TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:93/2024/HS-ST Ngày: 28/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1- Bà Nguyễn Thị Kim Dung
2- Ông Nguyễn Đăng Dũng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2024/HSST ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1998, Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Khu phố Y, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do, Trình độ học vấn: 9/12. Con ông: Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1974, Con bà: Đỗ Thị C, sinh năm 1974. Vợ, con: Chưa có.Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 62/QĐ XPVPHC ngày 04/02/2016 của Công an huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt Nguyễn Văn Đ về hành vi “Xâm phạm sức khỏe người khác” bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo đã nộp phạt ngày 04/02/2016.
Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 11/QĐ XPVPHC ngày 07/01/2022 của UBND xã G, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt Nguyễn Văn Đ về hành vi “Sử dụng vũ khí nhưng chưa gây hậu quả” bằng hình thức phạt tiền 3.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp phạt ngày 25/01/2022.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
*,Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị C, sinh năm 1974. Địa chỉ: Khu phố Y, phường G, thị xã T (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/4/2024, tại cầu H thuộc khu phố D, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh trong lúc tuần tra tổ công tác Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh đã phát hiện, bắt quả tang đối tượng Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1998 trú tại khu phố Y, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại vành quần lót của Đ đang mặc 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng lẫn màu hồng được niêm phong vào một phong bì thư ký hiệu M1, mép phong bì thư có chữ ký của những người liên quan và đóng dấu đỏ của Công an phường N. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ tại lòng bàn tay phải của Đ số tiền 607.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại XS Max, màu vàng gắn sim số 0987.883.231; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, LEAD, màu xanh, biển kiểm soát: 99F1-668.49 đã qua sử dụng. Sau khi bắt quả tang, tổ công tác đã bàn giao đối tượng Đ cùng vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T để điều tra theo quy định.
Ngày 15/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T ra quyết định trưng cầu giám định số 869/QĐ – TCGĐ gửi Phòng K công an tỉnh B đề nghị giám định chất ma tuý, khối lượng ma túy thu giữ của Đ.
Tại kết luận giám định số 1034/KL - KTHS ngày 18/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- 01 viên nén màu hồng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,1091 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine;
- Chất tinh thể màu trắng lẫn màu hồng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,0980 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine;
Tổng khối lượng ma túy Đ tàng trữ là 0,2071 gam Methamphetamine.
Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 70/CTr-VKS-TT ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận bị cáo sử dụng ma túy đá từ tháng 4/2023 đến nay. Khoảng 20 giờ ngày 15/4/2024, bị cáo nảy sinh ý định đi mua ma túy về sử dụng, bị cáo một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, loại LEAD, màu xanh, biển kiểm soát: 99F1 - 668.49 của bị cáo từ nhà đến cầu H thuộc khu phố D, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, bị cáo thấy hai nam thanh niên có dáng người gầy giống người nghiện ma túy đang ngồi trên một xe mô tô. Thấy vậy, bị cáo đi đến hỏi mua ma túy thì 01 nam thanh niên nói “chơi loại gì”, bị cáo đáp “đá, ngựa”, thanh niên tiếp tục hỏi “mua bao nhiêu”, bị cáo đáp “để cho cái 2 - 1” tức là mua 200.000 đồng ma túy đá và 100.000 đồng ma túy ngựa. Sau đó, nam thanh niên đưa cho bị cáo 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng lẫn màu hồng. Bị cáo dùng tay trái cầm và kẹp vào cạp quần lót đang mặc để tránh sự phát hiện của lực lượng Công an, tay phải bị cáo cầm 607.000 đồng đang chuẩn bị trả tiền cho nam thanh niên bán ma túy thì bị tổ công tác công an thị xã T phát hiện, bắt quả tang còn hai nam thanh niên kia điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Về phía bà Đỗ Thị C là mẹ đẻ bị cáo trình bày cho biết chiếc xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, loại LEAD, màu xanh, biển kiểm soát: 99F1 - 668.49 mà Đ sử dụng làm phương tiện đi mua ma tuý có nguồn gốc là do bà mua với giá 48 triệu đồng nhưng cho Đ đăng ký đứng tên, mục đích mua chiếc xe trên để gia đình sử dụng làm phương tiện đi lại nay bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tuyên trả lại cho bà để gia đình lấy làm phương tiện đi lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Căn cứ vào hành vi phạm tội; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 14 tháng tù đến 20 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định có dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B;
- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng bị cáo sử dụng vào việc mua ma tuý.
- Trả lại bị cáo số tiền 307.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng gắn sim số 0987.883.231 song tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
- Trả lại bà Đỗ Thị C 01 xe mô tô nhãn hiệu HonDa LEAD màu xanh, biển kiểm soát 99F1 – 668.49.
Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, bị cáo và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2]. Xem xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến và vật chứng đã được thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 15/4/2024, tại khu D, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2071 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, xâm phạm đến tình hình trật tự trị an tại địa phương đồng thời là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn nghiện hút và các loại tội phạm khác gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Về nhân thân: Bản thân bị cáo đã 02 lần bị Công an huyện T (nay là thị xã T) xử phạt hành chính về các hành vi “xâm phạm sức khoẻ người khác” và hành vi “Sử dụng vũ khí nhưng chưa gây hậu quả”, Bị cáo đã chấp hành và nộp phạt đến nay không bị coi là tiền sự xong thể hiện bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo với đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng tàng trữ ma tuý nhằm mục đích sử dụng, công việc và thu nhập không ổn định. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về vật chứng vụ án:
Đối với số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì thư có dấu đỏ của phòng K Công an tỉnh B là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với só tiền 607.000 đồng thu giữ của bị cáo, xét thấy trong số tiền này có 300.000 đồng bị cáo sử dụng để mua ma tuý nhưng chưa kịp đưa cho đối tượng bán ma tuý thì bị bắt giữ vì vậy nay cần tịch thu 300.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước, số tiền còn lại là 307.000 đồng cần trả lại cho bị cáo song tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng gắn sim số 0987.883.231 của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo song tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HonDa LEAD màu xanh, biển kiểm soát 99F1 – 668.49 đăng ký mang tên bị cáo, ngày 15/4/2024 bị cáo có sử dụng làm phương tiện đi mua ma tuý về để sử dụng, xét thấy đây là phương tiện bị cáo sử dụng hàng ngày, khi đi mua ma tuý về với mục đích sử dụng thì bị cáo phải di chuyển bằng phương tiện cá nhân, không có mục đích sử dụng phương tiện vào mục đích phạm tội đồng thời nguồn gốc xe là do mẹ bị cáo là bà Đỗ Thị C bỏ tiền ra mua nhưng cho bị cáo đăng ký đứng tên vì vậy nay cần tuyên trả lại cho mẹ đẻ bị cáo là bà Đỗ Thị C để gia đình lấy làm phương tiện đi lại.
* Liên quan trong vụ án:
Đối với 02 nam thanh niên đã bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ tại khu vực cầu H thuộc khu phố D, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Do Đ không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của 02 nam thanh niên và không rõ biển kiểm soát của xe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh không có căn cứ để xác minh làm rõ. Khi nào làm rõ được sẽ xem xét, xử lý sau.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 16/4/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn Đ 45 ngày kể từ ngày tuyên án (28/8/2024) để đảm bảo việc thi hành án.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín có dấu đỏ của phòng K Công an tỉnh B.
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
- Trả lại bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 307.000 đồng ( Ba trăm linh bẩy nghìn đồng) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng gắn sim số 0987.883.231 song tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
- Trả lại bà Đỗ Thị C 01 xe mô tô nhãn hiệu HonDa LEAD màu xanh, biển kiểm soát 99F1 – 668.49.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/8/2024 giữa Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành).
3.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tuấn Anh |
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ Tàng trữ trái phép chất ma tuý
