Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/HS-ST

Ngày 30-7-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

-----

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Tuân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Liễu

Ông Lê Văn Ánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 87/2024/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 15/TB-TA ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tuấn A; Tên gọi khác: Tuấn N; Sinh năm 1997 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp G, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1970 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Lệ T, sinh năm 1972 (đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Ngày 12/8/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 70/2020/HSST; Ngày 12/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 02/2022/HSST ; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 16/QĐ-TA; Ngày 13/9/2023, thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 279/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai từ ngày 13/9/2023 đến ngày 13/02/2024; Bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện T từ ngày 21/5/2024.

- Bị hại: Anh Cao Minh T1, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp E, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1996. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 04/3/2024, Nguyễn Tuấn A điều khiển xe gắn máy biển số 60FS-0753 từ nhà ở ấp G, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai đến nhà Nguyễn Văn D ở ấp D, xã P để rủ D đi bắt trộm gà bán lấy tiền tiêu xài nhưng D không đồng ý. Sau đó Tuấn A nói cho D 100.000 đồng và chở D đi mua bồ đà về hút thì D đồng ý. Trên đường đi Tuấn A nói với D có cái máy xịt thuốc còn tốt, không có người trông coi và rủ D lấy trộm thì D đồng ý. Tuấn A chở D đến rẫy nhà anh Cao Minh T1 ở ấp G, xã P huyện T. Đến nơi, D đứng cảnh giới bên ngoài cònTuấn Anh vào trong phá khóa cửa chòi rẫy lấy trộm 01 máy xịt thuốc đem ra bên ngoài rồi cùng D khiêng máy xịt thuốc để lên xe mô tô. Tuấn A dùng xe mô tô chở D ngồi sau ôm máy xịt thuốc đi về hướng thị trấn T để bán thì bị lực lượng công an xã P tuần tra, phát hiện thì Tuấn A bỏ xe chạy thoát còn D bị công an xã P bắt giữ cùng tang vật. Đến ngày 21/5/2024 Nguyễn Tuấn A bị bắt.

Vật chứng thu giữ: 01 máy xịt thuốc gồm: 01 mô tơ điện, 01 đầu xịt, buni, dây cua roa, dàn sắt xi, dây hút xả; 01 xe gắn máy biển số 60FS-0753; 01 cưa sắt dài 20 cm; 01 kéo cắt màu trắng; 01 kéo cắt inox, 02 khóa.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/ KL.HĐĐGTS ngày 05/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T xác định: Giá trị 01 máy xịt thuốc gồm: 01 mô tơ điện, 01 đầu xịt, buni, dây cua roa, dàn sắt xi, dây hút xả đã qua sử dụng là 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 96/CT-VKSTP-ĐN ngày 11 tháng 7 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tội danh: Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tuyên phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 10 đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Cao Minh T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về vật chứng thu giữ: 01 biển số 60FS - 0753 là của Nguyễn Tuấn A sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên tịch thu sung công. Đối với 01 cưa sắt dài 20 cm; 01 kéo cắt màu trắng; 01 kéo cắt inox, 02 khóa là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Văn D là người cùng Nguyễn Tuấn A lén lút lấy trộm tài sản của người khác trị giá 1.700.000 đồng. Do Nguyễn Văn D chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự mà xử phạt hành chính.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ kết tội và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Vào khoảng 13 giờ ngày 04/3/2024, Nguyễn Tuấn ANguyễn Văn D đã lén lút lấy trộm 01 máy xịt thuốc tại rẫy nhà anh Cao Minh T1 ở ấp G, xã P, huyện T. Trên đường chở máy xịt thuốc đi bán thì bị lực lượng công an xã P tuần tra, phát hiện bắt giữ D cùng tang vật còn Nguyễn Tuấn A chạy thoát. Đến ngày 21/5/2024 Nguyễn Tuấn A bị bắt. Giá trị 01 máy xịt thuốc đã qua sử dụng là 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng). Mặc dù giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, nhưng do bị cáo Nguyễn Tuấn A đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Tuấn A đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tuy nhiên hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, xâm phạm đến trật tự công cộng và trật tự quản lý nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương.

[5] Về quyết định hình phạt: Bị cáo đã 02 lần bị đưa ra xét xử về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bản thân là người nghiện ma túy và đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một khoảng thời gian nhất định nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời răn đe phòng ngừa chung.

[6] Về Biện pháp tư pháp:

  • - Anh Cao Minh T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về dân sự nên không xét.
  • - Đối với 01 xe mô tô biển số 60FS - 0753 là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 cưa sắt dài 20 cm; 01 kéo cắt màu trắng; 01 kéo cắt inox, 02 khóa là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Văn D có hành vi cùng bị cáo Nguyễn Tuấn A thực hiện hành vi trộm tài sản. Tuy nhiên do giá trị tài sản bị trộm cắp là 1.700.000 đồng và Nguyễn Văn D chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự mà ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

[7] Về án phí: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

[9] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn A 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 60FS - 0753; Tịch thu tiêu hủy 01 cưa sắt dài 20 cm; 01 kéo cắt màu trắng; 01 kéo cắt inox, 02 khóa (đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/7/2024).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 93/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 13 giờ ngày 04/3/2024, Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Văn D đã lén lút lấy trộm 01 máy xịt thuốc tại rẫy nhà anh Cao Minh T ở ấp 7, xã Ph, huyện T. Trên đường chở máy xịt thuốc đi bán thì bị lực lượng công an xã Ph tuần tra, phát hiện bắt giữ D cùng tang vật còn Nguyễn Tuấn A chạy thoát đến ngày 21/5/2024 bị bắt.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger