|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 932/2024/DS-PT
Ngày: 18/11/2024
Về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Châu | |
| Các thẩm phán: | 1. Bà Nguyễn Thị Minh Phượng |
| 2. Bà Đặng Huyền Phương |
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Anh – Thư ký Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc – Kiểm sát viên.
Ngày 18/11/2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 776/2024/TLPT-DS ngày 11/10/2024, về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 3606/2024/DS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2817/2024/QĐPT-DS ngày 22/10/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1956;
Địa chỉ: Số 1, Đường B, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Minh H, sinh năm 1974; (có mặt)
Địa chỉ: Số E, Đường B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. -
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Số C, Đường D, Tổ A, Khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Hà Xuân T1 – Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. (có mặt)
Địa chỉ: Số D, Đường N, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. -
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1959 (có mặt)
Địa chỉ: Số I, Đường B, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Đ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ có ông Đỗ Minh H là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 04/01/2011, bà Nguyễn Thị Thanh T có vay của bà Đ số tiền 980.000.000 đồng và 3.500 USD, thời hạn vay 03 tháng, từ ngày 04/01/2011 đến 04/4/2011. Ngày 12/01/2011, bà T tiếp tục vay thêm số tiền 350.000.000 đồng, thời hạn 03 tháng, từ ngày 12/01/2011 đến ngày 12/4/2011. Khi vay hai bên không thỏa thuận trả lãi. Sau đó, bà T đã trả cho bà Đ 3.500 USD, còn nợ lại 1.330.000.000 đồng. Đến nay, bà T vẫn chưa trả cho bà Đ số tiền nợ trên. Bà Đ đã nhiều lần liên hệ với bà T yêu cầu trả nợ nhưng bà T trốn tránh, không thực hiện nghĩa vụ. Số tiền bà Đ cho bà T vay là tài sản chung của bà Đ và chồng là ông Nguyễn Hữu H1.
Do đó, bà Đ khởi kiện yêu cầu bà T trả số tiền nợ gốc là 1.330.000.000 đồng và tiền lãi trên số nợ gốc theo quy định của pháp luật, mức lãi suất 10%/năm, cụ thể như sau: Số tiền 980.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 05/4/2011 đến ngày xét xử, tạm tính đến ngày 05/5/2024, số tiền lãi là 1.277.000.038 đồng. Số tiền 350.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 12/4/2011 đến ngày xét xử, tạm tính đến ngày 10/5/2024, số tiền lãi là 456.085.000 đồng.
Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu nào khác.
*Tại Văn bản ý kiến ngày 02/7/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:
Bà T có góp vốn làm ăn chung và mua nhà đất tại số A Đường A, phường T, quận T, hiện đang tranh chấp tại Tòa án, chưa giải quyết xong. Trong quá trình góp vốn làm ăn chung, do bất cẩn nên đã ký nhầm vào 02 giấy mượn tiền của bà Đ. Thực tế, bà Đ không có chứng cứ chứng minh việc giao nhận tiền. Hơn nữa, các bên quen biết nhau từ năm 2009, đến năm 2011 thì tranh chấp nhà đất số A, Đường A, phường T, quận T tại Tòa án và đến trước khi phát sinh dịch Covid, bà T và bà Đ thường xuyên gặp nhau, trao đổi qua điện thoại nhưng chưa bao giờ bà Đ nhắc đến 02 giấy mượn tiền này. Hơn nữa, nếu bà T có mượn tiền thì đề nghị bà Đ cung cấp giấy giao nhận tiền, ai là người đã trả lại 3.500USD cho bà Đ vì bà T chưa bao giờ đưa tiền USD cho bà Đ.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà T đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không rõ lý do.
*Tại Văn bản trao đổi pháp lý ngày 26/6/2024, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Thứ nhất, đây chỉ là giấy mượn tiền giữa cá nhân nguyên đơn và bị đơn, không phải là hợp đồng vay tài sản như Tòa án nhận định.
Thứ hai, đề nghị Tòa án xem xét lại thời hiệu khởi kiện đối với các giấy mượn tiền này.
Thứ ba, nguyên đơn không cung cấp được giấy nhận tiền của bị đơn là điều bất hợp lý. Nguyên đơn và bị đơn thường xuyên liên lạc, trao đổi qua lại bằng điện thoại trong công việc làm ăn chung từ năm 2011 cho đến nay, đặc biệt là liên quan đến thửa đất tại số A Đường A, phường T, quận T, hiện Tòa án Nhân dân thành phố Thủ Đức đang thụ lý giải quyết số 309/2012/TLST-DS ngày 08/10/2012. Trong vụ án này, nguyên đơn là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không nói gì đến hai giấy mượn tiền này. Số tiền mà nguyên đơn đã đưa cho bị đơn trong vụ án thụ lý số 309/2012/TLST-DS ngày 08/10/2012 là 1.914.000.000 đồng, gần bằng với số tiền mượn trong hai giấy mượn tiền. Ban đầu, nguyên đơn yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán nhà đất với bị đơn nhưng về sau lại thay đổi yêu cầu độc lập, chỉ yêu cầu trả lại số tiền 1.914.000.000 đồng vì lúc này nguyên đơn đã có hai giấy mượn tiền do bị đơn đã ký nhầm. Hơn nữa, về hình thức, hai giấy mượn tiền này hoàn toàn giống nhau, đặc biệt là sai chính tả giống nhau, đề nghị Tòa án xác minh tính xác thực của hai giấy mượn tiền này.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu H1 trình bày:
Ngày 04/01/2011, bà T có vay của vợ chồng ông H1 số tiền 980.000.000 đồng và 3.500 USD, thời hạn vay 03 tháng, từ ngày 04/01/2011 đến 04/4/2011. Ngày 12/01/2011, bà T tiếp tục vay thêm số tiền 350.000.000 đồng, thời hạn vay 03 tháng, từ ngày 12/01/2011 đến ngày 12/4/2011. Sau đó, bà T đã trả cho bà Đ 3.500 USD, còn nợ lại 1.330.000.000 đồng. Đến nay, bà T vẫn chưa trả cho vợ chồng ông H1 số tiền nợ trên. Do đó, ông H1 yêu cầu bà T trả số tiền nợ gốc là 1.330.000.000 đồng và tiền lãi trên nợ gốc tính từ ngày 05/4/2011 đến ngày xét xử, thời gian 13 năm, lãi suất 10%/năm, số tiền lãi là 1.729.000.000 đồng. Đồng thời, ông H1 có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án.
*Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 3606/2024/DS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Đ.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị
Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Hữu H1 số tiền vay gốc còn nợ là 1.330.000.000 (Một tỷ ba trăm ba mươi triệu) đồng. - Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh T trả số tiền lãi tổng cộng là 1.765.852.666 (Một tỷ bảy trăm sáu mươi lăm triệu tám trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm sáu mươi sáu) đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 13/8/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ có đơn kháng cáo nội dung yêu cầu bà T phải trả tiền lãi đối với số tiền đã vay.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ ủy quyền cho ông Đỗ Minh H trình bày: Đề nghị sửa bản án sơ thẩm buộc phía bị đơn bà T phải trả cho nguyên đơn tổng cộng là 3.095.852.666 đồng (trong đó gồm số tiền gốc là 1.330.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 05/4/2011 đến ngày 06/8/2024 tổng cộng là 1.765.852.666 đồng). Vì đối với tiền lãi không tính thời hiệu khởi kiện và hết thời hạn thanh toán theo các giấy mượn tiền, nếu bị đơn không trả thì bị đơn phải chịu lãi theo quy định. Bà Đ không khởi kiện bà T từ năm 2014 cho đến năm 2023 vì bà T không có ở địa chỉ như giấy mượn tiền và bà T có thế chấp giấy chứng nhận cho bà Đ để gia hạn thời gian trả nợ nhưng nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh có thỏa thuận gia hạn như đã trình bày.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu H1 trình bày: Không có ý kiến tranh luận.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- + Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử tuyên bố nghị án, Thẩm phán chủ tọa, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- + Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Những người tham gia tố tụng đã được thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa;
- Về thời hạn kháng cáo:
[1] Ngày 06/8/2024, Tòa án Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm. Ngày 13/8/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đơn kháng cáo làm trong thời hạn luật định, là hợp lệ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
- Về thủ tục tố tụng:
[2] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ ủy quyền cho ông Đỗ Minh H có mặt; Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn xin vắng mặt; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu H1 có mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu bị đơn phải trả lãi đối với số tiền đã mượn 1.330.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận định: Căn cứ Giấy mượn tiền ngày 04/01/2011 và Giấy mượn tiền ngày 12/01/2011 đều do bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T ký xác nhận bên mượn tiền thể hiện nội dung “...Có mượn của chị: Nguyễn Thị Đ” nên có cở sở xác định nguyên đơn có cho bị đơn mượn số tiền 980.000.000 đồng và 3.500 USD vào ngày 04/1/2011, thời hạn mượn 03 tháng kể từ ngày 04/01/2011 đến ngày 04/4/2011 và mượn số tiền 350.000.000 đồng vào ngày 12/01/2011, thời hạn mượn 03 tháng kể từ ngày 12/01/2011 đến ngày 12/4/2011. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đ xác định đối với số tiền 3.500 USD bà T đã trả cho bà Đ nên bà Đ không tranh chấp số tiền 3.500 USD tại Giấy mượn tiền ngày 04/01/201 và bà T xác định từ ngày 04/01/2011 đến nay bà T chưa trả tiền gốc và tiền lãi theo thỏa thuận mượn tiền nói trên cho bà Đ nên xác định tính đến ngày 12/4/2024 bà T còn nợ bà Đ tổng cộng 1.330.000.000 đồng tiền gốc.
[4] Xét, nguyên đơn bà Đ khởi kiện tranh chấp hợp đồng mượn tiền nên xác định quyền và lợi ích của bà Đ bị bà T xâm phạm là kể từ ngày bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận mượn tiền ngày 04/4/2011 và ngày 12/4/2011 nhưng đến ngày ngày 05/4/2014 nguyên đơn không khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ theo giấy mượn tiền ngày 04/01/2011 là đã hết thời hiện khởi kiện và ngày 13/4/2014 nguyên đơn không khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ theo giấy mượn tiền ngày 12/01/2011 là đã hết thời hiệu khởi kiện kể từ tranh chấp hợp đồng mượn tài sản và tiền lãi phát sinh của 02 hợp đồng mượn tài sản nói trên theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định đối với tranh chấp hợp đồng mượn tài sản và yêu cầu trả lãi suất đối với số tiền bà T đã mượn của bà Đ vào năm 2024 đã hết thời hiệu khởi kiện theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của bị đơn là đúng quy định pháp luật.
[5] Căn cứ khoản 2 và 3 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, đòi lại tài sản. Vì vậy, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuy hết thời hiệu về tranh chấp hợp đồng vay tài sản nhưng bà Đ có quyền khởi kiện yêu cầu bà T trả lại số tiền đã cho bà T mượn là yêu cầu bị đơn trả lại cho nguyên đơn là tài sản thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn và nguyên đơn có quyền yêu cầu đòi lại tài sản theo quy định tại khoản 2 và 3 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, đòi lại tài sản của nguyên đơn như Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định là đúng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp vay tài sản là chưa chính xác nên cấp phúc thẩm cần điều chỉnh lại quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp đòi lại tài sản” như đã nhận định trên cho phù hợp luật định, Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[6] Đối với trình bày của nguyên đơn về việc không thực hiện việc khởi kiện do bà T có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để gia hạn thời gian trả nợ, vì không xác định định nơi cư trú của bị đơn nên không thực hiện việc khởi kiện từ năm 2014 đến năm 2022 nhưng phía nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh về việc nguyên đơn có khởi kiện bị đơn theo địa chỉ của bị đơn ghi trong giấy mượn tiền và các bên có thỏa thuận thế chấp thêm giấy chứng nhận quyền sử dụng vào năm 2014 để gia hạn thời gian trả nợ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà nguyên đơn xuất trình không phải đứng tên chủ sử dụng là bà T, không có người đúng tên trên Giấy chứng nhận ký bảo lãnh cho thời gian gia hạn trả nợ, không có thỏa thuận ba bên nên lời khai của phía nguyên đơn là không có sở chấp nhận. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[7] Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ sở, được Hội dồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận.
[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ được miễn án phí dân sự phúc thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 3606/2024/DS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ và bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Thị Minh P + Đặng Huyền P1 | Trần Thị Quỳnh C |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Quỳnh Châu
Nơi nhận:
- - Tòa án Nhân dân Tối cao;
- -TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- - VKSND Tp.HCM;
- - TAND thành phố Thủ Đức;
- - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
Bản án số 932/2024/DS-PT ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 932/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kết luận vụ án
