Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2023/HS-ST

Ngày 25/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.

Các Hội thẩm Tòa án nhân dân:

  • 1. Ông Thái Quang Định.
  • 2. Ông Phan Tuấn Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2023/TLST- HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2023/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Bùi Văn L, sinh ngày 02 tháng 11 năm 1992 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn 2, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn V và bà Hoàng Thị T; có vợ là Nguyễn Thị P, có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ ngày 15/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
  2. Người làm chứng:
  • - Anh Hà T, sinh năm 1969.
  • Địa chỉ: tổ 1, khu 6, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
  • - Anh Đoàn Thanh C, sinh năm 1974.
  • Địa chỉ: tổ 3, khu 8, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 05 phút ngày 15/8/2023, tại khu vực tổ 1, khu 6, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố Uông Bí bắt quả tang Bùi Văn L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng. Vật chứng thu giữ: Thu giữ tại lòng bàn tay trái của L 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng có in chữ “Thăng Long”, trong có 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng.

Kết luận giám định số 1189/KL-KTHS ngày 18/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy; Loại: Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine; Khối lượng: 0,281 gam (không phẩy hai tám một gam).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn L khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 15/8/2023, L đang ở nhà thì nảy sinh nhu cầu sử dụng ma túy, nên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 14Z1- 391.10 đến một quán nước ven đường ở khu vực ngã ba Nhà thờ thuộc phường T, thành phố U mua ma tuý. Tại đây, L được 01 người đàn ông lạ mặt (không rõ lai lịch, địa chỉ) cho số điện thoại của 01 người đàn ông khác bán ma túy, L gọi điện thoại cho người này hỏi mua 300.000 đồng ma tuý Heroine, người này đồng ý và hẹn L đến 01 ngõ thuộc khu vực cổng Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí giao nhận ma tuý (được đựng trong 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long) và tiền mua bán ma tuý. Sau khi mua được số ma tuý trên, L cầm trên tay đi tìm nơi sử dụng, khi đi đến khu vực cổng Bệnh viện Việt Nam – Thuỵ Điển Uông Bí thuộc khu vực Tổ 1, Khu 6, phường T, thành phố U, thì bị Công an thành phố Uông Bí phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng toàn bộ vật chứng.

Người làm chứng anh Hà T và anh Đoàn Thanh C đều có lời khai trong quá trình điều tra với nội dung: hai anh thấy lượng công an kiểm tra đối với Bùi Văn L, quá trình kiểm tra thu giữ tại lòng bàn tay trái của L 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng có in chữ “Thăng Long”, trong có 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, L khai là ma túy loại Heroine, mục đích cất giấu ma túy để sử dụng.

Tại Cáo trạng số 156/CT – VKSQN-P1 ngày 22/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Bùi Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với Bùi Văn L như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn L từ 12 đến 15 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 15/8/2023.

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu số ma túy hoàn lại sau giám định, 01 sim điện thoại và 01 vỏ bao thuốc lá . Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme.

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc định tội đối với bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; lời khai của bị cáo còn phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 05 phút ngày 15/8/2023, tại khu vực Tổ 1, Khu 6, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Văn L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hành vi tàng trữ trái phép 0,281 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng, thì bị Công an thành phố Uông Bí bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cầu thành thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Hình phạt chính:

Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm

cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để bị cáo rèn luyện, giáo dục và sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt có ý thức chấp hành pháp luật.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ (năm triệu đồng) đến 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng). Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội không vì mục đích lợi nhuận và bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

01 (một) phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 1189/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long không có giá trị, không sử dụng được nên tịch thu và tiêu hủy.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu xanh (đã qua sử dụng), bị cáo đã dùng chiếc điện thoại này vào giao dịch mua bán ma túy, là công cụ phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

01 (một) sim điện thoại số 0342.976.xxx gắn trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REALME thu giữ của bị cáo không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 14Z1- 391.10, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Phạm Thị P (là mẹ vợ của Bùi Văn L), không liên quan đến tội phạm, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị P nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông cho L số điện thoại để liên hệ với người bán ma tuý và người đàn ông bán ma túy cho L (có số điện thoại 0898.769.xxx), quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã gửi cho Tổng công ty viễn thông Mobifone yêu cầu xác minh, cung cấp

thông tin về người đăng ký sử dụng số điện thoại trên, nhưng chưa nhận được trả lời và cũng không xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tách ra để điều tra, làm rõ, xử lý sau.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và mức hình phạt:
  2. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

    Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 15/8/2023.

  3. Về xử lý vật chứng:
  4. Căn cứ: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 1189/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long và 01 (một) sim điện thoại số 0342.976.xxx.

    Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu xanh (đã qua sử dụng).

    (Tình trạng và đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng hồi 09 giờ 45 phút, ngày 28 tháng 11 năm 2023 giữa Công an thành phố Uông Bí và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).

  5. Về án phí:
  6. Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Danh mục án phí, lệ phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

    Buộc bị cáo Bùi Văn L phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

  7. Quyền kháng cáo:
  8. Căn cứ: Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- Bị cáo.

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Uông Bí;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí;
  • - CQCSĐT Công an thành phố Uông Bí;
  • - CQTHAHS Công an thành phố Uông Bí;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố Uông Bí;
  • - Chi cục THADS thành phố Uông Bí;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh.
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2023/HS-ST ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 93/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn L - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger