Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 934/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 9 - 2024

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Vân
  2. Bà Nguyễn Thị Lan

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nương là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 416/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 326/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm: 1978

Địa chỉ: Tổ C, khu phố E, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn: Anh Lý Bình X, sinh năm: 1973

Địa chỉ: Tổ B, khu phố E, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng N trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lý Bình X đăng ký kết hôn số 15 ngày 18/02/2009 tại UBND phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định, tự nguyện, có tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, kinh tế gia đình khó khăn nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Ngoài ra, anh X còn có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Năm 2015 chị về nhà mẹ ruột chị ở và vợ chồng tự sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai.

Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị quyết định xin ly hôn anh Lý Bình X để ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Lý Thị Như Ý, sinh ngày 05/01/2002 và Lý Thị Kỳ D, sinh ngày 17/11/2004, sức khoẻ các con chung bình thường và hiện nay đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Toà giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự giải quyết không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn anh Lý Bình X, Tòa đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng anh X vắng mặt không có lý do.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn anh Lý Bình X không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa; đồng thời đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng N ly hôn anh Lý Bình X.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị Hồng N là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Còn anh Lý Bình X là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Lý Bình X là hôn nhân hợp pháp. Theo chị N trình bày, chị xin ly hôn anh X vì tình cảm vợ chồng không còn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, kinh tế gia đình khó khăn nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Ngoài ra, anh X còn có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Đến năm 2015 vợ chồng mâu thuẫn gay gắt và tự sống ly thân đến nay. Nay chị không còn tình cảm với anh X nên chị yêu cầu được ly hôn anh X. Quá trình giải quyết vụ án anh X vắng mặt không đến Tòa làm việc. Tòa đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật yêu cầu anh X đến Tòa làm việc, tạo điều kiện cho anh X hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh X vắng mặt.

Xét thấy hôn nhân giữa chị N và anh X không còn thương yêu, quý trọng, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống vợ chồng. Do đó hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị N và anh X có 02 con chung là Lý Thị Như Ý, sinh ngày 05/01/2002 và Lý Thị Kỳ D, sinh ngày 17/11/2004, sức khoẻ các con chung bình thường và hiện nay đã trưởng thành nên chị N không yêu cầu Toà giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu nên Tòa không giải quyết.

[5] Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quộc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 300.000đồng.

[6] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng N là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng N ly hôn anh Lý Bình X.
  2. Về con chung: Chị N và anh X có 02 con chung là Lý Thị Như Ý, sinh ngày 05/01/2002 và Lý Thị Kỳ D, sinh ngày 17/11/2004. Hiện nay các con chung đã trưởng thành, chị N không yêu cầu nên Toà không giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu nên Tòa không giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tạm ứng án phí theo biên lai số 0000974 ngày 20/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn. Chị N đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - VKSND thành phố Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn;
  • - UBND P. Lê Hồng Phong, TP.Quy Nhơn (số 15/2009);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 934/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn

  • Số bản án: 934/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger