Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 932/2024/HS-PT

Ngày 25 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Điều Văn Hằng;

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Phan Nam;

Ông Bùi Anh Thắng.

- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Hương Thùy, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Tuyết Minh, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm - Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần - Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 1071/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 9 năm 2024, do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

* Bị cáo bị kháng cáo:

Họ và tên: Đặng Việt N, sinh ngày 29/6/1990 tại tỉnh Tuyên Quang; Nơi thường trú: Thôn K, xã L, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lái máy xúc; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960; có vợ là Đặng Thị Ái N1, sinh năm 1990 và có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 15/10/2023 bị Công an xã B, huyện S, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác. Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 12/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh T. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Việt N theo diện trợ giúp pháp lý: Bà Nguyễn Kim T - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

- Bị hại có kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn K, xã L, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 bị hại và 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 12/6/2023, Đặng Việt N sinh năm 1990 (trú tại Thôn K, xã L, huyện S, tỉnh Tuyên Quang) và ông Nguyễn Hoàng H2 (được N thuê đến sửa máy xúc tại nhà N) đi đến Quán bán hàng tạp hóa của bà Nguyễn Thị L ở cùng T1 để uống nước (Quán bán hàng gồm một phần diện tích gian bán mái phía trước Nhà ở và toàn bộ diện tích khu bán mái phía bên trái giáp Nhà ở). Đến nơi, N và ông H2 ngồi uống nước tại bộ bàn ghế đá kê trên hè nhà bà L; lúc này tại Quán bán hàng có anh Sái Bá H3 (trú tại Thôn C, xã T, huyện S), điều khiển xe ô tô tải đến giao hàng hoá cho bà L và các anh Nguyễn Văn C (trú tại Thôn T, xã M, huyện S); Lý Văn H4 (trú tại Thôn Đ, xã C, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang), là những người bốc xếp hàng hoá từ xe ô tô của anh H4 vào Quán cho bà L (anh H4 và bà L đang giao nhận 90 mặt hàng). Khi đang ngồi uống nước, N cầm 01 chiếc bật lửa gas màu xanh được để trên mặt bàn từ trước dùng châm thuốc lá hút, cùng lúc này N nhìn thấy bà L đang đứng rót xăng từ B nhựa màu xanh vào một cái chai nhỏ (bà L đứng cách chỗ N ngồi khoảng 01 m), thấy thế N hỏi hỏi trêu bà L “Giờ này vẫn rót xăng à”, bà L đáp “Giờ nào rót xăng chả được”, N nói tiếp “Tao đốt cho bây giờ”, đồng thời N dùng tay trái cầm chiếc bật lửa gas màu xanh đưa tới gần vòi bình xăng mà bà L đang cầm rót, khi cách khoảng 10 cm đến 20 cm, N sử dụng ngón tay cái gạt bánh răng của chiếc bật lửa gas, lập tức ngọn lửa bật lên và bén ngay vào vòi bình đựng xăng cháy bùng lên.

Khi thấy lửa bùng cháy, N đã cùng anh Sái Bá H3, Nguyễn Văn C, Nguyễn Hoàng H2 và một số người dân xung quanh dùng nước dập lửa, nhưng do lửa cháy quá to nên không dập được. Sau đó, lửa cháy lan ra toàn bộ Quán bán hàng và Nhà ở của bà L, làm thiệt hại toàn bộ hàng hoá và tài sản trong Quán bán hàng và trong Nhà ở (bao gồm cả số hàng hóa của anh Sái Bá H3 đang giao cho bà L tại Quán bán hàng). Ngoài ra, nhiệt và khói từ đám cháy còn bốc sang làm hư hỏng một phần mái công trình Nhà ở của ông Đặng Văn T2 (Nhà của ông T2 liền kề với Nhà bà L). Đến 17 giờ cùng ngày, N đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang tự thú về hành vi phạm tội của mình (tối cùng ngày vợ của N là chị Đặng Thị Ái N1 đưa cho bà L số tiền 3.000.000 đồng để tạm thời ổn định cuộc sống).

Trong các ngày 15 và 19/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T phối hợp với các cơ quan chuyên môn thực hiện kiểm tra hiện trạng tài sản bị thiệt hại của nhà bà Nguyễn Thị L và nhà ông Nguyễn Văn T3; tiến hành xác minh đối với các cá nhân, đơn vị phân phối hàng hóa cho bà L trước thời điểm xảy ra vụ hủy hoại tài sản và xác định: Có tổng cộng 927 loại tài sản, hàng hóa và công trình Nhà ở của gia đình bà L bị thiệt hại; bị cháy toàn bộ số tiền 60.000.000 đồng là tiền bà L bán thịt lợn, để tại Kệ ti vi trong Phòng khách (có Phụ biểu số 01 kèm theo). Anh Sái Bá H3 bị thiệt hại toàn bộ 90 mặt hàng đang giao cho bà L, nhưng chưa đưa Phiếu bán hàng và bà L chưa thanh toán tiền hàng cho anh H3 (có Phụ biểu số 02 kèm theo). Ông Đặng Văn T2 bị thiệt hại phần mái tôn, tường mặt trước tầng 1 công trình Nhà ở (có Phụ biểu số 03 kèm theo).

Như vậy, khoảng 16 giờ ngày 12/6/2023, mặc dù nhìn thấy rõ việc bà Nguyễn Thị L đang rót xăng từ bình vào chai, biết rõ xăng là chất dễ cháy, ý thức được hành vi châm lửa gần bình xăng sẽ xảy ra cháy và gây hậu quả nghiêm trọng (Quán tạp hoá của bà L có rất nhiều hàng hoá, đồ vật dễ cháy), nhưng Đặng Việt N vẫn cố tình trêu chọc bà L, dùng bật lửa gas châm lửa vào gần bình đựng xăng mà bà L đang cầm, gây ra vụ cháy làm thiệt hại 927 loại hàng hoá, tài sản trong Quán bán hàng, trong Nhà ở và 60.000.000 đồng tiền mặt của gia đình bà L, tổng giá trị tài sản bị thiệt là 1.839.742.550 đồng; gây thiệt hại 90 loại hàng hoá của anh Sái Bá H3 có trị giá là 32.492.000 đồng; gây thiệt hại một phần công trình Nhà ở và hạng mục liền kề của gia đình ông Đặng Văn T2, có trị giá là 21.090.000 đồng. Tổng giá trị tài sản do N hủy hoại là 1.893.324.550 đồng.

Về thu giữ vật chứng: Ngày 13/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định vụ việc xảy ra tại Nhà ở và Khu nhà bán mái để hàng hoá của gia đình bà Nguyễn thị L, đã phát hiện, thu giữ một số đồ vật của vụ cháy: Đế nhựa màu đỏ lẫn chất màu xanh trắng; Dây điện màu vàng cháy dở; Chất màu đen cháy dở có dính đầu khóa van xả bằng kim loại; Mảnh nhựa cháy đen lẫn các hạt thóc; Mẫu sản phẩm cháy màu đen; Mẫu tàn tro màu đen; Tàn tro than thu tại vị trí gần chân cầu thang Phòng khách.

Về kết luận giám định: Tại Kết luận giám định số 5314/KL-KTHS ngày 01/8/2023 của V Bộ C1, kết luận: Các mẫu Đế nhựa màu đỏ lẫn chất màu xanh trắng, dây điện vàng cháy dở; chất màu đen cháy dở có dính đầu khóa van xả bằng kim loại; mảnh nhựa cháy đen lẫn các hạt thóc; mẫu sản phẩm cháy màu đen; mẫu tàn tro màu đen đều tìm thấy cặn xăng.

Về định giá tài sản:

- Tại Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Tuyên Quang, kết luận:

+ Giá trị còn lại Công trình xây dựng (Nhà xây 2 tầng và hạng mục khác gắn liền, tại Thôn K, xã L, huyện S, tỉnh Tuyên Quang) của bà Nguyễn Thị L và ông Đặng Văn K, cùng trú tại Thôn K, xã L, huyện S là 387.320.000 đồng.

+ Phần ảnh hưởng phải sửa chữa Công trình xây dựng (Nhà xây 2 tầng và hạng mục khác gắn liền, tại Thôn K, xã L, huyện S, tỉnh Tuyên Quang) của ông Đặng Văn T2 và bà Bàn Thị T4 cùng trú tại Thôn K, xã L, huyện S là 21.090.000 đồng.

- Tại các Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 29/02/2024; số 20/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2024; số 12/KL-HĐĐGTS ngày 11/4 2024; số 13/KL-HĐĐGTS ngày 11/4/2024; số 16/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Tổng giá trị của 927 loại hàng hóa, tài sản của bà Nguyễn Thị L, là 1.392.422.550 đồng.

- Tại Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Tổng giá trị của 90 loại tài sản, hàng hóa của anh Sái Bá H3 là 32.492.000 đồng.

Tổng giá trị thiệt hại của các loại hàng hoá, tài sản là 1.833.324.550 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra các bị hại yêu cầu bị cáo Đặng Việt N bồi thường thiệt hại tài sản tương ứng tổng số tiền là 1.506.004.000 đồng (Trong đó, anh Sái Bá H3 yêu cầu bồi thường 32.492.000đồng; ông Đặng Văn T2 yêu cầu bồi thường 21.090.000 đồng; bà Nguyễn Thị L yêu cầu bồi thường 1.452.422.550 đồng). Ngoài ra, bà L còn yêu cầu bị cáo N phải chịu trách nhiệm chi phí để xây dựng lại căn nhà khác tương đương với giá trị căn nhà của gia đình bà bị hủy hoại.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Đặng Văn N2 đã khai khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh tại Biên bản ghi lời khai; Biên bản hỏi cung bị can; Kết luận giám định; Kết luận định giá tài sản; Lời khai của người bị hại, người làm chứng và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 37/CT-VKSTQ-P1 ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Đặng Việt N về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 4 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang quyết định:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Việt N phạm tội Hủy hoại tài sản.
  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 4 Điều 178; Điều 38; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Đặng Việt N 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 12/10/2023.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 357, 468, 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự.
    • - Ghi nhận bị cáo Đặng Việt N đã bồi thường cho bị hại Đặng Văn T2 số tiền 21.090.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại Đặng Văn T2.
    • - Công nhận sự thoả thuận giữa bị cáo Đặng Việt N với bị hại ông Sái Bá H3 như sau: Bị cáo Đặng Việt N có trách nhiệm trả cho ông Sái Bá H3 số tiền 32.492.000 đồng (Ba mươi hai triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn đồng). Chuyển trả cho bị hại Sái Bá H3 số tiền 32.492.000 đồng, số tiền bị cáo đã tác động gia đình nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang, theo Biên lai thu tiền số 0000075 ngày 09/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang.
    • - Công nhận sự thoả thuận giữa bị cáo Đặng Việt N với bị hại Nguyễn Thị L như sau: Bị cáo Đặng Việt N có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị L số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng), trừ đi số tiền bị cáo đã bồi thường trước là 53.000.000 đồng (Trong đó có 3.000.000 đồng bị cáo đã bồi thường và 50.000.000 đồng gia đình bị cáo đã nộp tại Cục Thi hành án tỉnh Tuyên Quang). Chuyển trả cho bị hại Nguyễn Thị L số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) bị cáo đã tác động gia đình nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang, theo Biên lai thu tiền số 0000074 ngày 09/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo Đặng Việt N còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị L số tiền 1.947.000.000 đồng ( Một tỷ chín trăm bốn bảy triệu đồng).

    Khoản tiền phải thi hành án, kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại là bà Nguyễn Thị L có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo N.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại giữ nguyên kháng cáo đề nghị tăng hình phạt với lý do 14 tháng sau khi xảy ra vụ án mà gia đình bị cáo vẫn chưa đền bù cho bị hại. Hiện nay bị hại vẫn phải đi thuê nhà, hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

Bị cáo N thành khẩn khai báo, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” là chính xác. Về mức hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đúng quy định pháp luật. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, mức án Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của Bản án sơ thẩm và kháng cáo của bị hại, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thấy có đủ căn cứ xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đặng Văn N2 phạm tội “Hủy hoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 178 Bộ luật Hình sự là chính xác, đúng người, đúng tội, không oan. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 08 năm tù về tội “Hủy hoạt tài sản” là không nhẹ. Do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ ngày 12/6/2023, tại Thôn K, xã L, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Đặng Việt N sinh năm 1990 (trú cùng thôn) mặc dù nhìn rõ việc bà Nguyễn Thị L (trú cùng thôn) đang rót xăng từ B đựng xăng vào chai nhỏ, biết rõ xăng là chất dễ cháy, ý thức được hành vi sử dụng lửa gần B đựng xăng sẽ xảy ra cháy và gây ra hậu quả nghiêm trọng, nhưng N vẫn cố tình trêu chọc, dùng bật lửa gas châm lửa vào gần B đựng xăng, gây ra vụ cháy làm thiệt hại 927 loại hàng hoá, tài sản trong Quán bán hàng, trong Nhà ở và tiền mặt của gia đình bà L; 90 loại hàng hoá của anh Sái Bá H3; gây thiệt hại một phần công trình Nhà ở và hạng mục liền kề của gia đình ông Đặng Văn T2 (ở liền kề với nhà bà L), tổng giá trị hàng hoá, tài sản bị thiệt hại là 1.893.324.550 đồng. Trong đó, gia đình bà L bị thiệt hại 1.839.742.550 đồng; anh H3 bị thiệt hại 32.492.000 đồng; gia đình ông T2 bị thiệt hại 21.090.000 đồng. Đặng Việt N sinh năm 1990 đã có hành vi hủy hoại tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản”. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo khoản 4 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

[2] Xét kháng cáo tăng hình phạt của bị hại:

Sau khi vụ án xảy ra, bị cáo đã ra tự thú. Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi của mình thể hiện sự ăn năn, hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình tích cực bồi thường cho các bị hại. Tại cấp sơ thẩm, gia đình bị cáo đã nộp bồi thường cho bị hại là bà Nguyễn Thị L tổng số tiền là 53.000.000 đồng. Đồng thời bị cáo đã bồi thường xong cho các bị hại là ông Đặng Văn T2, ông Sái Bá H3, và các bị hại này có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Với tính chất hành vi phạm tội nguy hiểm, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo N 08 năm tù về tội “Hủy hoạt tài sản” để có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung là phù hợp và đúng pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo nộp thêm 2.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho bị hại. Đồng thời, bị cáo không phải chịu thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mới để xem xét tăng hình phạt đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị hại đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

[3] Về án phí: Bị hại không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại là bà Nguyễn Thị L; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang:

    Áp dụng: khoản 4 Điều 178; Điều 38; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đặng Việt N 08 năm tù về tội “Hủy hoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 12/10/2023.

  2. Về án phí: Bị hại không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

    Xác nhận tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo đã bồi thường thêm cho bị hại 2.000.000 đồng theo Biên lai số 0000166 ngày 25/11/2024 tại Cục Thi hành án dân sư tỉnh Tuyên Quang.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Cục THADS tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Trại tạm giam Công tỉnh Tuyên Quang;
  • - Bị cáo (qua TTG);
  • - Những người tham gia tố tụng (theo địa chỉ);
  • - Lưu HSVA, P.HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Điều Văn Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 932/2024/HS-PT ngày 25/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hủy hoại tài sản (vụ án hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 932/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản (Vụ án hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger