|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 931/2024/HS-PT Ngày: 26-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Cúc
Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai (tại điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh với điểm cầu Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang) vụ án hình sự thụ lý số: 358/2024/TLPT- HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Lương Minh H.
Do có kháng cáo của bị cáo Lương Minh H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tạ Thu T đối với Bản án hình sơ thẩm số: 11/2024/HS-ST ngày 19-3-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 939/2024/QĐXXPT-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lương Minh H, sinh ngày 02/12/1984, tại tỉnh Hậu Giang.
Nơi cư trú: ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp trước khi phạm tội: công chức (Chấp hành viên Chi cục Thi hành án huyện Phụng Hiệp); Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Minh H1 (chết) và bà Nguyễn Thị Hồng N; Bị cáo có vợ là chị Nguyễn Hồng P (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2016; Tiền sự: không; Tiền án: không.
Nhân thân: ngày 10/7/2021, bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 16/6/2023 của Toà án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, bị cáo bị xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hiện nay bị cáo đang chấp hành hình phạt của bản án này tại Trại giam K1, Cục C, Bộ C1. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Lê Ngô Phương T1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
- Bị hại:
- Đỗ Thị H2, sinh năm 1984. Nơi cư trú: số A, khu dân cư I, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
- Đỗ Hồng Q, sinh năm 1952. Nơi cư trú: số A, khu dân cư I, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Trường V, sinh năm 1984. Nơi thường trú: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Nơi ở hiện tại: khu V, khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ; (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1985. Nơi thường trú: ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Nơi ở hiện tại: số D, khu dân cư số I, đường C, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
- Ông Võ Văn T2, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
- Bà Lê Thị H3, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
- Bà Võ Thị Kim D, sinh năm 1983. Nơi cư trú: ấp N, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
- Ông Hồ Thanh M, sinh năm 1974. Nơi cư trú: số E, đường D, khu dân cư H, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
- Bà Tạ Thu T, sinh năm 1989. Nơi thường trú: số E, đường D, khu dân cư H, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Nơi ở hiện nay: đang chấp hành án tại Trại giam L, Cục C, Bộ C1 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1962. Nơi thường trú: ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Nơi ở hiện nay: D, đường D, khu dân cư E, khu vực T, phường P, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
- Bà Võ Thị Mỹ N1, sinh năm 1966. Nơi ở hiện nay: D, đường D, khu dân cư E, khu vực T, phường P, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
- Lê Minh H4, sinh năm 1977. Nơi cư trú: khu vực 5, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
- Bà Tạ Thu T, sinh năm 1989. Nơi thường trú: số E, đường D, khu dân cư H, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Nơi ở hiện nay: đang chấp hành án tại Trại giam L, Cục C, Bộ C2 (vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có kháng cáo: bà Tạ Thu T
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Minh H là Chấp hành viên của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, được phân công tổ chức thi hành án theo Quyết định số 100/QĐ-CCTHADS ngày 01/11/2018 của Chi cục THADS huyện P theo đơn
yêu cầu liên quan đến vụ việc vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T3 và bà Võ Thị Mỹ N1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ (P1) số tiền là 685.327.396 đồng. Trường hợp ông T3, bà N1 không trả tiền đúng hạn thì sẽ phát mãi tài sản bảo đảm. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Lương Minh H lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình có nhiều hành vi làm trái công vụ nhằm chiếm đoạt tài sản của các đương sự. Cụ thể như sau:
Năm 2010, ông Võ Văn T2 và bà Lê Thị H3 cư trú tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang đã chuyển nhượng 12.340,3 m² đất tại các thửa 460, 467, 610, 569, tờ bản đồ số 5, thuộc xã T, huyện P cho vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T3 và bà Võ Thị Mỹ N1 ở số D đường D, KDC 586 khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. Ngày 17/02/2011, ông T3, bà N1 đã thế chấp các thửa đất trên làm tài sản đảm bảo để vay Ngân hàng PV C3 số tiền 350.000.000 đồng. Năm 2014, do không trả được nợ, Ngân hàng P1 đã khởi kiện vợ chồng ông T3, bà N1 đến TAND quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Ngày 20/8/2014, Toà án nhân dân quận Cái Răng ra Quyết định số 58/2014/QÐST- DS, buộc ông Nguyễn Ngọc T3, bà Võ Thị Mỹ N1 phải trả nợ cho Ngân hàng P1 và vụ việc được ủy thác đến Chi cục THADS huyện P để thi hành án.
Ngày 05/11/2018, tại Chi cục THADS huyện P, Lương Minh H đã làm việc với ông Nguyễn Ngọc T3 và ông Võ Văn T2. Thống nhất việc ông T3 sẽ làm thủ tục chuyển nhượng lại các thửa đất trên cho gia đình ông Võ Văn T2 và gia đình ông T2 có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng P1 thay vợ chồng ông T3. Ông Võ Văn T2 đồng ý với đề nghị của ông Nguyễn Ngọc T3.
Đầu năm 2020, vợ chồng ông Võ Văn T2, bà Lê Thị H3 gặp Nguyễn Trường Vở ấp C, xã T, huyện P nhờ giúp đỡ tìm người mua các thửa đất phải thi hành án trên. Do có mối quan hệ với Lương Minh H, V gặp H và hai bên thỏa thuận tiền công môi giới là 2% trên tổng số tiền bán được đất. Sau đó, V nhờ Nguyễn Văn K ở số D, KDC số I, đường C, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ tìm người mua đất. V thống nhất với K mỗi người sẽ được tiền hoa hồng là 1% trên tổng số tiền bán được đất. Khoảng đầu tháng 02/2020, K giới thiệu bà Đỗ Thị H2 và ông Đỗ Hồng Q mua các thửa đất này.
Ngày 10/02/2020, các ông bà Đỗ Thị H2, Đỗ Hồng Q, Nguyễn Trường V và Nguyễn Văn K đến Chi cục THADS huyện P gặp Lương Minh H. Tại đây, H đã trao đổi, thống nhất giúp bà H2 mua 6000 m² đất trong các thửa đất đang phải thi hành án với giá là 1,2 tỷ đồng và nộp tiền thành 03 đợt, mỗi đợt 400 triệu đồng. Ngay lúc đó, bà H2 nộp luôn số tiền 400 triệu đồng, H nhận tiền và ký “Biên bản về việc giải quyết việc thì hành án”, xác nhận việc đã nhận tiền của bà H2.
Ngày 14/02/2020, Lương Minh Hcùng bà Đỗ Thị H2, Nguyễn Trường V tổ chức đi xem các thửa đất tại xã T, huyện P nhưng không cho gia đình ông Võ Văn T2, bà Lê Thị H3 tiếp xúc với bà H2. Sau đó, tại quán cà phê gần UBND xã T, bà H2 nộp cho H số tiền 400 triệu đồng, H tiếp tục ký “Biên bản về việc giải quyết việc
thi hành án”, xác nhận việc đã nhận tiền đợt 2 của bà H2.
Ngày 16/6/2021, Lương Minh Hvà Nguyễn Văn Kđến nhà yêu cầu bà Đỗ Thị H2 đưa thêm số tiền 50 triệu đồng để làm nhanh thủ tục chuyển nhượng đất và H lại ký “Biên bản về việc giải quyết việc thi hành án” xác nhận việc nhận số tiền này.
Sau khi nhận của bà Đỗ Thị H2 tổng số tiền là 850 triệu đồng và ký xác nhận vào “Biên bản về việc giải quyết việc thi hành án”, Lương Minh H không nộp tiền vào tài khoản hoặc quỹ tiền mặt của cơ quan, không báo cáo Lãnh đạo Chi cục THADS huyện P, không thông báo cho ông Nguyễn Ngọc T3 và Ngân hàng C3 biết việc bà H2 đã nộp tiền mua đất thi hành án mà chiếm đoạt sử dụng cá nhân.
Tại Bản kết luận giám định tài liệu số 90/KL-GĐKTHS(P11) ngày 08/5/2023 của Phòng Giám định KTHS, Bộ Q1 kết luận: Toàn bộ chữ viết phần nội dung và chữ ký, chữ viết ghi họ tên “Lương Minh H” dưới mục: “Chấp hành viên”, “Ngày 14/02/2020 nhận đợt hai: 400 triệu” và “16/6/021 nhận 50.000.000” đã nêu trên “Biên bản về việc giải quyết việc thi hành án” đề ngày 10/02/2020 với chữ ký, chữ viết của Lương Minh H trên các tài liệu mẫu so sánh là chữ ký, chữ viết của cùng một người.
Quá trình điều tra, Lương Minh H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Về việc sử dụng số tiền 850 triệu đồng chiếm đoạt của bà H2, H khai: cho Nguyễn Trường V vay số tiền 100 triệu đồng và nhờ V chuyển số tiền 30 triệu đồng để hỗ trợ tháo dỡ, di dời nhà đất cho gia đình ông Võ Văn T2, bà Lê Thị H3: cho ông Hồ Thanh M (Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện P) và bà Tạ Thu T (vợ ông M) vay số tiền 280 triệu đồng, cho Nguyễn Văn K số tiền 05 triệu đồng; nhiều lần chuyển vào tài khoản của chị Võ Thị Kim D (con gái ông T2, bà H3), tổng số tiền là 145 triệu đồng để hỗ trợ gia đình ông T2, bà H3 di chuyển nhà, còn lại số tiền 290 triệu đồng, H đã tiêu xài cá nhân.
Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết quả điều tra xác định được:
- Đối với Nguyễn Văn K, Nguyễn Trường V là những người giới thiệu để bà Đỗ Thị H2, ông Đỗ Hồng Q gặp Lương Minh H làm thủ tục đăng ký mua đất thi hành án. K được H cho số tiền 05 triệu đồng. V được H cho vay số tiền 100 triệu đồng và nhờ V chuyển số tiền 30 triệu đồng cho ông Võ Văn T2, bà Lê Thị H3 để hỗ trợ di chuyển nhà. K và V không biết đây là tiền H đã chiếm đoạt của bà H2 liên quan đến vụ việc thi hành án. K, V tự nguyện giao nộp lại số tiền trên.
- Đối với ông Hồ Thanh M (Chi cục trưởng THADS huyện P) và bà Tạ Thu T được Lương Minh H cho vay số tiền 280 triệu đồng. Kết quả điều tra xác định đây là việc vay nợ cá nhân giữa H và ông M, bà T không liên quan đến hành vi phạm tội H, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm Hình sự.
- Đối với ông Nguyễn Ngọc T3, bà Võ Thị Mỹ N1: không được Lương Minh H thông báo, trao đổi về việc đã có người mua đất phải thi hành án đứng tên ông T3, bà N1; không biết việc bà Đỗ Thị H2 là người đã đăng ký đất nên Cơ quan điều tra không đề cập xem xét trách nhiệm.
- Đối với ông Võ Văn T2, bà Lê Thị H3, chị Võ Thị Kim D: Do gia đình ông bà vẫn sinh sống và canh tác trên các thửa đất trên nên đã nhận nhiều lần qua tài khoản cá nhân với tổng số tiền là 173 triệu đồng từ Lương M1 trong (H chuyển trực tiếp số tiền 145 triệu; Nguyễn Trường V chuyển số tiền 28 triệu đồng để hỗ trợ di dời nhà đất. Cơ quan điều tra yêu cầu nộp lại số tiền này, ông T2, bà H3, chị D đều đồng ý sẽ nộp lại số tiền này nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên chưa có tiền nộp.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Đỗ Thị H2, ông Đỗ Hồng Q yêu cầu bị cáo Lương Minh H hoàn trả số tiền 850.000.000 đồng đã nộp.
Đồ vật liên quan đến vụ án đã thu giữ: Cơ quan điều tra đã thu giữ được tổng số tiền là 155.000.000 đồng, gồm: Nguyễn Trường V tự nguyện nộp trả lại số tiền 100 triệu đồng Nguyễn Văn K tự nguyện nộp trả lại số tiền 5.000.000 đồng Lương Minh H4 (anh ruột của H) nộp khắc phục số tiền 50.000.000 đồng.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 11/2024/HS-ST ngày 19-3-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, đã tuyên xử:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 355; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lương Minh H phạm tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.
Xử phạt bị cáo Lương Minh H 12 (mười hai) năm tù.
Tổng hợp hình phạt với Bản án số 35/2023/HS-ST ngày 16/6/2023 của Toà án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành của 02 bản án là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn được tính từ ngày 16/6/2023, được khấu trừ thời gian đã bị bắt từ ngày 20/10/2022 đến ngày 16/01/2023.
Căn cứ Điều 41; khoản 5 Điều 355 của Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung, cấm bị cáo Lương Văn H5 đảm nhiệm chức vụ, làm công việc liên quan đến hoạt động Thi hành án dân sự trong thời hạn 02 (hai) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Về vật chứng: Tiếp tục tạm giữ số tiền 155.000.000đ (một trăm năm mươi lăm triệu đồng). Giao Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang có trách nhiệm quản lý số tiền tạm giữ theo quy định của pháp luật để đảm bảo thi hành án (theo biên lai thu tiền số 0000111 ngày 13/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang).
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sư, các điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Lương Minh H hoàn trả cho bà Đỗ Thị H2, ông Đỗ Hồng Q số tiền 850.000.000đ (tám trăm năm mươi triệu đồng). Bị cáo được khấu trừ 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng), tiền gia đình bị cáo do ông Lương Minh H6 nộp khắc phục hậu quả thay; được khấu trừ 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), tiền do
ông Nguyễn Trường V nộp và 5.000.000đ (năm triệu đồng), tiền do ông Nguyễn Văn K nộp. Tổng cộng là 155.000.000đ (một trăm năm mươi lăm triệu đồng). Số tiền này hiện đang được quản lý tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang khi thi hành án.
Buộc ông Hồ Thanh M, bà Tạ Thu T liên đới hoàn trả cho bị cáo Lương Minh H số tiền 280.000.000đ (hai trăm tám mươi triệu đồng).
Buộc ông Võ Văn T2, bà Lê Thị H3 và chị Võ Thị Kim D liên đới hoàn trả cho bị cáo Lương Minh H số tiền 173.000.000đ (một trăm bảy mươi ba triệu đồng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án.
- Buộc bị cáo Lương Minh H chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 31.800.000đ (ba mươi mốt triệu tám trăm nghìn đồng), tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Buộc ông Hồ Thành M2, bà Tạ Thu T chịu 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng), tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Buộc ông Võ Văn T2, bà Lê Thị H3 và chị Võ Thị Kim D chịu 8.650.000đ (tám triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 27/3/2024, bị cáo Lương Minh H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 21/3/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Tạ Thu T kháng cáo về án phí dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Lương Minh H vẫn giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh:
Về kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo Lương Minh H: Bị cáo lợi dụng chức vụ là chấp hành viên để chiếm đoạt số tiền 850.000.000đ của người bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo hết các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo 12 năm tù là không nặng. Nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Về kháng cáo của bà Tạ Thu T: Số tiền 280.000.000đ là số tiền có liên quan trực tiếp đến tội phạm do đó Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Tạ Thu T và ông Hồ Thanh M phải liên đới trả lại là có căn cứ. Đây là số tiền truy thu do phạm tội mà có nên không phải chịu án phí nhưng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bà T và ông M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là không có căn cứ. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bà T về án phí.
Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình có công với cách mạng, tự nguyện cam kết sẽ bồi thường cho người bị hại, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về thủ tục tố tụng:
- Xét kháng cáo của bị cáo Lương Minh H và kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Tạ Thu T là trong hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- Xét bà Tạ Thu T có kháng cáo, nhưng không có mặt tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ vào Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn xét kháng cáo của bà T theo thủ tục chung.
* Về nội dung:
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lương Minh H, thấy rằng:
- Tại phiên Tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như sau: Bị cáo là chấp hành viên của Chi cục thi hành án dân sự của huyện P, tỉnh Hậu Giang, lợi dụng vào vị trí công tác ngày 10/02/2020, bị cáo đã chiếm của ông bà Đỗ Thị H2 và ông Đỗ Hồng Q số tiền 400.000.000đ; Ngày 14/02/2020, bị cáo chiếm đoạt của bà H2, ông Quân số tiền 400.000.000đ; Ngày 16/6/2021, bị cáo chiếm đoạt thêm của bà H2, ông Quân số tiền 50.000.000đ.
- Xét lời khai thừa nhận nêu trên của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Hành vi này của bị cáo đã cấu thành tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.
- Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy Nhà nước, làm mất lòng tin của người dân đối với cơ quan hành chính của Nhà nước. Bị cáo nhân thân xấu nên cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Do đó Tòa án sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản Điều 355 của Bộ luật Hình sự; áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động với gia đình tự nguyện nộp 50.000.000 đồng khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng, xử phạt bị cáo 12 năm tù là có căn cứ, không nặng.
- Bị cáo 03 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại, mỗi lần thực hiện hành vi đều đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng việc bị cáo nhận tiền chiếm đoạt của bị hại làm 03 lần là khách quan do bị hại H2 không đồng ý giao một lần, là có thiếu sót. Tuy nhiên, do không có kháng cáo, kháng nghị tăng hình phạt, mặt khác Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 12 năm tù là phù hợp không nhẹ, nên chỉ nêu ra để rút kinh nghiệm.
- Bị cáo Lương Minh H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận
- Xét kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Tạ Thu T về dân sự và án phí dân sự sơ thẩm, thấy rằng:
- Trong số tiền 850.000.000đ bị cáo Lương Minh H chiếm đoạt của người bị hại, bị cáo có dùng số tiền 280.000.000đ (hai trăm tám mươi triệu đồng) để cho ông Hồ Thanh M, bà Tạ Thu T vay và 173.000.000đ (một trăm bảy mươi ba triệu đồng) hỗ trợ cho ông Võ Văn T2, bà Lê Thị H3 và chị Võ Thị Kim D trả di dời nhà.
- Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc những người người liên quan nêu trên phải trả lại cho bị cáo số tiền nêu trên để bị cáo thi hành số tiền bị cáo phải bồi thường cho người bị hại là có căn cứ. Tuy nhiên, đây là số tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm do phạm tội mà có, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự thì phải truy thu để trả lại cho người bị hại không phải chịu án phí nhưng Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông M, bà T phải liên đới chịu 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng); ông T2, bà H3 và chị D liên đới chịu 8.650.000đ (tám triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm là không phù hợp với quy định của pháp luật, nên kháng cáo của bà Tạ Thu T về án phí là có căn cứ chấp nhận.
- Ông T2, bà H3 và chị D tuy không có kháng cáo, kháng nghị về án phí dân sự sơ thẩm nhưng việc sửa lại bản án sơ thẩm về phần án phí dân sự sơ thẩm như đã nêu trên không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng trong vụ án, nên cần sửa án phí đối với số tiền bị truy thu nêu trên cho ông T2, bà H3 và chị D.
- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo Lương Minh H; Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Tạ Thu T về án phí, sửa một phần bản án sơ thẩm là có căn cứ.
- Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ.
- Án phí phúc thẩm:
Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bà Tạ Thu T không phải chịu.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 351; Điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Minh H.
Chấp nhận một phần kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Tạ Thu T.
Sửa một phần Bản án Hình sự sơ thẩm số: 11/2024/HS-ST ngày 19-3-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang về án phí dân sự sơ thẩm.
Tuyên bố: Bị cáo Lương Minh H phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 355; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lương Minh H 12 (mười hai) năm tù.
- Tổng hợp hình phạt nêu trên của Bản án này với hình phạt của Bản án số 35/2023/HS-ST ngày 16/6/2023 của Toà án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, buộc bị cáo phải chấp hành của 02 bản án là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án là ngày 16/6/2023, được khấu trừ thời gian đã bị bắt từ ngày 20/10/2022 đến ngày 16/01/2023 (của Bản án số 35/2023/HS-ST ngày 16/6/2023).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức án phí, lệ phí tòa án.
* Án phí sơ thẩm:
- - Buộc bị cáo Lương Minh H chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 31.800.000đ (ba mươi mốt triệu tám trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Ông Hồ Thành M2, bà Tạ Thu T không phải chịu 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Ông Võ Văn T2, bà Lê Thị H3 và chị Võ Thị Kim D không phải chịu 8.650.000đ (tám triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
* Án phí phúc thẩm:
- - Buộc bị cáo Lương Minh H chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.
- - Trả lại cho bà Tạ Thu T số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, theo Biên lai thu số: 0000231 ngày 17/5/2024 của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hậu Giang.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 931/2024/HS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 931/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Minh H phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 355 BLHS 2015
