|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 93/2023/HS-ST Ngày: 30/10/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Dũng
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Nguyệt Mai
Ông Lâm Văn Vô
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Dần – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2023/HSST ngày 04/10/2023, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Kim C (tên gọi khác: P), sinh năm 1963, (Không rõ nơi sinh);
giới tính: Nữ; Thường trú: Không nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T (đã chết) và bà: Trương Thị N (đã chết); Có chồng nhưng không đăng ký kết hôn; Có 03 người con, một người sinh năm 1995, hai người con còn lại không rõ năm sinh; Tiền án: Ngày 29/10/2021 bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”; Tiền sự không.
Nhân thân: Ngày 24/3/1980 bị Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Qua xác minh không rõ hình thức xử lý; Ngày 09/7/1996 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 22/7/1997 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của hai bản án là 36 tháng tù (Ngày 04/7/1998, bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã thi hành xong tiền án phí); Ngày 08/11/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Ngày 29/9/2013 bị cáo chấp hành xong bản án. Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh chưa nhận bản án nên chưa ra quyết định thi hành án khoản chủ động buộc bị cáo nộp 200.000₫ án phí sơ thẩm); Ngày 04/01/2017 bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 02 năm 03 tháng tù về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Trốn khỏi nơi giam, giữ” ( Ngày 15/9/2018 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí sơ thẩm); Ngày 09/12/2020 bị Công an P1, Quận E bắt về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2023 (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
- - Bà Đặng Thị Thùy L, sinh năm 1997 (vắng mặt)
- Địa chỉ: C T, Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- - Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1979 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp E xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 40 phút ngày 07/5/2023, Nguyễn Thị Kim C vào Bệnh viện N2 tại địa chỉ số G V, Phường A, Quận E tìm người có sơ hở tài sản để trộm cắp. Khi đi đến phòng 615, lợi dụng lúc thân nhân người bệnh đã ngủ say, C một mình lén lút mở cửa đi vào phòng 615 khoa nhi D. Kho vào phòng, C thấy chị Nguyễn Thị Kim H và chị Đặng Thị Thùy L đang nằm ngủ tại phòng, có để 02 điện thoại di động ở đầu nằm. Lúc này Chỉ dùng tay phải lấy trộm điện thoại di động hiệu Realme RMX3085 của chị H và điện thoại di động iPhone 11 Promax (phía sau ốp lưng có 4.400.000đ) của chị L. Sau khi lấy được tài sản, C cầm 02 điện thoại mở cửa đi ra khỏi phòng 615 thì bị chị Lê Thị Trúc N1 (là nhân viên điều dưỡng của bệnh viện) thông qua Camera an ninh tại phòng trực của Bệnh viện phát hiện việc C lấy trộm 02 điện thoại nên truy hô và được anh Nguyễn Văn T1 hỗ trợ bắt giữ C cùng tang vật đưa về trụ sở Công an P2, Quận E lảm rõ.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Kim C không hợp tác làm việc, không ký vào các biên bản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 cùng công an P2, Quận E tiến hành lập biên bản ghi nhận đới với sự việc C không ký vào các biên bản làm việc.
Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 57/KL-HĐĐGTS ngày 09/5/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận E có kết quả định giá như sau: Điện thoại di động hiệu Realme RMX3085-8GB, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 80%, giá 1.800.000đồng/chiếc; Điện thoại di động iPhone 11 Promax-64GB, màu đen, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 80% giá 8.000.000đ/chiếc.
Vật chứng: 01 USB chứa dữ liệu Camera ghi nhận việc Nguyễn Thị Kim C thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; Số tiền 4.400.000đ; 01 điện thoại Nokia 105 màu đen; 01 áo khoác màu đen và 01 mắt kính; 02 điện thoại là tài sản bị C chiếm đoạt.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhân lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.
Bản cáo trạng số: 84/CT-VKSQ5 ngày 02/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Thị Kim C đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Realme RMX3085-của chị H và 01 điện thoại di động iPhone 11 Promax (phía sau ốp lưng có 4.400.000đ) của chị L. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là là 14.200.000đ (mười bốn triệu, hai trăm nghìn đồng). Nguyễn Thị Kim C có
tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 51/2021/HS-ST ngày 29/10/2021 của Tòa án nhân dân Quận 5 và tại bản án này đã xác định hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Mặc dù trước phiên tòa, bị cáo không hợp tác làm việc, không ký vào các biên bản, không thành khẩn khai báo nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim C về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim C với mức án từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị Kim C đã có hành vi lén lút trộ cắp 01 điện thoại di động hiệu Realme RMX3085-của chị H và 01 điện thoại di động iPhone 11 Promax (phía sau ốp lưng có 4.400.000đ) của chị L. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là là 14.200.000đ (mười bốn triệu, hai trăm nghìn đồng). Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Kim C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, Nguyễn Thị Kim C có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và bản án này đã xác định hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”.
Xét bị cáo là người có sức khỏe, có đủ khả năng nhận biết được hành vi của mình, biết hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Bị cáo vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội đồng thời đủ sức răn đe đối với những người khác có hành vi tương tự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim C là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[8] Về xử lý vật chứng:
01 Điện thoại di động hiệu Realme RMX3085 của chị H và điện thoại di động iPhone 11 Promax (phía sau ốp lưng có 4.400.000đ) của chị L là tài sản mà bị cáo chiếm đoạt và hiện nay đã trả lại cho người bị hại nên Tòa không xét.
01 điện thoại Nokia 105 màu đen là tài sản cá nhân của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
01 áo khoác màu đen và 01 mắt kính là tài sản cá nhân của bị cáo sử dụng lúc phạm tội và hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
01 USB chứa dữ liệu Camera ghi nhận việc Nguyễn Thị Kim C thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Xét đây là vật chứng ghi lại thời điểm xảy ra vụ án, do đó cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là bà Nguyễn Thị Kim H và bà Đặng Thị Thùy L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu nên Tòa không xét
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim C 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2023.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Nokia 105 (điện thoại tắt nguồn, không rõ tình trạng hoạt động).
Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen, 01 mắt kiếng.
Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu Camera ghi nhận việc Nguyễn Thị Kim C thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/9/2023 giữa Công an Q1 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quang Dũng |
Bản án số 93/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 93/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim C 03 (ba) năm tù về tội "Trộm cắp tài sản"
