Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 934/2024/HS-PT

Ngày: 26 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán:

  • Ông Cao Văn Tám
  • Ông Hoàng Minh Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 654/2023/TLPT-HS ngày 30 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thủy A do có kháng cáo kêu oan của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2023/HS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

* Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Thị Thủy A, sinh năm 1990, tại tỉnh Ninh Thuận. Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Thanh V và bà: Phan Thị N; Chồng là: Dương Ngọc P và 01 người con; Tiền án, Tiền sự: Không; Tạm giam: 08/7/2021, tại ngoại: 22/11/2021. Bị cáo hiện đang tại ngoại có mặt.

*Người bào chữa của bị cáo:

  1. Các Luật sư: Trần Thanh T, Trần Đăng K - Thuộc Văn phòng L6 – Đoàn Luật sư tỉnh N (Luật sư T có mặt, Luật sư K vắng mặt).
  2. Các Luật sư: Phạm Công D, Huỳnh S - Thuộc Công ty L7 và Cộng sự - Chi nhánh L8 (Luật sư Sáng có mặt).

* Bị hại: (vắng mặt)

  1. Vợ chồng Bà Phan Thị L, sinh năm: 1969 và ông Phan Xuân T1, sinh năm: 1966; Nơi cư trú: Khu phố A, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
  1. Bà Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm: 1974; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
  2. Bà Đạo Thị Kim Q, sinh năm: 1987; Nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
  3. Bà Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh năm: 1982; Nơi cư trú: Khu phố A, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
  4. Bà Hồ Thị T3, sinh năm: 1992; Nơi cư trú: Khu phố H, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (vắng mặt)

  1. Ông Dương Ngọc P, sinh năm: 1988; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
  2. Bà Thái Huyền Phương D1, sinh năm: 1988; Nơi cư trú: Số A A đường N, phường K, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
  3. Ông Trần Ngọc N1, sinh năm: 1988; Nơi cư trú: Khu phố H, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
  4. Ông Nguyễn Cao C, sinh năm: 1985; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
  5. Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 – Chi nhánh C1.

    Do ông: Nguyễn Đức T4, sinh năm: 1991- Đại diện; Địa chỉ: số B, N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

  6. Ngân hàng B – Chi nhánh K2.
  7. Ngân hàng N3 – Chi nhánh N4.

    Do ông: Nguyễn Thành L1, sinh năm: 1991 - Đại diện; Địa chỉ: Khu phố 3, phường Mỹ Bình, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

  8. Ngân hàng L9 – Chi nhánh N4.

* Người kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị Thủy A kháng cáo kêu oan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Thủy A là nhân viên làm việc tại Văn phòng C2. Trong thời gian làm việc, từ khoảng năm 2016 đến năm 2018, A quen biết với nhiều người trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận nên đã đặt vấn đề vay, mượn tiền để cho vay đáo hạn Ngân hàng hưởng tiền lời chênh lệch và mua bán bất động sản.

Do áp lực phải trả các khoản gốc, lãi vay đến hạn nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền để trả nợ. Bị cáo đặt vấn đề hỏi vay mượn tiền của nhiều người, thoả thuận trả lãi suất cao từ 4,5% đến 6%/tháng (tương ứng từ 54-72%/năm); Ban đầu thực hiện trả tiền gốc, lãi đúng thời gian cam kết nên đã có nhiều người tin

tưởng đưa tiền cho A vay. Sau đó, A chiếm đoạt lấy tiền sử dụng để trả các khoản vay trước đến hạn và chi tiêu cho mục đích cá nhân dẫn đến mất khả năng trả nợ.

Trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 2020 đến tháng 11 năm 2020, Nguyễn Thị Thủy A đã dùng thủ đoạn gian dối, hỏi vay mượn tiền của nhiều người rồi chiếm đoạt, cụ thể như sau:

1. Bà Phan Thị L:

Tháng 9 năm 2020, A vay của bà Phan Thị L, khi vay A nói để đáo hạn Ngân hàng và hai bên thoả thuận lãi suất là 4,5%/tháng, trả lãi theo tuần, bà L đồng ý đưa tiền cho A vay nhiều lần, cụ thể:

  • Lần 1: Vào ngày 11/9/2020, số tiền 3.000.000.000 đồng.
  • Lần 2: Vào ngày 13/9/2020, số tiền 3.000.000.000 đồng.
  • Lần 3: Vào chiều ngày 03/11/2020, số tiền 500.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, A thừa nhận có vay của bà L tổng số tiền 6.500.000.000 đồng và sử dụng trả lãi cho bà L được 630.000.000 đồng. Sau đó A không trả gốc và lãi vay theo cam kết. Do đó, A phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền chiếm đoạt của bà L là 6.500.000.000 đồng - 630.000.000 đồng = 5.870.000.000đồng.

2. Bà Nguyễn Thị Kim T2:

Khoảng tháng 9, 10 năm 2020, A vay tiền của bà Nguyễn Thị Kim T2. A nói là để cho vay đáo hạn Ngân hàng, hai bên thoả thuận lãi suất vay là 4,5%/tháng, trả lãi theo tuần, bà T2 đồng ý đưa tiền cho A vay nhiều lần, cụ thể:

  • Lần 1: Vào ngày 29/9/2020, A vay của bà T2 số tiền 3.000.000.000 đồng.
  • Lần 2: Vào trong khoảng tháng 10 năm 2020 (không nhớ rõ ngày) A vay của bà T2 số tiền là 100.000.000 đồng.
  • Lần 3: Vào trong khoảng tháng 10 năm 2020 (không nhớ rõ ngày) A vay của bà T2 số tiền là 200.000.000 đồng.
  • Lần 4: Vào trong khoảng tháng 10 năm 2020 (không nhớ rõ ngày) A vay của bà T2 số tiền là 300.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, A thừa nhận có vay của bà T2 với tổng số tiền 3.600.000.000 đồng, sau đó A trả lãi cho bà T2 được 239.400.000 đồng.

Vì vậy A phải chịu trách nhiệm với số tiền chiếm đoạt của bà T2 là 3.600.000.000 đồng - 239.400.000 đồng = 3.360.600.000 đồng.

3. Bà Nguyễn Thị Hồng Đ:

Trong khoảng tháng 9, 10, 11/2020, A vay của bà Nguyễn Thị Hồng Đ, A nói là để cho vay đáo hạn Ngân hàng, hai bên thoả thuận lãi suất vay là 4,5%/tháng, trả lãi theo tuần, bà Đ đồng ý đưa tiền cho A vay nhiều lần, cụ thể như sau:

  • Lần thứ 1: Vào khoảng 11 giờ sáng ngày 19/9/2020, A vay số tiền 700.000.000 đồng tại nhà của bà Đ ở khu phố A, phường V. Khi đưa tiền cho A thì có bà Đ, A và chồng của Đ là Nguyễn Văn  chứng kiến, do tin tưởng nên bà Đ không làm giấy nhận tiền để A ký xác nhận.
  • Lần thứ 2: Vào khoảng 14 giờ chiều ngày 26/9/2020, A vay số tiền là 200.000.000 đồng tại nhà của bà Đ, hai bên không làm giấy tờ để A ký xác nhận.
  • Lần thứ 3: Vào khoảng 12 giờ trưa ngày 29/9/2020, A vay của bà Đ số tiền là 200.000.000 đồng tại nhà của Đ, hai bên không làm giấy tờ để A ký xác nhận.
  • Lần thứ 4: Vào khoảng 15 giờ chiều ngày 22/10/2020, A vay của bà Đ số tiền là 1.000.000.000 đồng tại nhà của bà Đ, khi đưa tiền cho A thì có bà Đ, A và cháu Nguyễn Thị Ngọc H (cháu bà con của bà Đ) chứng kiến, hai bên không làm giấy tờ để A ký xác nhận.
  • Lần thứ 5: Vào khoảng 16 giờ chiều ngày 21/11/2020, A vay của bà Đ số tiền là 200.000.000 đồng tại nhà của Đ, khi đưa tiền cho A thì có Đ, A và cháu Phan Quốc T5 (cháu bà con của bà Đ) chứng kiến, hai bên không làm giấy tờ để A ký xác nhận.
  • Lần thứ 6: Vào khoảng 17 giờ 30 phút chiều ngày 24/11/2020, A vay của bà Đ số tiền là 100.000.000 đồng, thông qua Phan Quốc T5 là người giao tiền cho A vay tại nhà của bà Đ, hai bên không làm giấy tờ để A ký xác nhận.

Trong quá trình vay, A đã trả lãi được 148.950.000 đồng.

A khai có vay tiền của bà Đ nhưng đã trả hết tiền cho bà Đ, không còn nợ.

Căn cứ lời khai người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định các file ghi âm cuộc điện thoại nói chuyện giữa bà Đ và A thì có căn cứ xác định A vẫn còn nợ tiền của bà Đ số tiền gốc là 2.400.000.000 đồng - 148.950.000 đồng = 2.251.050.000 đồng. Lời khai của A về việc đã trả hết nợ là không có căn cứ chấp nhận, không có tài liệu chứng minh.

Như vậy, A phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền đã chiếm đoạt của bà Đ là 2.251.050.000 đồng.

4. Bà Đạo Thị Kim Q:

A vay tiền của bà Đạo Thị Kim Q. Khi vay A nói để đáo hạn Ngân hàng, thoả thuận lãi suất 1,5%/tháng, cam kết trả nợ trong khoảng 2 - 3 ngày, bà Q đồng ý đưa tiền cho A vay 02 lần với số tiền 500.000.000 đồng, cụ thể:

  • Lần 1: Vào ngày 23/11/2020, A vay của bà Q số tiền 300.000.000 đồng.
  • Lần 2: Vào ngày 24/11/2020, A vay của bà Q số tiền 200.000.000 đồng.

Tiến hành đối chất, A thừa nhận có vay của bà Q số tiền 500.000.000 đồng nhưng A khai đã trả hết nợ vào ngày 25/11/2021.

Căn cứ lời khai người bị hại, người làm chứng, người biết việc, kết luận giám định các file ghi âm cuộc điện thoại nói chuyện giữa bà Q và A thì xác định bà Q đã nhận được số tiền 90.000.000 đồng từ A và A còn nợ bà Q số tiền 500.000.000 - 90.000.000 đồng = 410.000.000 đồng.

Như vậy, A phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền đã chiếm đoạt của bà Q là 410.000.000 đồng.

5. Bà Hồ Thị T3:

Khoảng đầu tháng 8 năm 2020, A vay của chị Hồ Thị T3, mục đích là để đáo hạn Ngân hàng hưởng lãi suất chênh lệch, cụ thể như sau:

  • Lần 1: Vào ngày 05/8/2020, T3 chuyển tiền cho A qua tài khoản Ngân hàng V2 của A số 1030070713, số tiền: 150.000.000 đồng.
  • Lần 2: Vào ngày 14/8/2020, T3 chuyển tiền cho A qua tài khoản Ngân hàng V2 của A số 1030070713, số tiền: 300.000.000 đồng.

Quá trình vay, chị T3 đã nhận được 02 tháng tiền lãi với số tiền là 27.000.000 đồng. Số tiền A chiếm đoạt của chị T3 là: 450.000.000 đồng – 27.000.000 đồng = 423.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, A không hợp tác khai báo về việc vay tiền của chị T3, với tài liệu chứng cứ do chị T3 cung cấp, có đủ căn cứ xác định A phải chịu trách nhiệm đối với số tiền chiếm đoạt là 423.000.000 đồng.

Như vậy, với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được Cơ quan điều tra xác định Nguyễn Thị Thủy A chiếm đoạt số tiền đã vay của các bị hại tổng số tiền là 12.314.650.000 đồng, trong đó của: Phan Thị L 5.870.000.000 đồng; Nguyễn Thị Kim T2 3.360.600.000 đồng; Nguyễn Thị Hồng Đ 2.251.050.000 đồng; Đạo Thị Kim Q 410.000.000 đồng; Hồ Thị T3 423.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiếp nhận đơn tố giác tội phạm của:

  • Bà Nguyễn Thị L2 tố cáo A có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với số tiền 2,6 tỷ đồng;
  • Bà Huỳnh Thị M, tố cáo A có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với số tiền 20,5 tỷ đồng thông qua việc vay mượn tiền.

Kết quả điều tra xác định, giữa A với các bà L2, M có thoả thuận cho vay mượn tiền trả lãi từ năm 2017. Thời điểm trước tháng 7 năm 2020, A vẫn thực hiện việc trả gốc, lãi đúng thoả thuận cam kết, giữa các bên không phát sinh tranh chấp. Theo bà L2 khai có cho A vay số tiền 1,5 tỷ đồng vào tháng 11 năm 2020 và bà M khai có cho A vay số tiền 5,2 tỷ đồng trong thời gian từ 14-20/11/2020 (sau tháng 7/2020). Tuy nhiên, bà M và bà L2 không cung cấp được giấy tờ tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cho A vay số tiền trên, A khai không nhớ nên không có đủ căn cứ để xác định A có hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản số tiền đã vay trong tháng 11/2020, đối với các khoản vay trước đó giữa các bên là tranh chấp quan hệ dân sự.

Ngoài ra, A còn khai nhận và kết quả làm việc xác định: Ngoài việc vay nợ tiền của những người có đơn tố cáo nêu trên thì A còn vay, nợ tiền của nhiều người khác trên địa bàn tỉnh với số tiền là 31,19 tỷ đồng, cụ thể: Bà Nguyễn Thị Thi T6 17 tỷ đồng; bà Nguyễn Thị Kim L3 9,9 tỷ đồng; ông Nguyễn Thái Minh H1 700 triệu đồng; bà Ngô Thị Ngọc L4 250 triệu đồng; bà Nguyễn Thị L5 2,6 tỷ đồng; bà Nguyễn Hoài N2 70 triệu đồng. Tuy nhiên, quá trình làm việc thì những người trên có ý kiến yêu cầu A có trách nhiệm trả lại tiền chứ không gửi đơn tố cáo hoặc không hợp tác làm việc (bà Thi T6).

Về tài liệu đồ vật thu giữ: 02 USB ghi âm trao đổi giữa Nguyễn Thị Thủy A với Nguyễn Thị Hồng Đ, Đạo Thị Q; Giấy vay mượn tiền, tài liệu kèm theo đơn của những người gửi đơn tố cáo (theo ghi nhận tại các biên bản tạm giữ) lưu trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại là bà Phan Thị L yêu cầu A trả số tiền 5.870.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Kim T2 yêu cầu A trả số tiền 3.360.600.000 đồng, bà Nguyễn Thị Hồng Đ yêu cầu A trả số tiền: 2.251.050.000 đồng, bà Đạo Thị Kim Q yêu cầu A trả số tiền 410.000.000 đồng; bà Hồ Thị T3 yêu cầu A trả số tiền 423.000.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh phong tỏa các tài khoản của bị cáo Nguyễn Thị Thủy A tại các chi nhánh Ngân hàng để đảm bảo thi hành án, cụ thể như sau: Số tài khoản 0104135864 tại Ngân hàng Đ1 - Chi nhánh N4, số dư: 00 đồng; Số tài khoản 414041717400001 tại Ngân hàng N3 - Chi nhánh N4, số dư: 00 đồng; Số tài khoản 050077527874 tại Ngân hàng S1 - Chi nhánh N4, số dư: 56.604 đồng; Số tài khoản 103007071313 tại Ngân hàng V3 - Chi nhánh N4, số dư: 44.127 đồng; Số tài khoản 105800900030 tại Ngân hàng V3 - Chi nhánh N4, số dư 40.370 đồng; Số tài khoản 0661000474002 tại Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh K2, số dư: 26.623.276 đồng; Số tài khoản 0581000626563 tại Ngân hàng V4-Chi nhánh N4, số dư: 911.304 đồng; Số tài khoản 0201029200003 tại Ngân hàng L10 - Chi nhánh N4, số dư: 2.410.105 đồng; Số tài khoản

8040102160003 tại Ngân hàng Q1 - Chi nhánh C1, số dư: 66.957.218 đồng. Tổng cộng: 96.998.921 đồng.

Ngoài ra, Nguyễn Thị T7 A đồng ý cho bà Trương Thị Minh K1 giao nộp số tiền 25.000.000 đồng vào tài khoản tạm giữ của Công an tỉnh mở tại kho bạc Nhà nước tỉnh Ninh Thuận là tiền do A chơi huê từ bà K1 để thi hành án sau này.

* Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS-P2 ngày 23/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thủy A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại bản án số 28/2023/HS-ST ngày 19/7/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Thuận quyết định:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thủy A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  • - Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự (BLHS);
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thủy A 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt thi hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giam (từ ngày 08/7/2021 đến 22/11/2021).
  • - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, Điều 48 BLHS; các Điều 584, 585, 589, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
  • Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thủy A có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho: bà Phan Thị L số tiền 5.870.000.000 (Năm tỷ tám trăm bảy mươi triệu) đồng; bà Nguyễn Thị Kim T2 số tiền 3.360.600.000 (Ba tỷ ba trăm sáu mươi triệu sáu trăm ngàn) đồng; bà Nguyễn Thị Hồng Đ số tiền 2.251.050.000 (Hai tỷ hai trăm năm mươi mốt triệu không trăm năm mươi ngàn) đồng; bà Đạo Thị Kim Q số tiền 410.000.000 (Bốn trăm mười triệu) đồng; bà Hồ Thị T3 số tiền 423.000.000 (Bốn trăm hai mươi ba triệu) đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về các biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 20/7/2023, bị cáo Nguyễn Thị Thủy A kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo A cho rằng các khoản vay tiền của các bị hại, chỉ là giao dịch dân sự, bị cáo không có gian dối, bỏ trốn và không mất khả năng thanh toán như cấp sơ thẩm quy kết. Hiện tại, các khoản bị cáo cho vay lại còn nợ bị cáo hơn 13 tỷ đồng (lớn hơn số tiền bị cáo bị quy kết chiếm đoạt: 12.314.650.000 đồng).
  • - Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm: Bị cáo không có gian dối, không bỏ trốn, không mất khả năng thanh toán nợ như cấp sơ thẩm đã quy kết. Bản thân bị cáo làm văn phòng công chứng, chồng là công an, bị cáo làm đáo hạn ngân hàng là sự thật, bị cáo vay tiền các bị hại về để cho vay lại, các bị hại hoàn toàn biết; Vì đây là các khoản đảo nợ từ các khoản nợ của bà L4, bà M từ năm 2017. Việc Án sơ thẩm nhận định: “Ngoài việc vay nợ tiền của những người có đơn tố cáo nêu trên thì A còn vay, nợ tiền của nhiều người khác trên địa bàn tỉnh với số tiền là 31,19 tỷ đồng” cụ thể: Bà Nguyễn Thị Thi T6 17 tỷ đồng; bà Nguyễn Thị Kim L3 9,9 tỷ đồng; ông Nguyễn Thái Minh H1 700 triệu đồng; bà Ngô Thị Ngọc L4 250 triệu đồng; bà Nguyễn Thị L5 2,6 tỷ đồng; bà Nguyễn Hoài N2 70 triệu đồng..” là không đúng, bị cáo kháng cáo nội dung này. Do đó, Luật sư và bị cáo đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, để điều tra lại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về xử lý vụ án: Các chứng cứ buộc tội rất mâu thuẫn, việc chứng minh ý thức gian dối và bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của bị cáo không rõ ràng, cụ thể:

  1. Bị cáo vay mượn tiền của nhiều người để kinh doanh bất động sản, đáo hạn Ngân hàng, cho người khác vay lại. Tất cả những việc này bị cáo đều thực hiện và tất cả những người được cho là bị hại đều biết rõ. Việc những người bị hại cho vay đều thỏa thuận lãi suất và thu tiền lãi hàng tuần (bà L3 thu lãi mỗi tuần 63.000.000 đồng và đã thu được 10 tuần; bà T2 thu lãi được 08 tuần với tổng số tiền là 239.400.000 đồng; bà Đ thu lãi được 09 tuần số tiền là 148.950.000 đồng). Việc cho bị cáo A vay lấy lãi, tuần sau đó A cho người khác vay lại lấy lãi người khác, bị hại đều biết và có cả lời khai của người vay tiền của bị cáo A xác định (Biên bản phiên tòa, lời khai các nhân chứng Nguyễn Thị Yến V1, Nguyễn Thị Thi T6) bị cáo vay mượn của nhiều người nhưng cũng cho người khác vay lại (bà V1 khai tại Cơ quan điều tra ngày 31/01/2023 xác định cuối năm 2020 còn nợ A 3,1 tỷ nhưng khi thấy A bị bắt thì bà V1 khai báo gian dối phủ nhận việc vay tiền của bị cáo A). Tuy nhiên chỉ những ai yêu cầu xử lý hình sự mới được cho là bị hại còn lại thì lại là giao dịch dân sự. Điều này là vô lý vì tội phạm này không khởi tố theo yêu cầu bị hại và việc chứng minh ý thức gian dối từ đầu cũng không có.
  2. Đối với việc chứng minh bị cáo A lấy tiền của bị hại sau đó dùng tiêu xài cá nhân rồi chiếm đoạt: Theo kết luận điều tra số 07 kết luận bị cáo thực hiện 32/33 giao dịch bất động sản do bị cáo và chồng đứng tên cùng, 02 giao dịch mua bán ô tô. Như vậy, bị cáo vay tiền thực hiện đúng mục đích như thỏa thuận với bị hại tại sao lại cho là gian dối? Nếu cho rằng bị cáo chiếm đoạt tiền thì các cơ quan

tố tụng sơ thẩm phải chứng minh dòng tiền bị cáo vay của bị hại rồi sử dụng mua tài sản sau đó dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt.

  1. Về yếu tố bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản: Tại phiên tòa sơ thẩm nhân chứng Nguyễn Thị L2 khai việc bị cáo không có mặt ở địa phương trong 02 ngày là đi cùng bà L2 và bà Huỳnh Thị M vào Đồng Nai sau đó trở về Ninh Thuận (bà M là người khởi xướng việc đi S), bà L2 cũng là người làm ăn chung cùng bị cáo và cho bị cáo vay mượn tiền nhiều lần. Việc bị cáo đi khỏi địa phương 02 ngày cùng hai người quen biết có được xem là bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hay không? Bên cạnh đó chồng bị cáo ông P đang công tác tại Công an tỉnh N.
  2. Trong các giai đoạn tố tụng bị cáo cung cấp các Vi bằng do thừa phát lại lập thể hiện có nhiều người vay mượn tiền của bị cáo trong thời điểm bị cáo vay tiền của nhiều người. Như vậy, có hay không việc vay tiền rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt hay đây chỉ là việc cho vay lại với lãi suất cao hơn để hưởng lợi.

Với những mâu thuẫn chưa được làm rõ nêu trên, cần phải hủy án sơ thẩm để điều tra lại chứng minh những yếu tố cơ bản (thủ đoạn gian dối, ý thức chiếm đoạt và hành vi khách quan) xác định hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị hủy án sơ thẩm.

- Các luật sư thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Do bị cáo kháng cáo kêu oan, nên Tòa phúc thẩm đã nhiều lần triệu tập các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng như: Bà Nguyễn Thị L2, bà Huỳnh Thị M, bà Nguyễn Thị T6 để đối chất, làm rõ những vấn đề liên quan đến việc kêu oan của bị cáo, nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

Sau khi nghe quan điểm tranh luận của các Luật sư bào chữa cho bị cáo, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, thấy rằng:

[2]. Về chứng cứ buộc tội:

[2.1].

Bị cáo kêu oan, nhưng Bản án sơ thẩm chưa nhận định rõ các chứng cứ buộc tội có liên quan đến các dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như: ý thức muốn chiếm đoạt tiền của các bị hại từ trước, dùng thủ đoạn gian dối, mất khả năng thanh toán, bỏ trốn.

[2.2].

Hồ sơ thể hiện: Lời khai ban đầu của bị cáo, các bị hại và những người làm chứng bà Nguyễn Thị L2, bà Huỳnh Thị M đều ghi nhận các khoản tiền của bị hại Phan Thị L, Nguyễn Thị Kim T2 xuất phát từ các khoản đảo nợ từ L2, M từ năm 2017 (BL: 189, 280, 282, 287); Sau đó, các bị hại khai lại không có liên quan đến L2, M. Tòa sơ thẩm có trả hồ sơ điều tra bổ sung làm rõ nội dung trên nhưng Viện kiểm sát cấp sơ thẩm cho rằng không cần thiết. Trong khi đó, tại các Biên nhận vay tiền ngày 11/9/2020; 13/9/2020 và ngày 03/11/2020 tổng cộng bị cáo vay của bị hại L số tiền 6.500.000 đồng; Các biên nhận ngày 29/9/2020, tháng 10/2020 thể hiện bị cáo vay của bị hại T2 04 lần tổng cộng 3.600.000 đồng; hai bên thỏa thuận lãi suất 4,5/tháng, trả lãi theo tuần; bị cáo có trả lãi nhiều lần, cụ thể đã trả cho bị hại L số tiền 630.000.000 đồng, trả cho bị hại T2 số tiền 239.400.000 đồng.

[2.3].

Như vậy, cấp sơ thẩm chưa làm rõ số tiền quy kết bị cáo chiếm đoạt có phải có xuất phát từ các khoản đảo nợ, chuyển dịch khoản vay giữa bị cáo, bà L2, M từ năm 2017. Để từ đó xác định các bị hại có biết việc này không, nhằm làm căn cứ để chứng minh thủ đoạn gian dối, ý thức chiếm đoạt từ trước của bị cáo. Vì bị cáo cho rằng các bị hại và người làm chứng bà L2, bà M đều biết rõ số tiền bà L2, bà M cho bị cáo A vay là của L đưa cho L2, M vay từ năm 2017 (Tại Cáo trạng số 08/CT-VKS-P2, trang 3, cũng thể hiện nội dung này).

[3]. Về tội danh:

[3.1].

Án sơ thẩm nhận định: “Xuất phát từ việc làm ăn thua lỗ và nợ nần, Nguyễn Thị Thủy A không còn có khả năng trả các khoản vay (cả gốc và lãi). Từ tháng 7 năm 2020, lợi dụng những mối quan hệ quen biết trong thời gian làm việc tại Văn phòng C2 và cho vay đáo hạn ngân hàng, Nguyễn Thị T7 A tiếp tục đưa ra nhiều thông tin gian dối như: Vay tiền để cho vay đáo hạn ngân hàng, thỏa thuận trả lãi cao để vay mượn tiền của nhiều người, nhưng thực chất không cho vay đáo hạn ngân hàng mà dùng tiền này để trả tiền cho những người đã vay mượn trước, trả lãi cho các khoản vay sau. Bằng phương thức, thủ đoạn này A đã chiếm đoạt tiền của nhiều người”.

Hồ sơ thể hiện: Chưa có tài liệu, chứng cứ vật chất nào chứng minh bị cáo bị “nợ nần” dẫn đến mất khả năng thanh toán; bị cáo đưa thông tin gian dối và bị cáo bỏ trốn. Vì tại tòa bị cáo khẳng định chỉ có nợ số tiền của các bị hại trong vụ án này, không còn nợ bất kỳ ai, việc án sơ thẩm quy kết cho rằng bị cáo còn nợ nhiều người, với tổng số tiền là 31,19 tỷ đồng là không đúng. Còn bản thân bị cáo đã cung cấp các biên nhận chứng minh khoản tiền bị cáo cho vay, hiện tại những người còn nợ bị cáo hơn 13 tỷ đồng. Hơn nửa, việc bị cáo vay tiền của bị hại, mục đích cho vay lại để hưởng chênh lệch lãi thì các bị hại hoàn toàn đều biết; bị cáo đã trả lãi nhiều lần, bị cáo không có gian dối, đây là giao dịch dân sự.

[3.2].

Như vậy, cấp sơ thẩm chưa điều tra, thu thập tài liệu chứng cứ vật chất để chứng minh thỏa mãn các dấu hiệu cơ bản của tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”: hành vi gian dối và ý thức chiếm đoạt của bị cáo.

[4]. Tóm lại:

Mặc dù Tòa sơ thẩm có trả hồ sơ điều tra bổ sung để làm rõ những nội dung trên. Nhưng việc cấp sơ thẩm chưa điều tra, thu thập tài liệu chứng cứ vật chất để chứng minh thỏa mãn các dấu hiệu cơ bản của tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”: hành vi gian dối và ý thức chiếm đoạt của bị cáo là vi phạm nghiêm trọng về việc điều tra không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Do đó, cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra, truy tố xét xử lại, nhằm tránh oan sai.

Quan điểm bào chữa của các Luật sư, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị đề nghị hủy án sơ thẩm để điều tra lại là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.[5]. Do hủy án sơ thẩm nên bị cáo A không phải chịu án phí hình sự sơ, phúc thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  1. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2023/HS-ST ngày 19/7/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Thuận. Chuyển hồ sơ về cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận để điều tra và truy tố lại theo đúng quy định của pháp luật.
  2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Thủy A không phải chịu.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh Ninh Thuận;
  • - Công an tỉnh Ninh Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VP, 216TTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 934/2024/HS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (phúc thẩm)

  • Số bản án: 934/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỷ án Sơ thẩm điều tra lại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger