TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LONG AN Bản án số: 93/2024/HS-ST Ngày: 28 - 8 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Cao
Bà Nguyễn Thị Hưởng
Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 17/2024/HSST-QĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Trương Trọng T
Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 02/11/1959, tại Long An; Nơi cư trú: X S, phường T, Quận G, Tp .; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Con ông Trương Văn R và bà Phạm Thị R1; vợ Phạm Thị Hồng Y (đã chết) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 139.HSST ngày 27/12/2000, Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử Trương Trọng T 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú. (có mặt)
- Bị hại: Ông Ngô Văn C - C Kinh Doanh Còn P. Địa chỉ: B ấp T, xã P, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Xin vắng mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Công ty TNHH - T. Địa chỉ: A, khóm T, phường M, Tp L, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thùy T1 - Giám đốc. Xin vắng mặt;
2. Trương Thị N, sinh năm 1996. Địa chỉ: X S, phường T, Quận G, Tp .. Xin vắng mặt;
3. Trương Vũ Hoàng P1, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Xin vắng mặt;
4. Mai Văn C1, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An. Xin vắng mặt;
5. Trương Trọng T2, sinh năm 1986. Địa chỉ: A Tháp X- S, phường T, Quận G, Tp .. Xin vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Cổ phần H1 (Công ty H1), địa chỉ: Đường số A, Cụm C, xã L, huyện B, tỉnh Long An được thành lập và đăng ký kinh doanh năm 2016, với 03 thành viên góp vốn gồm Trương Thị N, Trương Vũ Hoàng P1 và ông Mai Văn C1. Công ty H1 do chị Trương Thị N là người đại diện theo pháp luật, lĩnh vực kinh doanh là mua bán và sản xuất phân bón, được cấp giấy phép sản xuất phân bón vô cơ theo giấy phép số 395/GP-CHC ngày 05/12/2016 của Cục H2 được phép sản xuất các loại phân bón hỗn hợp NP, NK, PK, NPK, phân đạm, DAP, kali, các loại phân bón rễ trung vi lượng. Đồng thời, các loại phân bón do Công ty H1 đã được công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam tại Quyết định số 731/QĐ-BVTV-PB ngày 28/6/2018 của Cục B trực thuộc Bộ N1 với 13 loại phân bón có rõ thành phần, hàm lượng dinh dưỡng cụ thể. Nhu, P1, C1 thực tế không góp vốn chỉ mang hình thức đứng tên cho phù hợp với hồ sơ pháp lý kinh doanh, cả 03 hoàn toàn không tham gia điều hành, không tham gian vận hàng sản xuất phân bón và không hưởng lợi nhuận từ công ty. Trên thực tế N chỉ đứng tên trên giấy tờ làm Tổng giám đốc công ty H1, còn việc điều hành hoạt động của công ty và hoạt động sản xuất, mua bán phân bón là do Trương Trọng T (là cha ruột của N) trực tiếp chỉ đạo và là người chịu trách nhiệm chính trong việc điều hành, nhập nguyên liệu, phối trộn nguyên liệu thành phân bón thành phẩm, bán ra thị trường và hưởng toàn bộ lợi nhuận. Ông T mua phân bón DAP làm nguyên liệu chính từ Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên P2 (công ty P2), phân bón DAP của
công ty P2 cung cấp cho Công ty H1 mua lại từ Công ty Trách nhiệm Hữu hạn N2 (Công ty N2), phân bón DAP do Công ty N3 và được công ty TNHH G kiểm tra đạt chất lượng đạt yêu cầu. Trách không được đào tạo qua chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp, hóa chất nhưng tự đưa ra công thức, thuê nhân công và chỉ đạo trực tiếp Trương Trọng T2 (con trai ruột T) vận hành thiết bị máy phối trộn các nguyên liệu thành phẩm phân bón, T không kiểm tra chất lượng mà đóng gói giao khách hàng bán ra thị trường với chất lượng không được đảm bảo theo đăng ký giấy phép sản xuất phân bón.
Ngày 29/3/2022, Công ty TNHH - (Công ty -), địa chỉ: số A, khóm T, phường M, TP L, tỉnh An Giang do bà Nguyễn Thị Thùy T1 làm người đại diện theo pháp luật đặt mua số lượng 03 tấn phân DAP 18-46-0, 02 tấn phân đạm 46A+ của công ty H1, đến ngày 19/4/2022 Công ty H1 sản xuất giao cho Công ty - số lượng 50 bao phân bón DAP trọng lượng 50kg/bao Thuỵ Điển xanh với giá 48.000.000đ. Sau đó, Công ty - bán lại 50 bao phân bón DAP Thuỵ Điển xanh cho H kinh doanh Còn P (cửa hàng Còn P), địa chỉ: số B, Tổ C, ấp T, xã P, huyện G, tỉnh Kiên Giang do Ngô Văn C làm chủ bán cho người dân sử dụng trong nông nghiệp nhưng ông C chưa bán thì ngày 31/5/2022, Đ (QLTT) số 3 thuộc Cục QLTT tỉnh K kiểm tra cửa hàng Còn P và tiến hành lấy mẫu phân bón DAP 18-46-0 của công ty H1 đi thử nghiệm. Kết quả thử nghiệm theo Phiếu số Kết quả thử nghiệm KT3-02825AHO2/6 ngày 14/6/2022 của Trung tâm K chất lượng 3, thử nghiệm và kết luận thành phần NTS: 7,29% và P2O5 0,8% so với chỉ tiêu đăng kí là 18% và 46%, có dấu hiệu vi phạm về chất lượng là hàng giả theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 3 NĐ 98/2020 ngày 26/8/2020 và NĐ 84/2019 ngày 14/11/2019 nên Đội QLTT số 3 lập biên bản tạm giữ tang vật vi phạm hành chính tạm giữ và niêm phong 50 bao phân bón DAP Thuỵ Điển xanh, loại 50kg/bao, sản xuất ngày 19/4/2022. Ngày 29/6/2022, Ủy ban nhân dân tỉnh K ban hành Quyết định chuyển hồ sơ vụ vi phạm hành chính có dấu hiệu tội phạm đến Cơ quan CSĐT Công an huyện G thụ lý. Ngày 24/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện G chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện B để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền kèm theo 50 bao phân bón DAP Thuỵ Điển xanh, loại 50kg/bao, sản xuất ngày 19/4/2022 được niêm phong theo quy định.
Tại Thông báo kết quả giám định số 00174/N2.22 ngày 03/01/2023 của Trung tâm K chất lượng 3, giám định và kết luận như sau: Lô phân bón yêu cầu giám định có chất lượng không đạt yêu cầu theo căn cứ giám định nêu tại mục 3. Kết quả giám định 04/07 hàm lượng chỉ tiêu không đạt, cụ thể: hàm
lượng Ni tơ tổng ( N,%), hàm lượng phân lân hữu hiệu (P2O5hh,%), hàm lượng Kẽm (Zn) ppm, tổng hàm lượng Z và M, ppm 158.
Tại Bản kết luận định giá số 09/KL-HĐĐG ngày 17/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, định giá và kết luận: 50 bao phân bón nhãn hiệu DAP 18-46-0, mỗi bao trọng lượng 50kg có giá trị là 40.000.000₫.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đang tạm giữ và nhập kho: 50 bao phân bón DAP 18-46-0, mỗi bao 50kg, nhãn hiệu Thuỵ Điển, sản xuất ngày 19/4/2022.
Ngày 22/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh An Giang chuyển vụ án vụ án hình sự “Sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón” xảy ra tại Công ty Cổ phần H1 đến Cơ quan CSĐT Công an huyện B để nhập vụ án, kèm theo toàn bộ hồ sơ vụ án nhưng không có vật chứng kèm theo (do không thu giữ vật chứng) nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B không thể tiến hành giám định, định giá, không đủ căn cứ xem xét xử lý.
Sau khi vụ việc xảy ra, Công ty H1 hoàn trả cho công ty - số tiền 48.000.000đ, Công ty - đã nhận đủ tiền, không có yêu cầu bồi thường về dân sự; Công ty - hoàn trả số tiền 38.000.000đ cho ông Ngô Văn C (chủ cửa hàng Còn P) và không có yêu cầu gì.
Tại Bản Cáo trạng số 87/CT-VKSBL ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trương Trọng T về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón” theo điểm đ khoản 2 Điều 195 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Trọng T hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trương Trọng T phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón”
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 195, điểm b, h, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 50, Điều 35 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt tiền bị cáo Trương Trọng T từ 500.000.000đồng đến 600.000.000đồng, không
đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trương Trọng T.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 50 bao phân bón DAP 18-46-0, mỗi bao 50kg, nhãn hiệu Thuỵ Điển, sản xuất ngày 19/4/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, Công ty H1 hoàn trả cho công ty - số tiền 48.000.000đ, công ty - đã nhận đủ tiền, không có yêu cầu bồi thường về dân sự; Công ty - hoàn trả số tiền 38.000.000đ cho ông Ngô Văn C (chủ của hàng Còn P) và không có yêu cầu gì nên không đề nghị xem xét.
Về án phí: Đề nghị Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 12, 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Trương Trọng T là người cao tuổi có đề nghị miễn án phí nên không phải chịu án phí.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trương Trọng T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, phù hợp với bản ảnh
tang vật, Kết quả giám định số 00174/N2.22 ngày 03/1/2023 của Trung tâm K chất lượng 3, Bản kết luận định giá số 09/KL-HĐĐG ngày 17/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Công ty cổ phần H1 (công ty H1), địa chỉ: đường số A, cụm C Long An, thuộc Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An do chị Trương Thị N là người đại diện theo pháp luật của công ty. Tuy nhiên, bị cáo Trương Trọng T (cha ruột của N) là người điều hành mọi hoạt động của công ty H1, hoạt động sản xuất, nhập nguyên liệu, tự ra công thức phối trộn nguyên liệu thành phân bón thành phẩm không kiểm định chất lượng trước khi bán ra thị trường và hưởng toàn bộ lợi nhuận. Ngày 29/3/2022, bị cáo T đồng ý bán cho Công ty TNHH -, địa chỉ: số A, khóm T, phường M, TP L, tỉnh An Giang do bà Nguyễn Thị Thùy T1 làm người đại diện theo pháp luật 50 bao phân bón DAP trọng lượng 50kg/bao Thuỵ Điển xanh, sản xuất ngày 19/4/2022 với giá 48.000.000₫ nhằm thu lợi bất chính 8.000.000₫.
Hành vi của bị cáo Trương Trọng T đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo với tình tiết định khung “Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 195 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi trái pháp luật của bị cáo Trương Trọng T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền được bảo hộ của người sản xuất, xâm phạm quyền và lợi ích của tổ chức và cá nhân trong sản xuất nông nghiệp; xâm phạm quyền đến trật tự quản lý kinh tế xã hội của Nhà nước. Bị cáo Trương Trọng T mặc dù không đứng tên giấy đăng ký kinh doanh của Công ty cổ phần H1 nhưng bị cáo là người trực tiếp điều hành, nhập nguyên liệu, phối trộn nguyên liệu thành phân bón thành phẩm và bán ra thị trường, lợi nhuận việc bán phân bón của Công ty H1 là do bị cáo hưởng. Do đó, Hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Trương Trọng T cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, tương xứng hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trương Trọng T phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Trương Trọng T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, bị cáo có cha Trương Văn R là liệt sĩ, mẹ Phạm Thị R1 có công
với cách mạng nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, h, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Xét thấy bị cáo Trương Trọng T có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra hành vi phạm tội của bị cáo T thuộc nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, mặt khác bị cáo là người cao tuổi đang điều trị bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh tim, viêm dạ dày. Do đó, để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nghĩ không cần cách ly bị cáo bên ngoài xã hội mà xử phạt hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo T cũng có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5]. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo Trương Trọng T là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6]. Đối với Trương Thị N, Trương Vũ Hoàng P1 và ông Mai Văn C1 cùng đứng tên kinh doanh Công ty H1 nhưng việc góp vốn này chỉ mang hình thức đứng tên cho phù hợp với hồ sơ pháp lý kinh doanh, thực tế thì N, C1 và P1 hoàn toàn không có góp tiền vào công ty, không tham gia điều hành, không tham gian vận hàng sản xuất phân bón và không hưởng lợi nhuận từ công ty. Đối với Trương Trọng T2 (con trai bị cáo T) chỉ nghe theo chỉ đạo của bị cáo về việc vận hành hoạt động máy sản xuất phân bón, T2 hoàn toàn không biết bị cáo T làm giả phân bón bán ra thị trường. Nên Trương Thị N, Trương Trọng T2, Trương Vũ Hoàng P1 và Mai Văn C1 không đồng phạm với bị cáo T, CQĐT không xử lý là phù hợp.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 195 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo Trương Trọng T còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có lời trình bày hoàn cảnh khó khăn, lớn tuổi và còn bệnh nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 50 bao phân bón DAP 18-46-0, mỗi bao 50kg, nhãn hiệu Thuy Điển, sản xuất ngày 19/4/2022 là hàng giả nên tịch thu tiêu hủy.
[9]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, Công ty H1 hoàn trả cho công ty - số tiền 48.000.000đ, công ty - đã nhận đủ tiền, không có yêu cầu bồi thường về dân sự; Công ty - hoàn trả số tiền 38.000.000đ cho ông Ngô
Văn C (chủ cửa hàng Còn Phát) và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[10]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 12, 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Trương Trọng T là người cao tuổi có đề nghị miễn án phí nên không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trương Trọng T phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón”
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 195, điểm b, h, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 50, Điều 35 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt tiền bị cáo Trương Trọng T 500.000.000đồng (Năm trăm triệu đồng)
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 50 bao phân bón DAP 18-46-0, mỗi bao 50kg, nhãn hiệu Thuỵ Điển, sản xuất ngày 19/4/2022.
(Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện B tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2024)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trương Trọng T không phải chịu.
4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Thảnh |
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN về hình sự sơ thẩm về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Trọng T phạm tội "Sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón"
