Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 933/2023/HC-PT

Ngày 26 - 10-2023

V/v “Khiếu kiện quyết định xử phạt

vi phạm hành chính, quyết định giải

quyết tranh chấp đất đai, hành vi không

giải quyết khiếu nại”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười.

Ông Vũ Đức Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Ức Minh Thanh Thúy- Cán bộ Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cáo tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 358/2023/TLPT-HC ngày 01 tháng 6 năm 2023 về “khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, hành vi không giải quyết khiếu nại”.

Do bản án hành chính số 24/2023/HC- ST ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo,

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4228/2023/QĐPT-HC ngày 01 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Bà Lê Thị R, sinh năm: 1961; Địa chỉ: Ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, (vắng mặt).
  2. Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Võ Hồ Anh T, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Là người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện. (Văn bản ủy quyền ngày 16/8/2022), (có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Luật sư Phạm Thanh Đ – Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; (có mặt).

  3. Người bị kiện:
  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L; (vắng mặt).
  2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch UBND tỉnh L và UBND tỉnh L: Ông Phạm Vũ T1 - Chuyên viên Văn phòng UBND tỉnh L, (Văn bản cử người bảo vệ số 2751/UBND-NCTCD ngày 30/3/2022), (có mặt).

  3. Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An;
  4. Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An: Ông Nguyễn Văn S - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An. (Văn bản ủy quyền số 117/UBND-TNMT ngày 17 tháng 01 năm 2023); (có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND huyện Đ:

    Ông Huỳnh Văn C- Phó Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Đ, (có mặt).

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ủy ban nhân dân tỉnh L; (vắng mặt).
    2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: ông Phạm Vũ T1 - Chuyên viên Văn phòng UBND và HĐND tỉnh L, (Văn bản số 1337/UBND-NCTCD ngày 29/12/2021), (có mặt).

    3. Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

      Người đại diện hợp pháp của UBND xã M: Ông Nguyễn Minh P – Phó Chủ tịch UBND xã M. (vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt).

    4. Ông Ca Văn Ô, sinh năm: 1944; Địa chỉ: Số I ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, (vắng mặt).

Người kháng cáo: Bà Lê Thị R.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, người khởi kiện - bà Lê Thị R do ông Võ Hồ Anh T đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:

Hộ gia đình bà R là những người sử dụng diện tích đất 9.773m², tọa lạc tại ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An từ năm 1980. Quá trình sử dụng đất có phát sinh tranh chấp của ông Cao Văn Ô1. Sự việc đã được UBND các cấp giải quyết nhưng quyết định giải quyết xác định là đất công nên giao UBND xã M quản lý nhưng vợ chồng bà R vẫn chưa giao đất mà sử dụng cho đến nay.

Ngày 31/12/2020 Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành Quyết định xử phạt hành chính số 5040/QĐ-XPVPHC xử phạt bà R về hành vi chiếm đất với tổng số tiền phạt đến 69.000.000đ. Theo bà R Quyết định xử phạt của Chủ tịch UBND tỉnh L là không đúng, vì đất có nguồn gốc do bên chồng cho vợ chồng bà. Chồng bà tên Trương Văn D, sinh năm 1963 (đã chết). Các hộ đất liền kề cũng xác nhận việc này. Đất không phải của Nhà nước do UBND xã M quản lý. Bản án hành chính

phúc thẩm số 45/2013/HC-PT ngày 06/6/2013 của TAND tỉnh Long An xác định gia đình bà R không lấn chiếm đất của Nhà nước (dòng 9 – 12 trang 3) là tình tiết không phải chứng minh, có giá trị pháp lý.

Từ trước đến nay UBND xã M không canh tác hay sử dụng đất vào bất cứ mục đích gì, thời gian nào. UBND xã M chỉ quản lý đất theo dạng quản lý hành chính chung toàn xã, quản lý theo quyết định giải quyết tranh chấp đất đai. Gia đình bà canh tác đất có nộp thuế cho Nhà nước theo quy định UBND huyện Đ cũng thừa nhận việc này.

Bà R khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy Quyết định xử phạt hành chính số 5040/QĐ-XPVPHC ngày 31/12/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh L. Ngoài ra, bà Lê Thị R còn yêu cầu Tòa án xem xét lại quyết định giải quyết tranh chấp đất đai do UBND huyện Đ đã ban hành và xem xét hành vi của UBND tỉnh L về việc không giải quyết khiếu nại của gia đình bà R từ năm 2005.

Tại Văn bản số 7108/UBND-NCTCD ngày 19/7/2021, Văn bản số 8131/UBND - NCTCD ngày 13/8/2021, Văn bản số 13389/UBND – NCTCD ngày 29/12/2021 và Văn bản số 243/UBND-NCTCD ngày 11/01/2023, người bị kiện - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - UBND tỉnh L trình bày như sau:

  • Nguồn gốc đất và diễn biến:

Nguồn gốc đất chưa sử dụng do nhà nước quản lý từ năm 1975 đến năm 1987 không có ai sản xuất. Đến năm 1988, ông Trương Văn D (chồng bà Lê Thị R) đến đắp bờ bao chiếm phần đất này với diện tích 9.773m2 (theo số liệu bản đồ địa chính năm 2001) và đắp một nền nhà (mục đích cất chòi để trú ngụ khi canh tác nghỉ buổi trưa). Tuy nhiên, đất không có sản xuất và cũng không có cất nhà trên đất, ông Trương Văn D và vợ là bà Lê Thị R bỏ địa phương đi nơi khác sinh sống từ năm 1989. Năm 1995, ông Ca Văn Ô có đến gặp ông D1 là anh của ông D thương lượng trả 50.000 đồng tiền đào mương trước đây và sạ Đ1 - Xuân năm 1995- 1996. Thu hoạch xong, ông Ca Văn Ô chuẩn bị sản xuất vụ Hè - Thu năm 1996, ông D trở về địa phương tranh chấp không cho ông Ca Văn Ô sản xuất. Từ đó phát sinh tranh chấp đất.

  • Quá trình giải quyết và xử lý.

Ngày 13/7/1996, UBND xã M tổ chức hòa giải lần đầu với nội dung: Chia hai phần trong diện tích 9.773m2. Hai bên thống nhất chia làm hai mỗi người một nửa và thống nhất ký tên vào biên bản. UBND xã M căn cứ vào Biên bản hòa giải lập đề nghị UBND huyện ra Quyết định công nhận nội dung biên bản hòa giải thành.

Ngày 13/12/1997, UBND huyện Đ ra Quyết định số 246/QĐ.UB công nhận biên bản hòa giải thành ngày 13/7/1997 của UBND xã M. Sau khi công bố Quyết

định số 246/QĐ.UB ngày 13/12/1997 của UBND huyện Đ thì ông Trương Văn D không đồng ý khiếu nại về UBND tỉnh.

Ngày 25/6/1998, UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 1526/QĐ.UB về việc giải quyết khiếu nại của ông Trương Văn D ngụ tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An đã chuẩn y Quyết định số 246/QĐ.UB ngày 13/7/1997 của UBND huyện Đ. Khi Quyết định số 1526/QĐ.UB có hiệu lực pháp luật, ông D không giao đất và tiếp tục khiếu nại; phần đất này ông D tiếp tục sản xuất.

Năm 2004, UBND tỉnh L cử Đoàn phúc tra xem xét lại trường hợp khiếu nại của ông D và ông Ô đi đến kết luận: UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 4153/QĐ.UB ngày 11/10/2004 thu hồi Quyết định số 1526/QĐ.UB ngày 25/6/1998 của UBND tỉnh L và giao UBND huyện Đ ra Quyết định thu hồi Quyết định số 246/QĐ.UB ngày 13/12/1997 của UBND huyện Đ giao hồ sơ về xã tổ chức giải quyết lại vì đây là Quyết định hành chính.

Ngày 23/11/2004, UBND huyện Đ ra Quyết định số 1967/QĐ.UB thu hồi Quyết định số 246/QĐ.UB ngày 13/12/1997 của UBND huyện Đ về việc giải quyết đất giữa ông Ca Văn Ô với ông Trương Văn D; ngụ tại ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An giao cho UBND xã M tổ chức hòa giải lại.

Ngày 18/8/2005, UBND xã M tổ chức hòa giải lại, nhưng không thành.

Ngày 19/10/2006, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 2715/QĐ-UBND về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Ca Văn Ô với ông Trương Văn D diện tích đất tọa lạc tại ấp E, xã M, với nội dung: Bác đơn khiếu nại của ông Trương Văn D và ông Ca Văn Ô với lý do:

Đất hoang (đất chưa sử dụng) do nhà nước quản lý, ông Trương Văn D và ông Ca Văn Ô không đủ cơ sở chứng minh phần đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của hai ông. Giao diện tích đất 9.773m² cho UBND xã M quản lý, xem xét hộ nào đủ điều kiện sản xuất đề nghị UBND huyện Đ ra Quyết định giao đất hoặc cho thuê theo quy định của pháp luật hiện hành.

Ngày 03/11/2006, UBND xã M tiến hành công bố Quyết định số 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 của UBND huyện Đ về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Ca Văn Ô với ông Trương Văn D; đất tọa lạc tại ấp E, xã M. Sau khi nhận Quyết định số 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 của UBND huyện Đ về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Ca Văn Ô với ông Trương Văn D; đất tọa lạc tại ấp E, xã M. Ông Ca Văn Ô và ông Trương Văn D không có khiếu nại và khởi kiện tại TAND theo quy định của pháp luật, nên Quyết định số 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 của UBND huyện Đ về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Ca Văn Ô với ông Trương Văn D; đất tọa lạc tại ấp E, xã M đã có hiệu lực pháp luật để thi hành.

Ngày 15/9/2008, UBND xã M tiến hành cắm mốc xác định đất do Nhà nước quản lý tại diện tích đất 9.773m2; đất tọa lạc tại ấp E, xã M.

Ngày 06/3/2009, UBND xã M có biên bản làm việc với ông Trương Văn D về việc mất trụ mốc xác định ranh giới đất do nhà nước quản lý không Trương Văn D không thừa nhận việc phá bỏ trụ mốc giới.

Trong quá trình quản lý mốc giới không chặt chẽ thường xuyên bị phá bỏ không tìm được người nên ngày 20/9/2011, UBND xã M có Quyết định số 311/QĐ-UBND về việc thành lập Đoàn cắm mốc đất do Nhà nước quản lý. Đến ngày 22/9/2011, UBND xã M tiếp tục tiến hành cắm lại mốc giới xác định diện tích đất 9.773m2 đất tọa lạc tại ấp E, xã M do xã M quản lý.

Ngày 05/12/2013, Ủy ban nhân dân xã M ra Quyết định số 602/QĐ-UBND về việc thành lập Đoàn vận động ông Trương Văn D giao đất do nhà nước quản lý.

Vào các ngày 10/01/2014; 16/01/2014 và ngày 14/02/2014, UBND xã M có biên bản về việc vận động ông Trương Văn D giao đất do Nhà nước quản lý.

Ngày 31/7/2014, UBND xã M tiến hành cắm mốc thực địa đất do Nhà nước quản lý trong quá trình cắm mốc ông Trương Văn D có thái độ chống đối với Đoàn và xin thời hạn trong 03 tháng (90 mươi ngày) để ông cung cấp các loại giấy tờ chứng minh đây là đất của ông. Tuy nhiên, ông không chứng minh được các giấy tờ theo quy định của pháp luật.

Ngày 18/8/2014, UBND xã M ra Quyết định số 355/QĐ-UBND về việc thành lập Đoàn cắm mốc xác định ranh giới đất do nhà nước quản lý.

Ngày 18/8/2014, UBND xã M ra Quyết định số 432/QĐ-UBND về việc thành lập Tổ bảo vệ Đoàn cắm mốc xác định ranh giới đất do Nhà nước quản lý.

Ngày 18/8/2014, UBND xã M có Kế hoạch số 429/QĐ-UBND về việc cắm mốc xác định ranh giới đất do Nhà nước quản lý.

Thực hiện Quyết định số 355/QĐ-UBND về việc thành lập Đoàn cắm mốc xác định ranh giới đất do Nhà nước quản lý và Kế hoạch số 429/QĐ-UBND về việc cắm mốc xác định ranh giới đất do Nhà nước quản lý cùng ngày 18/8/2014, tại ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Ngày 21/8/2014, UBND xã M tiến hành lập Biên bản cắm mốc đất do Nhà nước quản lý. Trong quá trình cắm mốc ông Trương Văn D có thái độ chống đối và gây hư hỏng tài sản cho Đ2 cắm mốc.

Ngày 13/8/2015 UBND xã M lập biên bản về việc đề nghị ông Trương Văn D dừng việc sản xuất lúa trên phần đất công và tháo dỡ chuồng bò cất trái phép trên đất này.

Ngày 11/8/2019 ông Trương Văn D chết.

Vào các ngày 12/8/2020, ngày 14/8/2020 và ngày 04/11/2020, UBND xã M

có lập biên bản làm việc với bà Lê Thị R về hành vi lấn chiếm đất công.

Ngày 04/11/2020, công chức Địa chính xã M lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị R.

Căn cứ vào hồ sơ vi phạm hành chính của bà R, ngày 31/12/2020 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L ban hành Quyết định số 5040/QĐ-UBND về xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Lê Thị R.

Việc bà Lê Thị R khởi kiện Quyết định số 5040/QĐ-UBND ngày 31/12/2020 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L là không có căn cứ pháp lý, vì: Đất do UBND xã M quản lý; bà R cho rằng đất của bà nhưng không có giấy tờ vì chứng minh. Đề nghị TAND tỉnh Long An, bác yêu cầu khởi kiện của bà R, giữ nguyên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà R.

  • Về hành vi không giải quyết khiếu nại:

Tại thời điểm ông D khiếu nại năm 2006 thì trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định tại Điều 20 của Quyết định số 3065/QĐ-UBND ngày 02/8/2005 của UBND tỉnh L ban hành về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn tỉnh: “Sở T2 là cơ quan tiếp nhận và ban hành quyết định thụ lý đối với các trường hợp tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND tỉnh”. Hồ sơ cho thấy, ông D gửi đơn khiếu nại Quyết định số 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 của UBND huyện Đ và được Ban tiếp dân tỉnh hướng dẫn nhưng ông D không gửi đơn đến Sở T2 để được giải quyết theo quy định. Vì vậy, UBND tỉnh không giải quyết tranh chấp đất đai của ông Trương Văn D là đúng quy định pháp luật.

Tại Văn bản số 324/UBND-TCD ngày 07/02/2023, người bị kiện-UBND huyện Đ trình bày:

Năm 1996, ông D (chồng bà R) và ông Ô tranh chấp quyền sử dụng đất được UBND xã M tổ chức hoà giải lần đầu với nội dung chia hai phần trong diện tích 9.773m2. Hai bên thống nhất và đều ký tên vào biên bản, UBND xã M lập đề nghị UBND huyện ra Quyết định công nhận nội dung biên bản hòa giải thành. Ngày 13/12/1997, UBND huyện Đ ra Quyết định số 246/QĐ.UB công nhận biên bản hòa giải thành ngày 13/7/1997 của UBND xã M. Sau khi công bố quyết định thì ông D không đồng ý khiếu nại về UBND tỉnh.

Ngày 25/6/1998, UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 1526/QĐ.UB chuẩn y Quyết định số 246/QĐ.UB ngày 13/12/1997. Ông D không giao đất như thỏa thuận và tiếp tục khiếu nại. Ngày 11/10/2004, UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 4153/QĐ.UB nội dung thu hồi Quyết định số 1526/QĐ.UB ngày 25/6/1998 của UBND tỉnh L và giao UBND huyện Đ thu hồi Quyết định số 246/QĐ.UB ngày

13/12/1997 của UBND huyện Đ giao hồ sơ về xã tổ chức giải quyết lại vì đây là quyết định hành chính.

Ngày 23/11/2004, UBND huyện Đ ra Quyết định số 1967/QĐ.UB thu hồi Quyết định số 246/QĐ.UB ngày 13/12/1997 của UBND huyện Đ giao hồ sơ về xã. Ngày 18/8/2002, UBND huyện Đ tổ chức hòa giải lại nhưng không thành.

Ngày 19/10/2006, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 2715/QĐ-UBND về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông D và ông Ô, nội dung: Bác đơn ông D và ông Ô. Đất hoang (đất chưa sử dụng) do nhà nước quản lý, ông D và ông Ô không đủ cơ sở chứng minh phần đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của hai ông. Giao diện tích đất 9.773m2 cho UBND xã M quản lý, xem xét hộ nào đủ điều kiện sản xuất đề nghị UBND huyện Đ ra quyết định giao đất hoặc cho thuê theo quy định của pháp luật hiện hành.

Ngày 03/11/2006, UBND xã M tiến hành công bố quyết định 2715/QĐ-UBND. Sau đó, ông Trương Văn D không có khiếu nại hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định pháp luật nên Quyết định số 2715/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành.

Quan điểm UBND huyện Đ việc yêu cầu xem xét hủy Quyết định số 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 là đã hết thời hiệu khởi kiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan-UBND xã M do ông Nguyễn Minh P đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 19/10/2006, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 2715/QĐ-UBND về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông D và ông Ô, nội dung: Bác đơn ông D và ông Ô. Đất hoang (đất chưa sử dụng) do nhà nước quản lý, ông D và ông Ô không đủ cơ sở chứng minh phần đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của hai ông. Giao diện tích đất 9.773m2 cho UBND xã M quản lý, xem xét hộ nào đủ điều kiện sản xuất đề nghị UBND huyện Đ ra quyết định giao đất hoặc cho thuê theo quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, sau khi UBND xã công bố quyết định nêu trên thì ông D không giao đất mà phá bỏ các cột mốc đã cắm để canh tác. Năm 2019, ông D chết thì bà R là vợ ông D tiếp tục canh tác. Vào các ngày 12/8/2020, ngày 14/8/2020 và ngày 04/11/2020, UBND xã M có lập biên bản làm việc với bà Lê Thị R về hành vi lấn chiếm đất công.

Ngày 04/11/2020, công chức Địa chính xã M lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị R. Do xét thấy vụ việc vượt thẩm quyền nên UBND xã đã chuyển về UBND huyện giải quyết theo thẩm quyền. UBND xã M đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan-Ông Ca Văn Ô trình bày:

Việc tranh chấp đất đai giữa ông D và ông Ô đã được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết và ông Ô đã chấp hành xong. Nay bà Lê Thị R (vợ ông D) khởi kiện vụ án hành chính thì ông Ô không có ý kiến. Đề nghị Tòa án giải quyết đúng theo quy định pháp luật.

Tại bản án hành chính số 24/2023/HC- ST ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã tuyên xử:

Căn cứ Điều 3, Điều 30, Điều 32 và Điều 193 Luật Tố tụng hành chính 2015; Điều 38 và Điều 136 Luật Đất đai năm 2003; Điều 18, Điều 21, Điều 31 và Điều 40 Luật Khiếu nại;

Áp dụng Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị R về việc yêu cầu hủy Quyết định xử phạt hành chính số 5040/QĐ-XPVPHC ngày 31/12/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh L.
  2. Không chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện Lê Thị R về yêu cầu xem xét hành vi không thụ lý, giải quyết khiếu nại của UBND tỉnh L đối với khiếu nại của ông Trương Văn D.
  3. Không chấp nhận yêu cầu người khởi kiện Lê Thị R về yêu cầu xem xét hủy Quyết định 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 của UBND huyện Đ về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Ca Văn Ô và ông Trương Văn D.

Ngày 11/4/2023, bà R có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và cho rằng: Quyết định số 2715/2006/QĐ.UB ngày 19/10/2006 về việc giải quyết tranh chấp đất đai ban hành sai thẩm quyền vì tranh chấp đất có tài sản gắn liền và thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong trường hợp này là của Chủ tịch UBND huyện, người ký ban hành không phải là Chủ tịch UBND mà là Phó Chủ tịch UBND là không đúng. Về nội dung Quyết định số 2715/2006/QĐ.UB cũng sai vì đất do gia đình bà R khai hoang từ 1988; Quyết định 5040/QĐ-XPVPHC sai vi phạm thời hạn, nơi lập biên bản vi phạm hành chính không đúng. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà R.

Tại phiên tòa hôm nay, bà đại diện cho bà R vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Các bên đương sự trình bày tranh tụng:

Bà R trình bày: Đất có nguồn gốc của gia đình cha chồng bà R, diện tích đất của gia đình cha chồng bà R theo giấy thế chấp ngân hàng trước năm 1975 là 3ha, làm văn tự thế chấp tại ngân hàng T3, sau năm 1980 gia đình bà R sử dụng một phần trong tổng số 3 ha đất của gia đình nhà chồng bà R, có đóng thuế đất.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà R trình bày:

Quyết định số 2715/2006/QĐ.UB ngày 19/10/2006 sai cả về nội dung và hình thức. Tại thời điểm năm 2006 thì tranh chấp QSD đất có tài sản gắn liền với đất thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND, UBND không có thẩm quyền giải quyết. Trước khi có Quyết định số 2715/2006/QĐ.UB thì không có chứng cứ xác định diện tích đất trên là đất công, trước năm 1975 đất do nhà chồng bà R canh tác, từ năm 1975 đến 1980 đất không ai canh tác, vợ chồng bà R canh tác từ 1980 diện tích đất do vợ chồng bà R canh tác, sau đó tranh chấp với ông Ô. Quyết định 2175 nêu trên chưa được thi hành, ông D chưa giao đất cho UBND xã và thực tế UBND xã chưa quản lý, sử dụng đất, có biên bản vi phạm hành chính nhưng đã hết thời hiệu xử phạt, theo quy chế của UBND tỉnh thì Sở Tài nguyên môi trường chỉ là đầu mối thụ lý đơn giải quyết tranh chấp đất đai, trong khi ông D chỉ có đơn khiếu nại quyết định 2175 nhưng UBND tỉnh không thụ lý giải quyết.

Ông T đại diện bà R trình bày: Quyết định xử phạt hành chính số 5040 đã quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 04/11/2020 lập biên bản vi phạm hành chính nhưng ngày 28/12/2020 mới ra quyết định xử phạt. Trường hợp này không phải gia hạn để xác minh, gia hạn quá 30 ngày theo quy định.

Bà R trình bày: Bà có đóng thuế đất, không chiếm đất nhà nước.

Người bảo vệ quyền, lợi ích của UBND tỉnh trình bày: Đất tranh chấp giữa ông D và ông Ô không có tài sản gắn liên với đất và các bên không tranh chấp về tài sản, chỉ tranh chấp QSD đất, đất chưa có giấy chứng nhận QSD đất nên thẩm quyền giải quyết là của UBND, Quyết định 2175 của UBND huyện là đúng pháp luật.

Ông S trình bày: Ông D và ông Ô không tranh chấp tài sản trên đất, việc nộp thuế đất án sơ thẩm đã nhận định.

Ông T1 bảo vệ quyền lợi cho Chủ tịch UBND tỉnh trình bày: Việc ông D khiếu nại liên quan đến QSD đất. Theo quy chế của UBND tỉnh thì Sở TNMT là đơn vị được giao tiếp nhận đơn khiếu nại của ông D, Phòng tiếp công dân của UBND tỉnh đã hướng dẫn ông D đến Sở TNMT làm thủ tục giải quyết khiếu nại về tranh chấp đất nhưng ông D không thực hiện, không có việc UBND tỉnh không thụ lý giải quyết đơn khiếu nại của ông D.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Cấp phúc thẩm và người tham gia tố tụng thực hiện đúng các quy định tố tụng, không vi phạm.

Về nội dung kháng cáo: Đất bà R đang sử dụng là do lấn chiếm vì đất này nhà nước đã có quyết định 2715/QĐ-UBND huyện giao cho UBND xã M quản lý, sử dụng. Hành vi sử dụng đất trái phép của bà R là vi phạm hành chính, đã bị lập biên bản và bị xử phạt là đúng quy định, việc xử phạt hành chính nằm trong thời hạn theo quy định. Án sơ thẩm xét xử là có căn cứ. Bà R kháng cáo nhưng không có tình tiết gì mới. Đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]- Về nguồn gốc 9.773m² đất bà R đang sử dụng:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa hôm nay thể hiện: Nguồn gốc đất tranh chấp là do nhà nước quản lý từ năm 1975 đến năm 1987 đất không có ai sản xuất. Năm 1988, ông D - chồng bà R tự ý đến đắp bờ bao chiếm phần đất diện tích 9.773m² (theo số liệu bản đồ địa chính năm 2001) và đắp một nền cất chòi để trú ngụ buổi trưa, trên đất không cất nhà ở và không có công trình xây dựng khác trên đất. Sau đó vợ chồng ông Trương Văn D và bà Lê Thị R bỏ địa phương đi nơi khác sinh sống từ năm 1989, không sử dụng đất. Năm 1995, ông Ca Văn Ô có đến gặp ông D1 là anh của ông D thương lượng trả 50.000 đồng tiền đào mương trước đây của ông D để ông Ô được sạ vụ Đ1 - Xuân năm 1995- 1996, thu hoạch xong, khi ông Ô chuẩn bị sản xuất vụ Hè - Thu năm 1996, ông D trở về tranh chấp không cho ông Ô sản xuất.

Bà R trình bày đất tranh chấp có nguồn gốc cha mẹ bên ông D để lại nhưng bà R không có chứng cứ chứng minh, gia đình bà R cũng không có quá trình sử dụng, canh tác đất, không đăng ký, kê khai đất qua các thời kỳ.

Như vậy, gia đình bà R không có quá trình sử dụng, đăng ký đất, không có các giấy tờ về đất của chế độ cũ cũng như các giấy tờ về đất của nhà nước sau ngày 30/4/1975.

UBND huyện Đ đã ban hành Quyết định số 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 về giải quyết tranh chấp đất giữa ông D và ông Ô đã quyết định giao diện tích đất 9.773m² cho UBND xã M quản lý nên đất này thuộc QSD của nhà nước.

Xét kháng cáo của bà R thì thấy:

[2]- Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành các quyết định hành chính bị khởi kiện số 5040/QĐ-XPVPHC ngày 31/12/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh L và quyết định hành chính liên quan số 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 của UBND huyện Đ:

  • Đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 5040/QĐ-XPVPHC:

Ngày 03/11/2006, UBND xã M tiến hành công bố Quyết định số 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 của UBND huyện Đ về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Ca Văn Ô với ông Trương Văn D. Ông D được Ủy ban lập biên bản giao quyết định này, hai bên đồng ý ký tên. Quyết định số 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 của UBND huyện Đ đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy, gia đình ông D đã biết rõ diện tích đất 9.773m² do UBND xã M quản lý theo Quyết định số 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 của UBND huyện Đ, là đất của nhà nước.

Ông D, bà R sử dụng trái phép diện tích đất 9.773m² do UBND xã M quản lý theo Quyết định số 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 của UBND huyện Đ nên đã bị lập biên bản vi phạm hành chính vào ngày 27/7/2012 đối với ông D (chồng bà R). Sau khi ông D chết, bà R vẫn không thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp đất số 2715/QĐ-UBND của UBND huyện và tiếp tục canh tác nên bị UBND xã M tiếp tục lập biên bản vi phạm số 770/BB-VPHC ngày 04/11/2020 với hành vi lấn chiếm đất công là có căn cứ.

Ủy ban nhân dân xã M chuyển hồ sơ vụ việc theo thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính lên UBND huyện và UBND huyện có tờ trình để trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L đã tiến hành thẩm tra việc lập biên bản và làm các thủ tục theo quy định trước khi ra quyết định xử phạt là đúng thẩm quyền theo quy định Điều 68 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Do cần phải xác minh, làm rõ người lấn chiếm canh tác trên đất công nên việc lập biên bản tại trụ sở UBND xã M mà không lập tại nơi vi phạm là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định tại Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính. Theo mẫu biên bản vi phạm hành chính số 01 kèm theo Nghị định 97/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/8/2017 thì biên bản vi phạm có thể được lập tại nơi vi phạm hoặc tại trụ sở cơ quan làm việc của người có thẩm quyền lập biên bản.

Ngày 04/11/2020 UBND xã M lập biên bản vi phạm hành chính về quản lý đất đai đối với bà R. Ngày 31/12/2020 UBND tỉnh L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ đảm bảo về thời hiệu theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 4 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ. Thời hiệu xử phạt đối với lĩnh vực đất đai là 02 năm và thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính tại Điều 4 của Nghị định số 91/2019/NĐ-CP đã quy định: “b) Đối với hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện theo quy định thì thời hiệu được tính từ thời điểm người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm”. Do đó, Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Lê Thị R là cần thiết và còn trong thời hiệu xử phạt 02 năm.

Như vậy, trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành Quyết định số 5040/QĐ-XPVPHC ngày 31/12/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh L là đúng quy định của pháp luật.

  • Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành Quyết định số 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 của UBND huyện Đ:

Tranh chấp đất đai không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, không có tranh chấp tài sản trên đất thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND cấp huyện theo quy định tại Điều 136 Luật Đất đai năm 2003.

Trước khi ban hành Quyết định số 2715/QĐ-UBND, UBND huyện đã giao cho đơn vị chức năng là Phòng Tài nguyên và môi trường thẩm tra hồ sơ, trên cơ sở tờ trình số 154/TT.TNMT ngày 22/9/2006, UBND huyện ban hành Quyết định số 2715/QĐ-UBND là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

[3]- Về nội dung các quyết định hành chính bị khởi kiện số 5040/QĐ-XPVPHC ngày 31/12/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh L và quyết định hành chính liên quan số 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 của UBND huyện Đ:

  • Đối với quyết định hành chính bị khởi kiện số 5040/QĐ-XPVPHC ngày 31/12/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh L:

Diện tích đất 9.773m² do UBND xã M quản lý theo Quyết định số 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 của UBND huyện Đ. Sau khi có Quyết định số 2715/QĐ-UBND, từ năm 2008 đến năm 2014 UBND xã M đã có quyết định thành lập đoàn cắm mốc đất (BL: 101), nhiều lần tiến hành cắm mốc và thực hiện việc quản lý đất trên thực địa nhưng bị phá trụ mốc đất (BL: 98, 100, 104). UBND xã cũng nhiều lần làm việc, vận động ông D và gia đình giao đất cho nhà nước quản lý nhưng gia đình ông D không thực hiện, vẫn lấn chiếm đất nhà nước. Sau khi ông D chết thì bà R tiến tục chiếm đất do nhà nước quản lý và bị lập biên bản vi phạm hành chính. Do đó, Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành Quyết định xử phạt vị phạm hành chính số 5040/QĐ-XPVPHC ngày 31/12/2020 đối với bà R là đúng pháp luật.

  • Về nội dung Quyết định hành chính liên quan số 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 của UBND huyện Đ:

Gia đình bà R không có quá trình quản lý sử dụng đất, không đăng ký kê khai đất, không có chứng cứ chứng minh nguồn gốc đất là của gia đình, ông D chồng bà R chỉ đến đắp bờ bao chiếm đất của nhà nước từ năm 1988 mà không xin phép chính quyền, nhưng sang đến năm 1989 thì gia đình ông D cũng không sử dụng mà bỏ đi nơi khác sinh sống. Từ năm 1989 đến năm 1995 gia đình ông D, bà R không ai sử dụng, đến năm 1996 ông D mới về tranh chấp đất với ông Ô.

Như vậy, diện tích đất 9.773m² nêu trên là đất do nhà nước quản lý, thuộc loại đất chưa sử dụng, các bên chỉ tranh chấp QSD đất, không tranh chấp tài sản trên đất, thực tế trên đất không có tài sản gì gắn liền với đất nên UBND huyện ban hành quyết định giải quyết tranh chấp đất giữa ông D và ông Ô, theo đó xác định đất các bên tranh chấp là đất của nhà nước và giao cho UBND xã M quản lý là đúng pháp luật.

Như vậy, bà R lấn chiếm đất công nên bị xử phạt hành chính là đúng pháp luật. Án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà R là có căn cứ pháp luật.

Bà R kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không chấp nhận kháng cáo; giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm. Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.

[4]- Án phí:

- Bà R phải chịu án phí phúc thẩm nhưng được miễn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị R; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 24/2023/HC- ST ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An như sau:

Căn cứ: - Điều 38, 136 Luật Đất đai năm 2003, Điều 4 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ, Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị R về việc yêu cầu hủy Quyết định xử phạt hành chính số 5040/QĐ-XPVPHC ngày 31/12/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh L.
  2. Không chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện của bà Lê Thị R về yêu cầu xem xét hành vi không thụ lý, giải quyết khiếu nại của UBND tỉnh L đối với khiếu nại của ông Trương Văn D.
  3. Không chấp nhận yêu cầu người khởi kiện của bà Lê Thị R về yêu cầu hủy Quyết định số 2715/QĐ-UBND ngày 19/10/2006 của UBND huyện Đ, tỉnh Long An về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Ca Văn Ô và ông Trương Văn D.
  4. Về án phí: Bà phải chịu án phí sơ thẩm và phúc thẩm nhưng được miễn toán bộ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • – Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • – VKSNDCC tại thành phố Hồ Chí Minh (1);
  • – TAND tỉnh Long An (1);
  • – VKSND tỉnh Long An (1);
  • – Cục THADS tỉnh Long An (1);
  • – Các đương sự;
  • – Lưu: hồ sơ (1), VP(3) (UMTT);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa

(đã ký)

Nguyễn Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 933/2023/HC-PT ngày 26/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, hành vi không giải quyết khiếu nại

  • Số bản án: 933/2023/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, hành vi không giải quyết khiếu nại
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thị R kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Long An về “khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, hành vi không giải quyết khiếu nại”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Ronl; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 24/2023/HC- ST ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger