|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG Bản án số: 93/2024/DS-ST Ngày 30/7/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Thanh Liêm;
- Bà Lê Hiếu Xuyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 276/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Bùi Văn B - Chức vụ: Trưởng phòng Kiểm soát rủi ro - Chi nhánh T1 - Ngân hàng thương mại cổ phần S; địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy uỷ quyền số 201/2023/GUQ-CNTT ngày 05/4/2023). (Có mặt).
* Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng N, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông Bùi Văn B là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng T2 (sau đây viết tắt là Ngân hàng) trình bày như sau:
Giữa ông Nguyễn Trọng N với Ngân hàng thương mại cổ phần S có ký các hợp đồng tín dụng như sau:
1. Ngày 22/10/2020, ông Nguyễn Trọng N có đến Ngân hàng thương mại cổ phần S - Chi nhánh Trung tâm - Phòng G (viết tắt là Ngân hàng) ký hợp đồng tín dụng số [...] để vay số tiền 5.000.000.000đồng. Sau khi ký hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân cho ông N vay số tiền 5.000.000.000đồng theo Giấy nhận nợ số LD2029600602 cùng ngày 22/10/2020. Mục đích vay: Nhận chuyển nhượng bất động sản tại 8 K, Khu phố A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời hạn vay 240 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên 22/10/2020. Lãi suất 06 tháng đầu tiên: 12%/ năm, lãi suất từ tháng thứ 07 kể từ ngày giải ngân đầu tiên, lãi suất của toàn bộ số dư nợ vay được điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở tương ứng theo kỳ hạn vay được S1 niêm yết tại www.S1.com.vn điểm điều chỉnh cộng biên độ 5,1%/năm, định kỳ điều chỉnh 03 tháng/ lần; lãi suất từ tháng thứ 61 kể từ ngày giải ngân đầu tiên, lãi suất của toàn bộ số dư nợ vay được điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở tương ứng theo kỳ hạn vay được S1 niêm yết tại www.S1.com.vn thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 5,6%/năm, định kỳ điều chỉnh 03 tháng/ lần.
Để đảm bảo cho khoản tiền vay, ông N có ký hợp đồng thế chấp số 003090 ngày 05/02/2021 với Ngân hàng để thế chấp bất động sản tại thửa đất số 523, tờ bản đồ số 100, địa chỉ 8 K, Khu phố A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên đã được công chứng tại Phòng Công chứng số 4 Thành phố H ngày 05/02/2021, số công chứng 003090. Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 08/02/2021 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận B.
Ngày 08/12/2022, do ông N vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
2. Ngày 26/11/2021, ông N có ký với Ngân hàng hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Cùng ngày 26/11/2021, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 150.000.000đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Ngày 15/09/2022, căn cứ theo đề nghị và thu nhập của ông N, Ngân hàng đồng ý nâng hạn mức thẻ tín dụng lên
600.000.000đồng. Dựa trên hạn mức tín dụng mà Ngân hàng đã cấp, ông N thực hiện đăng ký vay tiêu dùng trên ứng dụng Sacombank Pay (viết tắt là Sacombank P) vào ngày 06/01/2022 với số tiền 150.000.000 đồng (Khoản vay TD (356480 - 3360)) và ngày 25/9/2022 số tiền 150.000.000 đồng (Khoản vay TD (211251 - 8039)) với mục đích tiêu dùng cá nhân. Tình hình giao dịch của ông N như sau:
- - Thẻ tín dụng VISA, số thẻ 472074 - 4279, giao dịch với số tiền 350.925.827đồng, lãi 185.308.025đồng, phí (phí trễ hạn, phí vượt hạn mức, phí khác) là 5.436.662đồng;
- - Khoản vay TD (211251 - 8039): Số tiền giao dịch 150.000.000đồng, lãi 65.047.950đồng, phí (phí trễ hạn, phí vượt hạn mức, phí khác) là 716.000đồng, đã thanh toán được 5.966.690đồng;
- - Khoản vay TD (356480 - 3360): Số tiền giao dịch 150.000.000đồng, lãi 56.894.850đồng, phí (phí trễ hạn, phí vượt hạn mức, phí khác) là 1.746.250đồng, đã thanh toán được 53.869.184đồng;
Ngày 12/10/2022, ông N bắt đầu thanh toán trễ hạn thẻ tín dụng Visa (472074 - 4279) nên ngày 10/03/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ Visa (472074 - 4279) và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Đến ngày 25/12/2022, ông N bắt đầu thanh toán trễ hạn khoản vay tiêu dùng trên S2 nên ngày 25/03/2023, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến hết ngày 29/7/2024, ông N còn nợ các khoản vay tín dụng như sau:
- - Khoản vay từng lần: Ông N còn nợ số tiền vốn là 4.498.400.000 đồng, lãi trong hạn là 1.149.920.003 đồng và lãi quá hạn là 120.598.405 đồng.
- - Đối với thẻ tín dụng (472074 - 4279), nợ gốc là: 303.106.830 đồng, lãi quá hạn là 170.271.894 đồng;
- - Khoản vay TD (211251 - 8039): Nợ gốc là 155.549.310 đồng, lãi quá hạn là 89.354.088 đồng;
- - Khoản vay TD (356480 - 3360): Nợ gốc là 114.752.066 đồng, lãi quá hạn là 41.199.096 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu buộc ông Nguyễn Trọng N phải trả số tiền tổng cộng tính đến hết ngày 29/7/2024 là 6.643.151.692 đồng (bằng chữ: Sáu tỷ sáu trăm bốn mươi ba triệu một trăm năm mươi mốt nghìn sáu trăm chín mươi hai
đồng) trong đó:
- - Nợ gốc: 5.071.808.206 đồng (Bằng chữ: Năm tỷ không trăm bảy mươi mốt triệu tám trăm lẻ tám nghìn hai trăm lẻ sáu đồng);
- - Lãi trong hạn: 1.149.920.003 đồng (Bằng chữ: Một tỷ một trăm bốn mươi chín triệu chín trăm hai mươi nghìn không trăm lẻ ba đồng);
- - Lãi quá hạn: 421.423.483 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm hai mươi mốt triệu bốn trăm hai mươi ba nghìn bốn trăm tám mươi ba đồng).
Và lãi phát sinh của các khoản tín dụng nêu trên từ ngày 30/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng và các Phụ lục hợp đồng tín dụng (nếu có), Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), Bản điều khoản và điều kiện vay tiêu dùng trên ứng dụng S1.
Trong trường hợp ông N không trả được nợ, cho phát mãi ngay toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo mà không đủ trả số tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn, chi phí Tòa án, chi phí phát mãi tài sản (nếu có) thì ông Nguyễn Trọng N có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu. Buộc ông Nguyễn Trọng N phải chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ án phí, phí thi hành án và các chi phí phát sinh có liên quan.
* Bị đơn ông Nguyễn Trọng N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc cũng như vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.
* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu:
Trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật theo Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đã vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 317, 318, 320, 463, 466 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Các chức tín dụng năm 2010 tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả
cho Ngân hàng số tiền vốn, lãi tính đến ngày 29/7/2024. Tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo cho việc thi hành án. Bị đơn phải nộp án phí, chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Nguyễn Trọng N có địa chỉ tại khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về thủ tục tố tụng:
Tại hợp đồng tín dụng số [...] ngày 22/10/2020, Hợp đồng thế chấp tài sản số 003090 ngày 05/02/2021 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng mà ông Nguyễn Trọng N ký kết với Ngân hàng thương mại cổ phần S - Chi nhánh Trung tâm - Phòng G ghi rõ địa chỉ của ông Nghĩa 1 ấp (nay là khóm) Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang. Đồng thời, ông N có cung cấp bản sao giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu kèm theo hồ sơ vay để chứng minh địa chỉ đăng ký thường trú là địa chỉ được ghi tại hợp đồng. Theo kết quả xác minh của Công an thị trấn N thể hiện ông N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang. Khi Toà án tống đạt các văn bản tố tụng, ông N vắng mặt tại địa phương do đó căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017, Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn tiến hành tống đạt bằng thủ tục niêm yết và tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Bị đơn ông N đã được triệu tập hợp lệ nhưng ông N vắng mặt không có lý do tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt
ông Nghĩa 1 phù hợp với qui định pháp luật tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, để làm rõ khoản nợ nêu trên Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông N đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình nhưng ông N vẫn vắng mặt xem như đã từ bỏ quyền cung cấp chứng cứ, quyền tự bảo vệ lợi ích của mình. Do đó, căn cứ khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
[2.1] Xét hợp đồng tín dụng số [...] ngày 22/10/2020 và giấy đề nghị vay vốn ngày 05/10/2020 của ông Nguyễn Trọng N với Ngân hàng để vay số tiền 5.000.000.000đồng (năm tỷ đồng). Mục đích vay: Nhận chuyển nhượng bất động sản tại 8 K, Khu phố A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, thời hạn vay 240 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên 22/10/2020. Sau đó, Ngân hàng đã giải ngân cho ông N vay số tiền 5.000.000.000đồng theo giấy nhận nợ số LD2029600602 cùng ngày 22/10/2020. Sau khi vay, ông N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận. Tính tới ngày 30/7/2024 ông N còn nợ số tiền vốn và lãi tổng cộng là 5.768.918.408đồng. Do bị đơn ông N vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện để yêu cầu trả số tiền gốc và lãi theo các hợp đồng nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc ông N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền gốc, lãi tính đến ngày 30/7/2024 là 5.768.918.408đồng (trong đó: Nợ gốc vay: 4.498.400.000đồng, lãi trong hạn: 1.149.920.003đồng, lãi quá hạn: 120.598.405đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 22/10/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[2.2] Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/11/2021 và Giấy đề nghị đổi thẻ, nâng hạn mức tín dụng ngày 22/9/2022 giữa Ngân hàng và ông N trên cơ sở tự nguyện và đúng theo quy định của pháp luật về nội dung và hình thức. Theo đề nghị của ông N, Ngân hàng đã cấp cho ông N với hạn mức 600.000.000đồng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông N đã thực hiện các giao dịch sau: Thẻ tín dụng VISA, số thẻ 472074 - 4279, giao dịch với số tiền 350.925.827đồng, thực hiện đăng ký vay tiêu dùng trên ứng dụng S1 vào ngày 06/01/2022 với số tiền 150.000.000đồng (Khoản vay TD (356480 - 3360)) và
ngày 25/9/2022 số tiền 150.000.000đồng (Khoản vay TD (211251 - 8039)) với mục đích tiêu dùng cá nhân. Quá trình sử dụng thẻ, ông N có rút tiền và đóng lãi cho Ngân hàng nhưng sau đó bắt đầu thanh toán trễ hạn. Việc ông N không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại Điều 18 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng và Điều 3 Bản điều khoản và điều kiện vay tiêu dùng trên ứng dụng Sacombank Pay, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cụ thể: Ngày 10/03/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ Visa (472074 - 4279) đối với số dư nợ gốc là: 303.106.830đồng, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và ngày 25/03/2023, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn của 02 khoản vay tín dụng (356480 - 3360) đối với dư nợ gốc là 114.752.066 đồng và khoản vay tín dụng (211251 - 8039) đối với dư nợ gốc 155.549.310 đồng sang nợ quá hạn.
Căn cứ Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định pháp luật”. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông N không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, còn nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 30/7/2024 là:
- - Đối với thẻ tín dụng (472074 - 4279), nợ gốc là: 303.106.830đồng, lãi quá hạn là 156.166.530đồng;
- - Khoản vay TD (211251 - 8039): Nợ gốc là 155.549.310đồng, lãi quá hạn là 54.247.950đồng;
- - Khoản vay TD (356480 – 3360): Nợ gốc là 114.752.066đồng, lãi quá hạn là 40.019.850đồng.
Nguyên đơn đã áp dụng mức lãi suất và thời gian tính lãi đúng quy định của hợp đồng và phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên việc yêu cầu buộc bị đơn phải thanh toán nợ vốn và lãi có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Tài sản thế chấp:
Tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay trên là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 523, tờ bản đồ số 100, địa chỉ 8 K, Khu phố A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: BX 286801, số vào sổ cấp GCN: CH09374 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/9/2014, cập nhật thay đổi ngày 16/01/2020.
Việc thế chấp tài sản được lập thành hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 003090 ngày 05/02/2021 công chứng tại Phòng Công chứng số 4 Thành phố H ngày 05/02/2021, số công chứng 003090. Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 08/02/2021 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận B. Hợp đồng thế chấp nêu trên được các bên ký tại Văn phòng công chứng, có đầy đủ chữ ký của Ngân hàng và các bên liên quan. Các chủ thể ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, điều khoản của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái pháp luật, tài sản thế chấp được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, hợp đồng thế chấp phù hợp pháp luật về cả hình thức và nội dung.
Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày của Tòa án nhân dân quận Bình Tân và bản đồ hiện trạng vị trí của Trung tâm kiểm định bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H tiến hành đo vẽ vị trí đã xác định trên quyền sử dụng đất thế chấp nêu trên thể hiện có một căn nhà cấp 4, có cấu trúc nhà 03 tầng mái BTCT, nền lát gạch ceramic, cột BTCT, tường gạch, mái BTCT + mái tole.
Tại thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ căn nhà trên tài sản thế chấp do bà Phạm Thị H, sinh năm 1986 đang thuê, không ký hợp đồng thuê nhà. Bà H trình bày bà không có ý kiến gì về việc tranh chấp giữa Ngân hàng với ông N, không có yêu cầu gì thêm. Do bà H không có yêu cầu gì đối với ông N trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này giữa bà H và ông N có phát sinh tranh chấp sẽ được thụ lý giải quyết bằng vụ án khác khi có đủ chứng cứ.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp: Xét thấy hợp đồng thế chấp về quyền sử dụng đất đã được công chứng và đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về đất đai nên phát sinh hiệu lực. Do đó, trong trường hợp ông N không thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi nói trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thi hành án.
[3] Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã tạm ứng số tiền 21.061.588 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do đó
ông N có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn chi phí tố tụng là 21.061.588 đồng.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông N phải chịu nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Các Điều 157, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 317, 318, 320, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 91, Điều 95 Luật Các chức tín dụng năm 2010;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T.
* Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương cổ phần Sài Gòn T:
Buộc ông Nguyễn Trọng N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng T3 số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 29/7/2024 của các khoản nợ tín dụng tổng cộng là 6.643.151.692đồng (bằng chữ: Sáu tỷ, sáu trăm bốn mươi ba triệu, một trăm năm mươi mốt nghìn, sáu trăm chín mươi hai đồng); trong đó:
- - Khoản vay từng lần: Số tiền vốn là 4.498.400.000đồng (bốn tỷ, bốn trăm chín mươi tám triệu, bốn trăm nghìn đồng), lãi trong hạn là 1.149.920.003đồng (một tỷ, một trăm bốn mươi chín triệu, chín trăm hai mươi nghìn, không trăm lẻ ba đồng) và lãi quá hạn là 120.598.405đồng (một trăm hai mươi triệu, năm trăm chín mươi tám nghìn, bốn trăm lẻ năm đồng);
- - Đối với thẻ tín dụng (472074 - 4279), nợ gốc là: 303.106.830đồng (ba trăm lẻ ba triệu, một trăm lẻ sáu nghìn, tám trăm ba mươi đồng), lãi quá hạn là 170.271.894đồng (một trăm bảy mươi triệu, hai trăm bảy mươi mốt nghìn, tám trăm chín mươi bốn đồng);
- - Khoản vay TD (211251 - 8039): Nợ gốc là 155.549.310đồng (một trăm năm mươi lăm triệu, năm trăm bốn mươi chín nghìn, ba trăm mười đồng), lãi quá hạn là 89.354.088đồng (tám mươi chín triệu, ba trăm năm mươi bốn nghìn, không trăm tám mươi tám đồng);
- - Khoản vay TD (356480 - 3360): Nợ gốc là 114.752.066đồng (một trăm mười bốn triệu, bảy trăm năm mươi hai nghìn, không trăm sáu mươi sáu đồng), lãi quá hạn là 41.199.096đồng (bốn mươi mốt triệu, một trăm chín mươi chín nghìn, không trăm chín mươi sáu đồng).
Kể từ ngày 30/7/2024, ông N còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh của các khoản tín dụng nêu trên cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 22/10/2020 và các Phụ lục hợp đồng tín dụng, Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng; Bản điều khoản và điều kiện vay tiêu dùng trên ứng dụng S1).
Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Trọng N không trả nợ đầy đủ các khoản nợ trên thì Ngân hàng T2 được quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 003090 ngày 05/02/2021 tại Phòng Công chứng số 4 Thành phố H ngày 05/02/2021 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Trọng N để thu hồi nợ, đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 523, tờ bản đồ số 100, địa chỉ 8 K, Khu phố A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: BX 286801, số vào sổ cấp GCN: CH09374 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/9/2014, cập nhật thay đổi ngày 16/01/2020.
Trong trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ và lãi phát sinh thì ông N vẫn phải có nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng.
2. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Trọng N có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng T2 chi phí tố tụng là 21.061.588đồng (hai mươi mốt triệu, không trăm sáu mươi mốt nghìn, năm trăm tám mươi tám đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Nguyễn Trọng N phải nộp 114.643.000đồng (một trăm mười bốn triệu, sáu trăm bốn mươi ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- - Hoàn trả cho Ngân hàng T2 số tiền 56.672.000đồng (năm mươi sáu triệu, sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0008771 ngày 30/10/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Thị Vân |
Bản án số 93/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 93/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T
