vốn, về thẩm định cho vay và kiểm tra sử dụng vốn vay quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 15, Điều 21 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Ngân hàng H15; gây thiệt hại cho Quỹ tín dụng Trung ương, đến thời điểm khởi tố vụ án là 24,925 tỷ đồng không thu hồi được.

    Các bị cáo H và H1 là những người có đầy đủ năng lực pháp luật, được Nhà nước tin tưởng giao quản lý vốn để thực hiện nghiệp vụ cho vay, các bị cáo ý thức được hành vi thực hiện sai quy chế cho vay, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước là phạm tội, nhưng vì muốn xử lý các khoản nợ quá hạn từ trước nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, làm thất thoát tài sản đặc biệt lớn của Nhà nước. Với các hành vi nêu trên, bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo H và H1 về tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”, theo quy định tại khoản 3 Điều 179 Bộ luật nhình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

    [4.2] Về hình phạt: Khi quyết định hình phạt, bản án sơ thẩm đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, vai trò và nhân thân của từng bị cáo. Cụ thể:

    • Về vai trò của từng bị cáo:

      Bị cáo H với vị trí, vai trò là Quyền Giám đốc Q Chi nhánh Thành phố H, trong quá trình quản lý, điều hành Chi nhánh, bị cáo đã làm trái các quy định về cho vay và trực tiếp ký duyệt 83 hồ sơ tín dụng cho vay trái quy định, gây thiệt hại số tiền 24,925 tỷ đồng, nên phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án.

      Bị cáo H1 là Phó Trưởng phòng tín dụng. Bị cáo biết rõ việc tạo điều kiện cho các người dân do Trần Anh T20 giới thiệu vay vốn để T20 được vay một phần trên hồ sơ, tài sản thế chấp của các người dân là trái quy định, nhưng vẫn đồng ý thực hiện gây thiệt hại cho Quỹ tín dụng Trung ương. Bị cáo H1 chịu trách nhiệm về 10 hồ sơ vay vốn, gây thiệt hại số tiền 3,36 tỷ đồng.

    • Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phạm tội nhiều lần, do đó cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

    • Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo H, H1 thực hiện hành vi phạm tội do nôn nóng xử lý các khoản nợ quá hạn không hưởng lợi cá nhân; các bị cáo đều có thời gian cống hiến được tặng bằng khen, huân huy chương, gia đình các bị cáo có công với cách mạng; bị cáo H đã lớn tuổi, nhiều bệnh nền, từng tham gia kháng chiến chống Mỹ và bị nhiễm chất độc hóa học, bị cáo đang bị tai biến; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, thể hiện ăn năn, hối cải; bị cáo H1 phạm tội do phải thực hiện chỉ đạo của cấp trên, có tính phụ thuộc, vì mưu cầu cuộc sống, mức độ phạm tội có phần hạn chế, chỉ là người giúp sức trong vụ án, có vai trò không đáng kể; là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con còn nhỏ và phụng dưỡng mẹ già; đã tác động gia đình tự nguyện nộp lại tiền để khắc phục một phần hậu quả của vụ án.

      Với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, vai trò của từng bị cáo như đã nêu, bản án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo H 07 năm tù và bị cáo H1 03 năm tù là phù hợp và có căn cứ.

      Tuy nhiên nhận thấy, sau khi xét xử sơ thẩm, nhận thức được hành vi phạm tội của mình và thực sự ăn năn hối cải, mặc dù hoàn cảnh kinh tế khó khăn nhưng bị cáo H1 đã chủ động nộp 213.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

  5. Từ những phân tích nêu trên, nhận thấy kháng cáo của bị cáo H là không có căn cứ để chấp nhận; kháng cáo của bị cáo H1 là có căn cứ một phần nên được chấp nhận. Cần sửa bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà.

  6. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo H1 đã nộp 213.000.000 đồng khắc phục hậu quả. Số tiền này sẽ được trừ vào trách nhiệm bồi thường của bị cáo khi thi hành án.

  7. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo H là người cao tuổi nên được miễn; bị cáo H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

  8. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Minh H.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng H1.

Sửa Bản án sơ thẩm số 224/2023/HS-ST ngày 16/5/2023 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Tuyên bố các bị cáo Vũ Minh H, Nguyễn Hồng H1 phạm tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”.

  2. Căn cứ khoản 3 Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, điểm g khoản 1 Điều 52, các điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt: Bị cáo Vũ Minh H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  3. Căn cứ khoản 3 Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, điểm g khoản 1 Điều 52, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017),

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Nguyễn Hồng H1 đã nộp 213.000.000 (hai trăm mười ba triệu) đồng khắc phục hậu quả, theo biên lai thu số 32697 ngày 28/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Số tiền này sẽ được trừ vào trách nhiệm bồi thường của bị cáo H1 khi thi hành án.

  5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Miễn án phí hình sự cho bị cáo Vũ Minh H. Bị cáo Nguyễn Hồng H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Công an Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Khoa

23

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 935/2024/HS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng

  • Số bản án: 935/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Minh H. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng H1. Sửa Bản án sơ thẩm số 224/2023/HS-ST ngày 16/5/2023 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger