Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/HNGĐ-ST

Ngày 28 - 6 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trịnh Văn Lực
  2. Ông Nguyễn Đức Lợi

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 181/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1983; thường trú: Số G, ấp chợ M, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre; tạm trú: Tổ B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Anh Thái Thành Q, sinh năm 1984; thường trú: Số nhà A, ấp P, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre; tạm trú: Tổ B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/4/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn tôi và anh Q có thời gian tìm hiểu nhau rồi tiến đến hôn nhân, vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre vào năm 2005. Việc kết hôn là tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ: Tổ B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương cho đến nay. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn xảy ra. Khoảng thời gian gần đây vợ chồng kinh doanh quán cà phê nên xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Q thường xuyên mắng chửi, đánh đập chị T dẫn tới hằng ngày vợ chồng không có trao đổi, tâm sự và chia sẻ về công việc cũng như cuộc sống. Hiện nay vợ chồng vẫn còn chung sống với nhau, cùng nhau chăm sóc con chung nhưng không thường xuyên nói chuyện và đã ly thân về mặt tình cảm được hơn 01 năm nay. Nay chị T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.

+ Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Thái Thành Q1, sinh ngày 20/12/2002, cháu Q1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nghĩa vụ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 28/5/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Thái Thành Q trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn anh và chị T có thời gian tìm hiểu nhau rồi tiến đến hôn nhân, vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre vào năm 2005.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ: Tổ B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương cho đến nay. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, thi thoảng có mâu thuẫn xảy ra nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống. Do anh Q hay lớn tiếng nên chị T cảm thấy không còn được quan tâm nên đó là nguyên nhân chính để chị T nộp đơn ra Tòa án. Hiện nay vợ chồng vẫn còn chung sống với nhau nhưng đã ly thân về mặt tình cảm được khoảng 02 năm nay. Mặt khác, anh Q thừa nhận năm 2020, anh có quan hệ với người phụ nữ khác, sự việc này chị T biết nên anh đã chủ động chấm dứt quan hệ trên và hiện nay còn liên lạc với nhau. Anh Q xác định vẫn còn tình cảm với chị T, mong muốn gia đình đoàn tụ cùng nhau chăm sóc, nuôi dạy con chung nên không đồng ý ly hôn.

+ Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Thái Thành Q1, sinh ngày 20/12/2002 (đã trưởng thành) nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nghĩa vụ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Chị Nguyễn Thị Thanh T khởi kiện anh Thái T1 Quy yêu cầu được ly hôn nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Q có nơi cư trú tại: Tổ B khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T, bị đơn anh Thái Thành Q vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Thái Thành Q và chị Nguyễn Thị Thanh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre theo giấy chứng nhận kết hôn số 34, quyển số I/2005 ngày 28/7/2005 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Chị T xác định sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian gần đây vợ chồng kinh doanh quán cà phê nên xảy ra mâu thuẫn nhiều, anh Q thường xuyên mắng chửi, đánh đập chị. Hiện nay vợ chồng vẫn còn sống chung nhưng không có trao đổi, tâm sự về công việc, cuộc sống và đã sống ly thân về mặt tình cảm được khoảng 01 năm nay. Bản thân anh Q xác định vẫn còn tình cảm với chị T nhưng xác định vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn và không còn quan tâm, chăm sóc nhau, vợ chồng đã ly thân về mặt tình cảm khoảng 02 năm nay. Mặt khác anh Q thừa nhận năm 2020 anh có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác, hiện nay anh Q cũng không đưa ra được phương án hàn gắn, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và yêu cầu được ly hôn. Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Tuy nhiên, do mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh Q đã lâu, cả hai không có giải pháp nào để khắc phục và đều thừa nhận đã ly thân một thời gian dài, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không mang lại hạnh phúc cho nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị T yêu cầu được ly hôn với anh Q là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Thái Thành Q1, sinh ngày 20/12/2002, cháu Q1 đã trưởng thànnh nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T về việc tranh chấp ly hôn với bị đơn anh Thái Thành Q.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với anh Thái Thành Q (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 34, quyển số I do Ủy ban nhân dân xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre cấp ngày 28/7/2005).

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Thái Thành Q1, sinh năm 2002 (đã trưởng thànnh) nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002926 ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
  • - UBND xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Viết Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 93/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRanh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger