Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/HS - ST

Ngày 26 - 7 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ngọc H.

- Các Hội thẩm nhân dân:

  • - 1. Ông Ninh Văn T - Nguyên giáo viên nghỉ hưu.
  • - 2. Ông Tống Đăng M.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Khắc T1 - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:100/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Đăng K; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 18/5/2007 (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 08 tháng 09 ngày) tại: huyện L, tỉnh Bắc Giang; Trú quán: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán dìu; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 10/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Lý Công Đ, sinh năm 1979; Mẹ đẻ: Lâm Thị P, sinh năm 1982; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/4/2024 đến nay, hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. Có mặt tại phiên toà.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo:

Ông Lý Công Đ, sinh năm 1979 (là bố đẻ bị cáo). Có mặt.

Trú tại: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

* Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Thân Văn L - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

- Người bị hại: Chu Thị P1, sinh năm 1997 (đã chết).

Địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

Mạc Văn H1, sinh năm 1990 ( là chồng của bị hại). Xin vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thế H2, sinh ngày 18/8/2008; Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

    Địa chỉ: TDP T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Người đại diện hợp pháp: Nguyễn Văn V, sinh năm 1976 (là bố đẻ); Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

    Địa chỉ: TDP T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  2. Dương Văn H3, sinh ngày 26/02/2008. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

    Địa chỉ: thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Người đại diện hợp pháp: Dương Văn T2, sinh năm 1980; Vắng mặt.

    Địa chỉ: thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  3. Vi Văn Đ1, sinh ngày 03/02/2008. Vắng mặt.

    Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Người đại diện hợp pháp: Vi Văn T3, sinh năm 1985; Vắng mặt.

    Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  4. Nguyễn Thị L1, sinh năm 1984. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

    Địa chỉ: thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  5. Đoàn Đức M1, sinh ngày 13/9/2009; Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

    Địa chỉ: TDP M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Người đại diện hợp pháp: Trịnh Thị Lệ H4, sinh năm 1980 (là mẹ đẻ); Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

    Địa chỉ: TDP M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  6. Lý Văn T4, sinh ngày 06/10/2007. Vắng mặt.

    Địa chỉ: thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Người đại diện hợp pháp: Tạ Thị N, sinh năm 1985; Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

    Địa chỉ: thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  7. Nguyễn Đức D, sinh ngày 26/01/2007.Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt. Địa chỉ: thôn N, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Người đại diện hợp pháp: Trần Văn T5, sinh năm 1964; Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

    Địa chỉ: thôn N, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người tham gia tố tụng khác:

Đoàn thanh niên Cộng sản H5 xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Văn M2 - Bí thư đoàn đại diện. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi tối ngày 27/01/2024, Lý Đăng K, sinh ngày 18/5/2007 cùng Nguyễn Thế H2, sinh năm 2008, Đoàn Đức M1, sinh ngày 13/9/2009, Dương Văn H3, sinh năm 2008, Vi Văn Đ1, sinh năm 2008, Lý Văn T4, sinh năm 2007 và Nguyễn Đức D, sinh năm 2007 đến quán G tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L chơi. Khoảng hơn 20 giờ cùng ngày cả nhóm rủ nhau điều khiển xe mô tô đi ra đường chơi. Khi đi K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn Xanh, không gắn biển kiểm soát, dung tích xi lanh 109.2 cm³ chở H2M1 ngồi phía sau; H3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn Xanh, biển số 98B3-950.26 chở Đ1; T4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu Đen - Bạc, biển số 98E1-208.98 chở D. Cả nhóm đi từ quán G theo đường Q đến phố K, xã P, huyện L, sau đó quay lại tiếp tục đi theo đường Quốc lộ 31 đi hướng xã H. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi K điều khiển xe mô tô đi đến Km44+900, khu vực ngã ba, có đường rẽ trái đi xã B, thuộc địa phận thôn P, xã H, huyện L, K phát hiện thấy phía trước có xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu Đen - Đỏ, biển số 98E1-580.16 do chị Chu Thị P1, sinh năm 1997, trú tại thôn Q, xã B, huyện L điều khiển đi cùng chiều (hướng Hồ N đi huyện S) và đang xi nhan rẽ trái để đi xã B, huyện L, K không giảm tốc độ mà đánh lái điều khiển xe sang bên trái phần đường theo chiều đi dẫn đến va chạm với xe mô tô của chị P1 đang rẽ sang đường làm xe mô tô của chị P1 bị đổ, chị P1 ngã xuống đường. K vẫn tiếp tục điều khiển xe mô tô đi thêm một đoạn theo hướng đi huyện S thì dừng lại. Lúc này xe mô tô do H3 điều khiển đi đến, thấy xe của chị P1 đổ xuống đường, H3 phanh gấp khiến xe mô tô do H3 điều khiển bị trượt đổ ở cạnh xe của chị P1, H3Đ1 ngã xuống đường. Sau đó H3Đ1 dựng xe vào lề đường, cùng mọi người đưa chị P1 đi tới Trung tâm y tế huyện L cấp cứu. Còn K cũng điều khiển xe mô tô quay lại hiện trường được biết chị P1 đã được mọi người đưa đi nên K đã đi đến Trung tâm y tế huyện L để xem tình hình của chị P1. Đến ngày 25/02/2024, do bị thương nặng chị P1 đã tử vong; 03 xe mô tô bị hư hỏng.

Hồi 23 giờ ngày 27/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành đo nồng độ cồn của Lý Đăng K, kết quả nồng độ cồn của Lý Đăng K là 0,000mg/L khí thở.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định: Hiện trường xảy ra tại khu vực ngã ba giao nhau giữa Quốc lộ Cđường tỉnh 290. Bề mặt đường phẳng, trải nhựa áp phan, chiều rộng lòng đường Quốc lộ 31 là 11,1m. Chiều rộng nơi giao nhau giữa Quốc lộ Cđường T là 32,9m. Trên lề phải đường (hướng L - S) có biển báo giao thông giao nhau với đường không ưu tiên cách khu vực xảy ra tai nạn 100m. Tại hiện trường có các dấu vết, phương tiện và được đánh số ký hiệu như sau:

  • (1) Dấu vết mài trượt mặt đường; (2), (3) Dấu vết cày xước mặt đường; (4) Mảnh nhựa vỡ, dép; (5) Bọc để chân, xe mô tô; (6) Xe mô tô biển số 98E1-580.16; (7) Mảnh nhựa đỏ đen.
  • - Lấy cột mốc ký hiệu H9/44 làm mốc;
  • - Lấy mép đường bên phải theo chiều L - S làm chuẩn.
  • - Tại vị trí ký hiệu số (1) là dấu vết mài trượt mặt đường màu đen, chiều hướng L - S. Đầu vết cách mép chuẩn 5,6m, cách mốc 22,25m. Cuối vết cách mép chuẩn 5,47m, cách mốc 15m. Kích thước của vết là (6x0,07)m. Tại vị trí ký hiệu số (2) là dấu vết cày xước mặt đường dạng đứt đoạn kích thước trên diện (8,7x0,55)m. Chiều hướng vết theo hướng L - S. Đầu vết cách mép chuẩn 6,3m, cách mốc 15,7m. Cuối vết tiếp xúc đầu tay phanh bên trái xe mô tô, cách mép chuẩn 5m, cách mốc 8,5m. Đầu vết cách đấu vết (1) là 7,7m. Tại vị trí ký hiệu số (3) là dấu vết cày xước mặt đường dạng đứt đoạn kích thước trên diện (5x0,53)m, chiều hướng vết theo hướng L - S. Đầu vết cách mép chuẩn 6m, cách mốc 14,1m, cách đầu vết số (1) là 9,47m. Cuối vết cách mép chuẩn 6,1m, cách mốc 10,4m. Tại vị trí ký hiệu số (4) là các mảnh nhựa vỡ, dép kích thước trên diện (4x5,8)m. T6 vị trí số (4) cách mép chuẩn 5,1m, cách mốc 10m. Tại vị trí ký hiệu số (5) là bọc để chân xe mô tô cách mép chuẩn 8,1m, cách mốc 11,8m. Tại vị trí ký hiệu số (6) là xe mô tô biển số 98E1-580.16 trong trạng thái đổ nghiêng trái, đầu xe hướng mép chuẩn. Trục trước xe cách mép chuẩn 4,2m, cách mốc 8m. Trục sau xe cách mép chuẩn 5,5m, cách mốc 9,1m, cách đầu vết số (1) là 15,6m. Tại vị trí số (7) là mảnh nhựa đỏ đen cách mép chuẩn 0,3m, cách mốc 2,9m. Quá trình khám nghiệm tạm giữ 01 xe mô tô biển số 98E1-580.16. Đồng thời tiến hành rà soát camera an ninh của các hộ dân xung quanh khu vực hiện trường, đã trích xuất thu giữ tại camera an ninh của gia đình anh Trần Văn T7, sinh năm 1977, trú tại thôn P, xã H, huyện L 01 đoạn video ghi được hình ảnh liên quan đến vụ tai nạn, được sao lưu vào đĩa DVD và niêm phong trong phong bì ký hiệu “video1”.

Cùng ngày 27/01/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện L thu giữ của Dương Văn H3 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98B3-950.26 và của Lý Đăng K 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn xanh, không biển số.

Tại Giấy chứng nhận thương tích ban đầu ngày 27/01/2024 của Trung tâm y tế huyện L xác định thương tích lúc vào viện của chị Chu Thị P1 như sau: Bệnh nhân lơ mơ: G 9 điểm, kích thích tay chân; Vùng thái dương đỉnh trái có khối sưng nề, chảy máu; Nhịp tim đều; Phổi hai bên không rales; Bụng mềm, gan lách không to.

Ngày 26/02/2024, Cơ quan điều tra phối hợp với Phòng K1 Công an tỉnh B khám nghiệm tử thi Chu Thị P1, sinh năm 1997, trú tại thôn Q, xã B, huyện L:

  • - Các dấu vết, tổn thương trên cơ thể như sau: Hai lỗ tai khô, hai mắt khép kín, hai lỗ mũi có dịch nhầy đục chảy từ trong ra. Vùng trán đỉnh thái dương phải có đường mở, vùng đầu hình cung dài 33 cm, đã cắt chỉ, sẹo liền tốt. Vùng thái dương phải phía trên vùng tai phải có vết bầm tím da kích thước (6x4) cm. Chính giữa vùng ngực phía trên xương ức có diện bầm tím da kích thước (7x4) cm. Mặt trước ngoài vùng bẹn và mông phải có vết bầm tím da kích thước (17x7)cm. Vùng cổ bên phải có vết khâu bằng 01 mũi chỉ, bề mặt còn rỉ máu. Kiểm tra hệ cơ xương khớp khác không phát hiện tổn thương.
  • - Mổ một phần tử thi: Kiểm tra khoang miệng thấy hệ thống răng không gãy, lưỡi trong cung răng. Bên trong khoang miệng có nhiều hạt gạo và dịch nhầy đục. Kiểm tra vùng đầu phía trong đường mổ thấy phù nề tổ chức da đầu, diện lõm, khuyết xương hộp sọ vùng trán, thái dương đỉnh phải kích thước (16x11) cm.Quá trình khám nghiệm, Cơ quan điều tra tiến hành thu mẫu máu tử thi Chu Thị P1 để giám định.

Ngày 26/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 368 trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B, giám định nguyên nhân chết của chị Chu Thị P1. Tại bản Kết luận giám định tử thi số 646 ngày 26/03/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của Chu Thị P1 do chấn thương sọ não không hồi phục: Vỡ xương thái dương phải, chảy máu nội sọ đã phẫu thuật sọ não. Cơ chế hình thành dấu vết trên cơ thể Chu Thị P1: Các vết bầm tím da do tác động của vật tày có lực tác động và chiều hướng khác nhau tạo nên. Trong đó chấn thương vùng đầu, làm vỡ xương thái dương phải, chảy máu nội sọ gây đè ép não là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong của Chu Thị P1.

Ngày 28/02/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn. Kết quả:

  • - Xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu sơn Xanh, biển số 98B3-950.26: Đầu tay phanh phải có vết mài trượt kim loại kích thước (1x1) cm. Ốp nhựa đầu xe tại vị trí gương chiếu hậu phải có vết mài trượt nhựa kích thước (11x7) cm. Ốp nhựa xi nhan phải bị vỡ nhựa kích thước (9x2) cm. Để chân phía trước bên phải bị trượt vách cao sau. Để chân phía sau bên phải có vết trượt xước kim loại tại phần đầu, rách cao su.
  • - Xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Vision, màu Đen - Đỏ, biển số 98E1-580.16: Ốp nhựa gương trái bị trượt xước nhựa, vỡ khuyết trên diện tích thước (2x1) cm, cao sao ở cần gương bị rách. Ốp nhựa đầu xe có vết mài trượt nhựa tại vị trí gương chiếu hậu bên trái kích thước (7x1) cm. Tay phanh bên trái bị lệch theo hướng từ trên xuống dưới, đầu tay phanh có vết mài trượt kim loại kích thước (1x1) cm. Đầu tay năm strais có vết mài trượt kim loại kích thước (1x1) cm. Mặt nạ xe bật rời. Yếm xe bên trái bị vỡ bật rời. Ốp trong phía dưới(tại vị trí để chân), tại vị trí bên trái bị lệch, rách vỡ nhựa kích thước (11x10) cm. Ốp gầm bên trái bị trượt xước nhựa theo chiều từ dưới lên trên kích thước (5x2) cm. Tại để chân phía sau bên trái có vết mài trượt kim loại bị rách cao su. Ốp sườn bên trái bị mài trượt nhựa kích thước (18x2) cm. Tay xách phía sau bên trái có vết mài trượt kim loại kích thước (3x0,5) cm, vỡ kim loại kích thước (12x0,1) cm. Mặt ngoài bên trái vỏ máy có dấu vết lõm, gãy khuyết kim loại, bề mặt bám dính chất màu đen dạng cao su hướng từ sau ra trước trên diện (16x6,8) cm. Cách vị trí này về phía trên 5,1 cm có dấu vết lõm, trượt xước kim loại, mất sơn hướng từ sau ra trước kích thước (2,2x0,6) cm.
  • - Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn Xanh, không gắn biển kiểm soát: Cánh yếm bên phải bị nứt vỡ nhựa, dài 17 cm, có nhiều vết mài trượt ở phần dưới cánh yếm phải. Để chân bên phải phía trước bị cong theo chiều từ trước về sau, mất cao su, có vệt trượt kim loại dài 1 cm. Tại lốc máy bên phải có vết mài trượt trên diện (11x6) cm.

Ngày 28/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết trên hiện trường, trên phương tiện liên quan trong vụ tai nạn giao thông đường bộ, vị trí va chạm giữa hai phương tiện trên mặt đường, tốc độ của các phương tiện khi xảy ra tai nạn. Tại bản Kết luận giám định số 654 ngày 26/03/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

  1. Dấu vết bật khuyết cao su, chùn cong kim loại, hướng từ trước ra sau ở để chân trước bên phải của xe mô tô không biển kiểm soát (ảnh 7, 8 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết gãy khuyết, mài trượt kim loại, bám dính chất màu đen, hướng từ sau ra trước ở mặt ngoài bên trái vỏ máy của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-580.16 (ảnh 21, 22 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
  2. Dấu vết vỡ, trượt xước sơn nhựa, bám dính chất màu đỏ, hướng từ trước ra sau ở cánh yếm bên phải của xe mô tô không biển kiểm soát (ảnh 5, 6 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ, trượt xước sơn nhựa, hướng từ sau ra trước ở ốp sườn và cánh yếm bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-580.16 (ảnh 11 bản ảnh khám phương tiện).
  3. Vị trí va chạm giữa xe mô tô không biển kiểm soát và xe mô tô biển kiểm soát 98E1-580.16 trên mặt đường tại trước điểm đầu hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số (2), trong khu vực giao nhau giữa đường Quốc lộ 31 và đường tỉnh lộ 290.
  4. Chiều hướng va chạm: tại thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô không biển kiểm soát chuyển động theo hướng Lục N1 đi S va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98E1-580.16 ở phía trước cùng chiều (đầu xe mô tô biển kiểm soát 98E1-580.16 chếch sang bên trái theo hướng khám nghiệm).
  5. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua các dấu vết cơ học.

Ngày 22/03/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Yêu cầu định giá tài sản đối với thiệt hại của xe mô tô biển số 98E1-580.16 và xe mô tô không gắn biển kiểm soát sau khi xảy ra tai nạn. Tại bản kết luận định giá tài sản số 22, 23 cùng ngày 25/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu Đen - Đỏ, biển số 98E1-580.16 bị thiệt hại trị giá 4.435.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng). Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn Xanh, không gắn biển số bị thiệt hại trị giá 230.000 đồng (Hai trăm ba mươi nghìn đồng).

Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do lỗi hỗn hợp: Lý Đăng K là người chưa đủ tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm³ trở lên, chưa có giấy phép lái xe theo quy định, ngày 27/01/2024 K điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh 109.2 cm³ tham gia giao thông, khi đi đến nơi có đường giao nhau không giảm tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn với phương tiện đi phía trước cùng chiều và đi không đúng phần đường; chị Chu Thị P1 điều khiển phương tiện khi chuyển hướng không chú ý quan sát để đảm bảo an toàn dẫn đến hai phương tiện va chạm với nhau, hậu quả gây nên cái chết cho chị P1, hai phương tiện bị hư hỏng. Hành vi trên của K đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 12, Điều 24, khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ; hành vi của chị Chu Thị P1 vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ.

Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định về quy tắc chung:

1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.

Khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ quy định về Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe:

1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình...

Điều 24 Luật giao thông đường bộ quy định về nhường đường tại nơi đường giao nhau: Khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phương tiện phải cho xe giảm tốc độ và ...

Khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ quy định về điều kiện của người lái xe tham gia giao thông:

1. Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khoẻ quy định tại Điều 60 của Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

Khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định quy định về chuyển hướng xe:

2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng ... chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Tại bản cáo trạng số: 99/ CT - VKS ngày 08 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố đối với bị cáo Lý Đăng Khoa về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề xuất ý kiến xử phạt bị cáo như sau:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Điều 91, Điều 98, Điều 101, Điều 54 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lý Đăng K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Thời hạn từ tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giam (ngày 01/4/2024).

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong với đại diện bị hại. Nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại bà Trịnh Thị Lệ H4 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn Xanh, không gắn biển số, số khung: RLHJA3939PY081771, số máy: JA70E0111060, 01 Đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 013166 và 01 biển số xe 98E1-888.42

* Án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ và thừa nhận cáo trạng truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn đúng.

Tại bản luận cứ bào chữa, người bào chữa cho bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91, Điều 101, Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 20 đến 22 tháng tù.

Bị cáo nhất trí với bản luận cứ bào chữa, không có ý kiến bổ sung. Ông Lý Công Đồng nhất t.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tố tụng: Tại phiên tòa, đại diện bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ và có đơn xin vắng mặt, nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
  3. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do vậy đủ căn cứ xác định Lý Đăng K, sinh ngày 18/5/2007 là người chưa đủ tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm³ trở lên và chưa có phép lái xe mô tô theo quy định. Khoảng 21 giờ ngày 27/01/2024, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn Xanh, không gắn biển kiểm soát, có dung tích xi lanh 109.2 cm³ chở phía sau là Nguyễn Thế H2Đoàn Đức M1 đi trên Quốc lộ C, hướng thị trấn C đi huyện S. Khi K điều khiển xe mô tô đi đến Km44+900, khu vực ngã ba (có đường rẽ trái đi xã B) thuộc thôn P, xã H, huyện L, K phát hiện thấy phía trước cùng chiều có xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, biển số 98E1-580.16 do chị Chu Thị P1 điều khiển đang bật đèn xi nhan rẽ trái sang đường, tuy nhiên do K không giữ khoảng cách an toàn với xe đi phía trước cùng chiều, khi đến nơi đường giao nhau không giảm tốc độ và điều khiển xe đi lấn sang phần đường bên trái theo chiều đi nên đã va chạm với xe mô tô do chị P1 điều khiển sang đường. Hành vi của K đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 12, Điều 24, khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ. Hậu quả: Chị Chu Thị P1 tử vong; 02 phương tiện bị hư hỏng tổng thiệt hại 4.665.000 đồng.
  4. Vì vậy bản cáo trạng số 99/ CT - VKS ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố đối với các bị cáo Lý Đăng K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội.
  5. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn công cộng tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng cho người tham gia giao thông. Xét tình hình tai nạn giao thông hiện nay ở địa phương cha có chiều hớng giảm. Nguyên nhân do ý thức của ngời tham gia giao thông không chấp hành đúng luật giao thông đờng bộ đã gây thơng tật, mất sức lao động, gây nên những cái chết thơng tâm cho những ngời tham gia giao thông nên phải ra một bản án nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng riêng và phòng ngừa chung.
  6. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
    • Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
    • Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Được đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo đợc hởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.

    Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, nhưng bị cáo điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi chưa có giấy phép lái xe đã phạm vào tội nghiêm trọng. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhưng xét khi phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng các Điều 91, Điều 98, Điều 101, Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

  7. Về vấn đề khác:

    Về nguồn gốc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn Xanh, không gắn biển kiểm soát là của chị Trịnh Thị Lệ H4, sinh năm 1980, trú tại tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L (là mẹ đẻ của Nguyễn Đức M3), xe có biển số 98E1-888.42. Ngày 27/01/2024, chị H4 cho M3 mượn xe mô tô điều khiển đi chơi, sau đó M3 đã giao xe cho K điều khiển dẫn đến gây tai nạn cho chị P1. Đối với chị Trịnh Thị Lệ H4 đã có hành vi giao xe cho Nguyễn Văn M4 là người chưa đủ tuổi điều khiển xe mô tô, chưa có giấy phép lái xe theo quy định, M4 sau đó đã tự ý giao xe cho K điều khiển dẫn đến Khoa gây tai nạn, Cơ quan điều tra đã đề nghị Công an huyện L xử phạt hành chính đối với chị H4 về hành vi Giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ. Đối với Nguyễn Đức M3 có hành vi giao xe mô tô cho Lý Đăng K là người chưa đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông dẫn đến gây tai nạn, tuy nhiên tại thời điều giao xe cho K, M3 mới 14 tuổi 04 tháng 14 ngày chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội Giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.

    Đối với Đoàn Đức M1Nguyễn Thế H2 là người ngồi sau xe mô tô của K điều khiển, sau tại nạn M1 thương tích nhẹ không đi điều trị tại cơ sở y nào, H2 không bị thương tích gì; cả M1H2 đều không yêu cầu đề nghị gì, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

  8. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Gia đình Lý Đăng K, Đoàn Đức M1Nguyễn Thế H2 đã tự nguyện bồi thường cho gia đình chị Chu Thị P1 tổng số tiền 120.000.000 đồng. Anh Mạc Văn H1 (là người đại diện hợp pháp của Chu Thị P1) đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Lý Đăng K. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  9. Về vật chứng của vụ án: - Ngày 08/04/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn Xanh, biển kiểm soát 98B3-950.26 cho chị Nguyễn Thị L1 là chủ sở hữu hợp pháp; Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu Đen - Đỏ, biển số 98E1-580.16, kèm theo 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 046496 cho anh Mạc Văn H1 là chủ sở hữu hợp pháp. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

    Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn Xanh, không gắn biển số, số khung: RLHJA3939PY081771, số máy: JA70E0111060, 01 Đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 013166 và 01 biển số xe 98E1-888.42 của bà Trịnh Thị Lệ H4 theo biên bản giao vật chứng ngày 10/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn cần trả lại theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  10. Về án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

  11. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Điều 90; Điều 91, Điều 98, Điều 101, Điều 54 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt bị cáo Lý Đăng K 02 năm 03 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giam (ngày 01/4/2024).

  2. Án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Lý Đăng K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại bà Trịnh Thị Lệ H4 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn Xanh, không gắn biển số, số khung: RLHJA3939PY081771, số máy: JA70E0111060, 01 Đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 013166 và 01 biển số xe 98E1-888.42 theo biên bản giao vật chứng ngày 10/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Đại diện bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm Công an T. Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, người liên quan;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lương Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HS - ST ngày 26/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 93/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lý Đăng K, sinh ngày 18/5/2007 là người chưa đủ tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên và chưa có phép lái xe mô tô theo quy định. Khoảng 21 giờ ngày 27/01/2024, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn Xanh, không gắn biển kiểm soát, có dung tích xi lanh 109.2 cm3 chở phía sau là Nguyễn Thế H2 và Đoàn Đức M1 đi trên Quốc lộ C, hướng thị trấn C đi huyện S. Khi K điều khiển xe mô tô đi đến Km44+900, khu vực ngã ba (có đường rẽ trái đi xã B) thuộc thôn P, xã H, huyện L, K phát hiện thấy phía trước cùng chiều có xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, biển số 98E1-580.16 do chị Chu Thị P1 điều khiển đang bật đèn xi nhan rẽ trái sang đường, tuy nhiên do K không giữ khoảng cách an toàn với xe đi phía trước cùng chiều, khi đến nơi đường giao nhau không giảm tốc độ và điều khiển xe đi lấn sang phần đường bên trái theo chiều đi nên đã va chạm với xe mô tô do chị P1 điều khiển sang đường. Hành vi của K đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 12, Điều 24, khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ. Hậu quả: Chị Chu Thị P1 tử vong; 02 phương tiện bị hư hỏng tổng thiệt hại 4.665.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger