Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 93/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 6 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam.
Ông Nguyễn Thành Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Khel.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Mị - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hồng P, sinh ngày: 21/4/1986 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: số F, đường N, Khóm F, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nơi ở hiện nay: số H, đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S. Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn D và bà Hứa Thị Thúy H; vợ Nguyễn Thị Bích V (đã ly hôn), con có 01 người; tiền sự: không; tiền án: không; nhân thân: tại Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2013/HSST ngày 27/8/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chấp hành xong ngày 22/11/2015, đã đóng án phí; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2020/HS-ST ngày 22/7/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản chấp hành xong ngày 16/8/2021, được miễn án phí; Ngày 27/3/2020 bị Công an P2, thành phố S xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, đã thực hiện xong. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/3/2024 đến nay (có mặt).

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1959. Nơi cư trú: số F đường C, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 25/12/2023, Nguyễn Hồng P đi ra công viên B, thuộc Phường B, thành phố S để chơi đá bóng. Khi đến công viên thì không thấy có người chơi cùng, nên P đi bộ tập thể dục ở đường T, Phường B, thành phố S. Khi đi bộ được khoảng 04 vòng đường T thì P phát hiện xe mô tô biển số 71K4-4774 của bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1959 đang đậu trên vỉa hè trước nhà khách Tỉnh ủy S, chìa khóa còn cắm trong ổ khóa, không có người trông coi. P tiếp tục đi bộ thêm khoảng 03 vòng trên đường T thì P đi lại và ngồi lên xe mở chia khóa khởi động thì xe nổ máy, P điều khiển xe chạy trên đường T rồi rẽ phải đi ra đường N tìm người để bán xe vừa trộm được. P đi nhiều chỗ nhưng không bán được xe nên P đi đến chợ N thuộc Phường I, thành phố S gặp ông Nguyễn Minh Đ là người quen biết với cha ruột P. P hỏi ông Đ ở đây có ai mua xe không, thì ông Đ nói không có ai mua. Lúc này, ông Đ thấy cánh tay của P bị sưng nên hỏi thăm thì P nói do bị tai nạn giao thông rồi P hỏi mượn ông Đ 1.000.000 đồng để mua thuốc uống, thấy ông Đ phân vân nên P nói thêm “Anh cho em gửi chiếc xe ở đây, ngày mai nếu không có tiền thì em kiếm chỗ nào bán xe em trả tiền lại cho anh” thì ông Đ đồng ý cho P mượn số tiền 1.000.000 đồng và P gửi chiếc xe chỗ ông Đ. Sau khi có tiền, P đi đến bưu điện đóng tiền điện sử dụng ở nhà, nhưng do trễ giờ nên không đóng được. Sau đó, P thuê xe ôm đi mua thuốc và về nhà.

Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐG ngày 05/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố S, kết luận: 01 (một) xe mô tô, biển số 71K4-4774, nhãn hiệu Honda Wave, loại xe nữ, màu sơn đỏ, dung tích 97, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 20%, với giá 4.400.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 88/CT-VKSTPST ngày 10/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Nguyễn Hồng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng P và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng P phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo chiếm đoạt được thu giữ kịp thời trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đề nghị áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bà Nguyễn Thị P1 01 (một) xe mô tô, biển số 71K4-4774, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn đỏ, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hồng P thừa nhận hành vi phạm tội, không trình bày tranh luận bào chữa và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Hồng P thừa nhận nội dung cáo trạng phản ánh đúng hành vi của bị cáo, lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 25 tháng 12 năm 2023, bị cáo Nguyễn Hồng P đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô, biển số 71K4-4774, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn đỏ, có giá trị là 4.400.000 đồng.

[3] Bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý lén lút lấy trộm tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (khoản 1 Điều 173 BLHS quy định: Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm). Từ đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo chiếm đoạt được thu giữ kịp thời trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2013/HSST ngày 27/8/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chấp hành xong ngày 22/11/2015 và tại Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2020/HS-ST ngày 22/7/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản chấp hành xong ngày 16/8/2021, đã được xoá án tích; Ngày 27/3/2020 bị Công an P2, thành phố S xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, đã thực hiện xong, nhưng đây là tình tiết cần xem xét lúc lượng hình.

[7] Về hình phạt: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên là xử phạt bị cáo hình phạt tù với một thời gian nhất định đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 01 (một) xe mô tô, biển số 71K4-4774, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn đỏ, đã qua sử dụng cần trả lại cho chủ sở hữu.

[9] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét.

[10] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11] Đối với ông Nguyễn Minh Đ là người cho bị cáo P mượn 1.000.000 đồng và giữ chiếc xe mà bị cáo lấy trộm của bà P1 nhưng ông Đ không biết chiếc xe đó là do bị cáo P lấy trộm của người khác nên không cơ sở xử lý.

[12] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hồng P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án.

3/. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bà Nguyễn Thị P1 01 (một) xe mô tô, biển số 71K4-4774, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn đỏ, đã qua sử dụng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.

4/. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại Nguyễn Thị P1 không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét.

5/. Về án phí: buộc bị cáo Nguyễn Hồng P phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6/. Bị cáo. bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND thành phố Sóc Trăng;
  • - CQCSĐT - Công an thành phố Sóc Trăng;
  • - CQTHAHS - Công an thành phố Sóc Trăng;
  • - Bộ phận nghiệp vụ - Công an thành phố Sóc Trăng;
  • - Chi cục THA Dân sự thành phố Sóc Trăng;
  • - Bị cáo và những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ; TAND TP Sóc Trăng;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 93/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger