Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/HS-ST

Ngày: 25 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Khánh Linh.

Các Hội thẩm nhân dân.

- Bà Nguyễn Thị Kim Thu;

- Ông Lê Văn Công.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn là Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quốc V, sinh năm 1986 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: 88/14 khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm 1965; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2023; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Lê Thị G, sinh năm 1990; trú tại: 8, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị Kim H1, địa chỉ: ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 08/7/2023, Nguyễn Quốc V điều khiển xe mô tô biển số 67K1-139.64 đi tìm phòng trọ. Khi V đang điều khiển xe mô tô trên đường đất hướng ra cầu S, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì thấy bà Lê Thị G đang đi bộ cùng con gái tên Lê Minh Thảo N, sinh năm 2016 theo chiều ngược lại. Khi cách bà G khoảng 03m, V thấy trên cổ bà G có đeo 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng và 01 mặt sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng nên V nảy sinh ý định chiếm đoạt sợi dây chuyền trên. Thực hiện ý định, V điều khiển xe áp sát từ phía bên trái bà G và dùng tay trái giật sợi dây chuyền nhưng không trúng, đồng thời V bị bà G dùng tay chụp trúng vai áo làm V cùng xe té ngã. Sau khi té ngã, V tiếp tục đứng dậy, dùng tay trái giật sợi dây chuyền của bà G làm sợi dây chuyền rơi xuống đất. Lúc này, V bị bà G giữ lại. Cùng lúc, em trai bà G tên Lê Sỹ N1 đến đón bà G và người dân xung quanh thấy vậy thì hỗ trợ bà G giữ V và báo Công an phường B đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Quốc V, đồng thời tạm giữ các vật chứng và giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xử lý theo thẩm quyền gồm:

Vật chứng thu giữ:

  • 01 xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Luvias, màu sơn: Vàng – đen, số khung: RLCL44S10CY068710, số máy: 44S1068718, biển số 67K1-139.64;
  • 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng;
  • 01 mặt dây chuyền kim loại màu vàng.

Tại biên bản và Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng 18K và 01 mặt dây chuyền vàng 18K, có trọng lượng là 02 chỉ 51 phân, có giá trị hiện tại là 8.157.000 đồng.

Cáo trạng số 74/CT-VKS-TA ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Quốc V về tội Cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An trình bày lời luận tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V mức hình phạt từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 sợi dây chuyền vàng 18K và 01 mặt dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 02 chỉ 51 phân. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của bà G, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho bà G nên đề nghị không xem xét.

01 xe môtô nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Luvias, màu sơn: Vàng - Đen, số khung: RLCL44S10CY068710, số máy: 44S1068718, biển số: 67K1-139.64. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên do bà Huỳnh Thị Kim H1 đứng tên chủ sở hữu, đã bán cho người khác nhưng chưa làm thủ tục mua bán theo quy định pháp luật nên đề nghị giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị hại và người tham gia tố tụng khác nên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Vào Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 08/7/2023, tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Quốc V có hành vi điều khiển xe mô tô áp sát, giật 01 sợi dây chuyền vàng 18K và 01 mặt dây chuyền vàng 18K, có trọng lượng là 02 chỉ 51 phân, trị giá 8.157.000 đồng của bà Lê Thị G đã đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nhưng do muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài không phải bằng chính sức lao động của mình, bị cáo đã bất chấp nguy hiểm, thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại một cách nhanh chóng, táo bạo, công khai ngay trên đường giao thông nhiều người qua lại, chứng tỏ bị cáo có thái độ liều lĩnh, xem thường pháp luật, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định nêu trên, đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố T đề nghị áp dụng mức hình phạt như trên đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.

[6] Về xử lý vật chứng:

01 sợi dây chuyền vàng 18K và 01 mặt dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 02 chỉ 51 phân là tài sản hợp pháp của bà G nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho bà G là phù hợp pháp luật.

01 xe môtô nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Luvias, màu sơn: Vàng - Đen, số khung: RLCL44S10CY068710, số máy: 44S1068718, biển số: 67K1-139.64. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên do bà Huỳnh Thị Kim H1 đứng tên chủ sở hữu, đã bán cho người khác nhưng chưa làm thủ tục mua bán theo quy định pháp luật. Bị cáo V khai nhận mua chiếc xe trên của người không rõ nhân thân, địa chỉ. Do đó, cần tiếp tục giao chiếc xe mô tô trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để điều tra theo quy định pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm d khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
  • - Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc V phạm tội Cướp giật tài sản.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2023.

  2. Về xử lý vật chứng:

    Giao xe môtô nhãn hiệu: Yamaha, số loại: LUVIAS - 44S1, thể tích: 124,9cm³, màu sơn: Vàng - Đen, số khung: RLCL44S10CY068710, số máy: 44S1068718, biển số: 67K1-139.64 cho Công an thành phố T tiếp tục xác minh và giải quyết theo quy định pháp luật.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/3/2024.

  3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thuận An;
  • - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Khánh Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 93/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc Vinh - tội cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger