Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 934/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27/5/2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Nhơn
  • 2. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Vũ Mỹ Linh - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 02/5/2024 và ngày 27/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án thụ lý số 2291/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 139/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02/5/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị H, sinh năm 1976
  2. Địa chỉ: A đường B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Ông Trần Thăng D, sinh năm 1970
  4. Địa chỉ: A đường B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1/ Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn- bà Đặng Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Thăng D tự nguyện yêu thương nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 166, quyển số 01/2001, ngày 25/10/2001.

Quá trình sống chung, hai bên sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó hai bên thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Từ năm 2021 đến nay, ông D có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm tới gia đình, không đưa tiền cho bà H chi tiêu trong sinh hoạt gia đình. Kinh tế và chi phí sinh hoạt, học tập cho 02 con một mình bà H phải lo toan. Ngày nào ông D cũng đi ra ngoài tới khuya mới về mặc dù không có công việc làm. Bà H và gia đình phía ông D đã nhiều lần mời hai vợ chồng tới họp gia đình, khuyên ngăn ông D nhưng ông D không thay đổi. Hai bên đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Bà H có đặt ra yêu cầu ly hôn nhưng ông D không hợp tác và bỏ mặc.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông D.

- Về con chung: Bà và ông D có 02 con chung gồm chị Trần Đặng Mỹ T, sinh ngày 02/9/2002, đã trưởng thành; trẻ Trần Tấn P, sinh ngày 15/07/2013.

Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Tấn P, bà đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: không có nợ chung.

2/ Bị đơn - ông Trần Thăng D: đã vắng mặt trong suốt quá trình Toà án nhân dân quận Bình Thạnh tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, mặc dù Toà án đã triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật.

3/ Tại phiên toà:

3.1 Nguyên đơn: nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Nội dung đơn xin xét xử vắng mặt, bà Đặng Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

3.2 Bị đơn: vắng mặt không có lý do, mặc dù Toà án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn để tham gia phiên toà.

3.3 Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tô tụng Dân sự năm 2015.

Tòa án xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định và tiến hành xét xử vắng mặt đương sự phù hợp với quy định của pháp luật.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

  • + Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn - bà Đặng Thị H: bà Đặng Thị H được ly hôn với ông Trần Thăng D.
  • + Về con chung: chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị H về việc được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ Trần Tấn P, sinh ngày 15/07/2013. Ghi nhận việc bà H đủ điều kiện kinh tế để nuôi con nên không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: bà H khai không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa bà Đặng Thị H và ông Trần Thăng D là tranh chấp về Ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 đây là loại vụ việc tranh chấp về Hôn nhân và gia đình; bị đơn cư trú tại quận B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý, tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn đến Toà để làm bản khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, xét xử vụ án. Phiên toà được mở lần thứ 02 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Việc nguyên đơn và bị đơn vắng mặt không làm ảnh hưởng đến nội dung tranh chấp nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về yêu cầu của nguyên đơn :

[3.1] Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 166, Quyển số 01/2001 ngày 25/10/2001 của Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, nhận thấy hôn nhân giữa bà Đặng Thị H và ông Trần Thăng D là hợp pháp.

Nay nguyện vọng của bà H muốn ly hôn với ông D vì hai bên không còn tình yêu thương với nhau, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được.

Hội đồng xét xử xét:

Hôn nhân là việc nam nữ tự nguyện thương yêu và xây dựng hạnh phúc gia đình, trong đó cả hai cùng chung tay vun đắp cho hạnh phúc chung, tin tưởng và cùng nhau vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Tuy nhiên, bà H trình bày, quá trình chung sống giữa bà H và ông D thời gian đầu hạnh phúc, sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Từ năm 2021 đến nay, ông D có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm tới gia đình, không đưa tiền cho bà H chi tiêu trong sinh hoạt gia đình. Kinh tế và chi phí sinh hoạt, học tập cho 02 con một mình bà H phải lo toan. Bà H và gia đình phía ông D đã nhiều lần mời hai vợ chồng tới họp gia đình, khuyên ngăn ông D nhưng ông D không thay đổi. Hai bên đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Bà H có đặt ra yêu cầu ly hôn nhưng ông D không hợp tác và bỏ mặc.

Xét thấy, bà H đã không còn tình yêu và sự tin tưởng đối với ông D trong khi hôn nhân hạnh phúc đòi hỏi phải có tình cảm và sự tự nguyện yêu thương từ hai phía. Xét, mâu thuẫn giữa bà H và ông D đã trầm trọng không thể hàn gắn nên nguyện vọng của bà H xin được ly hôn với ông D là có cơ sở và được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung:

Căn cứ vào Giấy khai sinh (bản sao) số 378, quyển số 02/2002 ngày 26/9/2002 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho chị Trần Đặng Mỹ T và Giấy khai sinh (bản sao) số 455, quyển số 03/2013 ngày 09/8/2013 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho trẻ Trần Tấn P đã có đủ cơ sở thể hiện giữa bà Đặng Thị H và ông Trần Thăng D có 02 người con chung là chị Trần Đặng Mỹ T, sinh ngày 02/9/2002 và trẻ Trần Tấn P, sinh ngày 15/7/2013. Chị Trần Đặng Mỹ T đã trưởng thành.

Nay ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Trần Tấn P, bà đủ điều kiện kinh tế nuôi dưỡng nên không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét: Hiện nay, trẻ Trần Tấn P đang còn nhỏ nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Mặt khác, theo Đơn trình bày nguyện vọng của trẻ P, trẻ có nguyện vọng được ở với mẹ để mẹ trực tiếp nuôi dưỡng tốt hơn. Do vậy, bà H xin được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ P mà không yêu cầu ông D cấp dưỡng là ý chí tự nguyện của bà H, phù hợp với nguyện vọng của trẻ và không trái pháp luật nên có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3.3] Xét về ý thức trách nhiệm của ông Trần Thăng D đối với quan hệ hôn nhân và nuôi con chung theo yêu cầu khởi kiện của bà H:

Quá trình giải quyết tại Tòa án, ông Trần Thăng D đã vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Toà án tiến hành điều tra thu thập chứng cứ và tại phiên toà hôm nay, mặc dù Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho ông D. Theo kết quả xác minh của Toà án về chỗ ở hiện nay của ông Trần Thăng D tại Công an P1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện: ông Trần Thăng D hiện đang thực tế sinh sống tại địa phương. Như vậy, ông D biết rất rõ yêu cầu khởi kiện của bà H nhưng đã bỏ mặc, không quan tâm tới quan hệ hôn nhân với bà H và trách nhiệm nuôi dưỡng đối với con chung. Ông D đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại Toà để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của ông D.

Từ những nhận định tại mục [3.1], [3.2] nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà H được ly hôn với ông D và được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh.

[3.4] Về tài sản chung: Bà H trình bày hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[3.5] Về nợ chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về án phí: Bà Đặng Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Đặng Thị H.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị H được ly hôn với ông Trần Thăng D.
    • - Về con chung: Bà H và ông D có 02 con chung là Chị Trần Đặng Mỹ T, sinh ngày 02/9/9002 (đã trưởng thành) và trẻ Trần Tấn P, sinh ngày 15/07/2013.
    • Giao con chung là trẻ Trần Tấn P cho bà Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà H đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
    • Sau khi ly hôn, ông D có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, bà H và ông D được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
    • - Về tài sản chung: Ghi nhận bà H trình bày hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
    • - Về nợ chung: Ghi nhận bà H trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
  2. Về án phí:
  3. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Đặng Thị H phải đóng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0029081 ngày 01/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, bà H đã nộp đủ án phí.

    Việc thi hành án được thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Quyền kháng cáo:
  5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Đào

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND quận Bình Thạnh;
  • - THADS quận Bình Thạnh;
  • - Các đương sự;
  • - Uỷ ban nhân dân phường 12, quận Bình Thạnh;
  • - Lưu hồ sơ, VT.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 934/2024/HNGĐ-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 934/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger