|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:931/2024/DS-ST | |
| Ngày: 30-9-2024 | |
| V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Huyền Minh
Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Phạm Thị Nhung
- 2. Ông Nguyễn Đình Thức
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 611/2023/DSST ngày 10 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1113/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1369/2024/QĐST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H
Địa chỉ: B Bis N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Lăng T (Theo Giấy ủy quyền số 353/2023/UQ-HDB ngày 19/9/2023) – Có mặt
- Bị đơn:
Ông Nguyễn Vũ S, sinh năm: 1963 – Có mặt
Bà Trần Thị Kim H, sinh năm: 1962 – Vắng mặt
Cùng địa chỉ: E L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/9/2023 của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Lăng T - người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (Sau đây gọi là H2) đã cho ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H vay tiền theo Hợp đồng tín dụng số 10274/21MN/HĐTD ngày 19/3/2001; số 30638/21MN/HĐTD ngày 19/7/2021; số 31393/22MN/HĐTD ngày 25/7/2022; Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng ngày 16/6/2022 như sau:
- - Số 10274/21/MN/HĐTD/KUNN01, ngày giải ngân 23/3/2021, ngày đến hạn 23/3/2036, lãi suất 13.5%/năm, số tiền giải ngân 1.000.000.000 đồng;
- - Số 30638/21MN/HĐTD/KUNN01, ngày giải ngân 21/7/2021, ngày đến hạn 21/7/2036, lãi suất 13.5%/năm, số tiền giải ngân 1.500.000.000 đồng;
- - Số 31393/22MN/HĐTD/KUNN01, ngày giải ngân 25/7/2022, ngày đến hạn 25/7/2023, lãi suất 13.4%/năm, số tiền giải ngân 1.250.000.000 đồng;
- - Thẻ tín dụng ngày 16/6/2022: lãi suất 28%/năm, số tiền giải ngân 300.000.000 đồng.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay cho cá Hợp đồng tín dụng nêu trên: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 124, tờ bản đồ số 117 tọa lạc tại số E L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 309/2004 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 16/02/2004 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H.
Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 10404/18MN/HĐBĐ ngày 25/6/2018 công chứng tại Văn phòng C; giao dịch được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định pháp luật; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 10404/18MN/HĐBĐ/PL01 ngày 19/3/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 10404/18MN/HĐBĐ/PL02 ngày 19/7/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 10404/18MN/HĐBĐ/PL03 ngày 25/7/2022.
Thực hiện theo thỏa thuận của các hợp đồng đã ký, H3 đã giải ngân đủ số tiền vay cho ông S bà H. Tuy nhiên, sau đó ông S bà H đã không trả khoản nợ gốc và lãi đúng hạn, gây thiệt hại cho Ngân hàng.
Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nợ nhưng ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng dẫn đến vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo các Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng đã ký.
Đến ngày 14/9/2023, ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền của 04 hợp đồng trên là 4.513.790.863 đồng, trong đó:
- + Nợ gốc: 3.680.955.259 đồng;
- + Lãi trong hạn: 377.514.247 đồng;
- + Lãi quá hạn: 63.217.720 đồng.
- + Nợ thẻ tín dụng: 392.103.637 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Buộc ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H phải thanh toán ngay một lần toàn bộ nợ gốc và lãi cho H2 theo các hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày 14/9/2023 là 4.513.790.863 đồng, trong đó:
- + Nợ gốc: 3.680.955.259 đồng;
- + Lãi trong hạn: 377.514.247 đồng;
- + Lãi quá hạn: 63.217.720 đồng;
- + Nợ thẻ tín dụng: 392.103.637 đồng.
- - Buộc ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H phải thanh toán phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại từ ngày 01/10/2024 theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- - Trường hợp ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho H2, Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: E L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H thì ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
Bị đơn – ông Nguyễn Vũ S trình bày: Ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H xác nhận có ký vay ngân hàng TMCP P theo các Hợp đồng tín dụng số 10274/21MN/HĐTD ngày 19/3/2001; số 30638/21MN/HĐTD ngày 19/7/2021; số 31393/22MN/HĐTD ngày 25/7/2022; Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng ngày 16/6/2022 như phía nguyên đơn trình bày là đúng. Xác nhận tính đến ngày 14/9/2023, ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền của 04 hợp đồng trên là 4.513.790.863 đồng, trong đó: Nợ gốc: 3.680.955.259 đồng; lãi trong hạn: 377.514.247 đồng; lãi quá hạn: 63.217.720 đồng. Nợ thẻ tín dụng: 392.103.637 đồng.
Hiện tại do điều kiện kinh tế của ông đang khó khăn nên ông đề nghị được trả hết số nợ trên trong thời hạn 06 tháng. Ông đồng ý phát mãi tài sản thế chấp nếu ông và bà H không trả được nợ.
Bị đơn - bà Trần Thị Kim H đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án không lấy được lời khai cũng như không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Ông Trần Lăng T trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 30/9/2024 là: 5.344.965.170 đồng, trong đó: nợ gốc là 3.962.227.275 đồng, nợ lãi là 1.382.737.895 đồng. Đồng thời ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại các Hợp đồng đã ký.
Trường hợp ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho H2, Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản gắn liền với đất tại số E L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H thì ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
- Bị đơn - ông Nguyễn Vũ S trình bày: Xác nhận vay ngân hàng TMCP P theo các Hợp đồng tín dụng số 10274/21MN/HĐTD ngày 19/3/2001; số 30638/21MN/HĐTD ngày 19/7/2021; số 31393/22MN/HĐTD ngày 25/7/2022; Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng ngày 16/6/2022 như phía nguyên đơn trình bày là đúng. Xác nhận tính tới ngày 30/9/2024, ông và bà H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là: 5.344.965.170 đồng, trong đó: nợ gốc là 3.962.227.275 đồng, nợ lãi là 1.382.737.895 đồng. Hiện tại điều kiện kinh tế của ông đang khó khăn nên ông đề nghị được trả hết số nợ trên trong thời hạn 06 tháng. Ông đồng ý phát mãi tài sản thế chấp nếu ông và bà H không trả được nợ.
- Bị đơn - bà Trần Thị Kim H vắng mặt không có lý do chính đáng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng qui định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97, Điều 171, Điều 173, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- + Về nội dung: Căn cứ vào các Hợp đồng được ký kết giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H là hoàn toàn tự nguyện. Ông S và bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán được các bên thỏa thuận trong hợp đồng là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó yêu cầu của Ngân hàng là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí đề nghị tính theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định vụ án trên là tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Do bị đơn là ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H1 trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục xét xử vắng mặt: Bị đơn bà Trần Thị Kim H mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P cầu ông S bà H thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 30/9/2024 là: 5.344.965.170 đồng, trong đó: nợ gốc là 3.962.227.275 đồng, nợ lãi là 1.382.737.895 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ, bao gồm: Hợp đồng tín dụng số 10274/21MN/HĐTD ngày 19/3/2001; số 30638/21MN/HĐTD ngày 19/7/2021; số 31393/22MN/HĐTD ngày 25/7/2022; Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng ngày 16/6/2022 xác định giữa Ngân hàng và ông S bà H đã giao kết các hợp đồng tín dụng. Do ông S và bà H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo cam kết nên Ngân hàng chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, đồng thời làm đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân quận Tân Phú là có căn cứ. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền còn thiếu tính đến ngày 30/9/2024 là 5.344.965.170 đồng, trong đó: nợ gốc là 3.962.227.275 đồng, nợ lãi là 1.382.737.895 đồng là phù hợp với các điều khoản các bên đã thoả thuận trong hợp đồng, có căn cứ, không trái luật nên có cơ sở để chấp nhận.
[2.2] Xét về mức lãi suất, phí và các chi phí khác Ngân hàng yêu cầu bị đơn phải chịu, Hội đồng xét xử xét thấy:
Các bên đã thoả thuận về mức lãi suất và ghi nhận tại Hợp đồng tín dụng số 10274/21MN/HĐTD ngày 19/3/2001; số 30638/21MN/HĐTD ngày 19/7/2021; số 31393/22MN/HĐTD ngày 25/7/2022; Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng ngày 16/6/2022. Việc thỏa thuận về mức lãi suất của các bên là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu bị đơn thanh toán tiền gốc và lãi.
[2.3] Về thời hạn và phương thức thanh toán:
Xét thấy do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong hợp đồng nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ làm một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở để chấp nhận. Kể từ ngày 01/10/2024, ông S và bà H còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng số 10274/21MN/HĐTD ngày 19/3/2001; số 30638/21MN/HĐTD ngày 19/7/2021; số 31393/22MN/HĐTD ngày 25/7/2022; Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng ngày 16/6/2022 cho đến khi ông S và bà H thanh toán xong khoản nợ.
[2.4] Về yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ:
Xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 10404/18MN/HĐBĐ ngày 25/6/2018 công chứng tại Văn phòng C; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 10404/18MN/HĐBĐ/PL01 ngày 19/3/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 10404/18MN/HĐBĐ/PL02 ngày 19/7/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 10404/18MN/HĐBĐ/PL03 ngày 25/7/2022 đã được ký giữa các bên. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu: Nếu ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì H2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông S bà H theo Hợp đồng thế chấp số 10404/18MN/HĐBĐ ngày 25/6/2018 và các hợp đồng sửa đổi, bổ sung để thu hồi nợ
theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ cho Ngân hàng là phù hợp với Điều 299, Điều 317, Điều 320 và Điều 321 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H thì ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
Trường hợp ông S bà H đã thanh toán tất cả các khoản nợ thì Ngân hàng TMCP Phát triền Thành phố H phải hoàn trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 309/2004 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 16/02/2004 cho ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú là có cơ sở nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí.
Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí 56.256.896 đồng cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000211 ngày 10/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Điều 351, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H
Buộc ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H số tiền còn nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 10274/21MN/HĐTD ngày 19/3/2001; số 30638/21MN/HĐTD ngày 19/7/2021; số 31393/22MN/HĐTD ngày 25/7/2022; Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng ngày 16/6/2022 tính đến ngày 30/9/2024 là: 5.344.965.170 đồng, trong đó: nợ gốc là 3.962.227.275 đồng, nợ lãi là 1.382.737.895 đồng.
Thời hạn thanh toán: Một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 01/10/2024, ông S và bà H còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng số 10274/21MN/HĐTD ngày 19/3/2001; số 30638/21MN/HĐTD ngày 19/7/2021; số 31393/22MN/HĐTD ngày 25/7/2022; Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng ngày 16/6/2022 cho đến khi ông S và bà H thanh toán xong khoản nợ.
Trường hợp ông S bà H không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 124, tờ bản đồ số 117 tọa lạc tại số E L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 309/2004 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 16/02/2004 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 10404/18MN/HĐBĐ ngày 25/6/2018 công chứng tại Văn phòng C; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 10404/18MN/HĐBĐ/PL01 ngày 19/3/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 10404/18MN/HĐBĐ/PL02 ngày 19/7/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 10404/18MN/HĐBĐ/PL03 ngày 25/7/2022 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Trong trường hợp nếu phát mại tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì ông S, bà H tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng.
Nếu ông S, bà H đã thanh toán tất cả các khoản nợ thì Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H hoàn trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 309/2004 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 16/02/2004 cho ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí.
Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí 56.256.896 đồng cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000211 ngày 10/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Chi phí tố tụng (định giá, xem xét thẩm định tại chỗ):
là 5.000.000 đồng do ông Nguyễn Vũ S và bà Trần Thị Kim H chịu và hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H.
4. Quyền kháng cáo:
Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H, ông Nguyễn Vũ S được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Trần Thị Kim H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Thị Huyền Minh |
Bản án số 931/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 931/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
