|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 93/2024/HS-ST Ngày: 23-4-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thắng
Bà Vương Thị Minh Tân
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Vũ Đức Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn H, sinh năm 1977 tại tỉnh Ninh Bình; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: số D đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: tổ dân phố H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L và bà Trịnh Thị T; có vợ đã ly và 02 con; tiền án: không; tiền sự: ngày 27-9-2023, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn là 18 tháng (chưa thi hành); nhân thân: Ngày 30-6-2023, Công an phường T phạt vi phạm hành chính, phạt cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04-01-2024, chuyển tạm giam từ ngày 13-01-2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Ông Bùi Thành T1; ông Phạm Duy T2 (không triệu tập đến phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, tổ công tác Công an phường T nhiệm vụ tại khu vực K đường V, thuộc xã L, thành phố N phát hiện Lê Văn H khiển xe máy Honda Dream, biển kiểm soát 18Z4 - 7427 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Hoàng thả từ tay trái xuống đất 02 gói giấy bạc màu trắng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (H khai là H mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Văn H ra, tạm giữ của H 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18Z4 – 7427, đã cũ.
Tại Bản kết luận giám định số 247/KL-KTHS ngày 10-01-2024 của của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 gói nhỏ đều bọc bằng giấy bạc màu trắng, được niêm phong gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine (H Tổng khối lượng mẫu: 0,232 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn H nhận: Khoảng 09 giờ ngày 04-01-2024, H khiển xe máy biển kiểm soát 18Z4 – 7427 từ nhà đến khu vực hồ A, phường C, thành phố N một người đàn ông (không biết lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 100.000 đồng H người đàn ông nhận tiền và đưa cho H 02 gói Heroine đều gói bằng giấy bạc màu trắng. H cầm 02 gói Heroine trong tay trái rồi điều khiển xe đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Công an phường T N tiến hành rà soát đối tượng bán ma túy cho H ở khu vực hồ A, phường C, thành phố N. Kết quả: không xác định được người nào có đặc điểm như H nhận nên Cơ quan điều tra tách ra, xử lý sau.
Bản cáo trạng số 91/CT-VKS-TPNĐ ngày 28-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu và không khai báo thêm tình tiết gì mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Lê Văn H tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo.
Bị cáo Lê Văn H nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn H trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ vật chứng; Bản kết luận giám định số 247/KL-KTHS ngày 10-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04-01-2024, tại khu vực K đường V, thuộc xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định Lê Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,232 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Lê Văn H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,232 gam Heroine. Vì vậy bị cáo Lê Văn H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
3.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Lê Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
3.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị can không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là đối tượng có nhân thân xấu.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn H là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N; Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Lê Văn H tàng trữ ma túy, mục đích để sử dụng, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Số ma túy thu giữ của bị cáo trong phong bì niêm phong số 247/KL-KTHS là vật thuộc loại nhà Nhà nước cấm tàng trữ nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
- - Chiếc xe máy biển kiểm soát 18Z4 - 7427 là tài sản của anh Trần Đức A (em vợ Hanh Đức A) biết H mượn xe đi đâu, làm gì nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Đức A là đúng quy định của pháp luật.
[7] Các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí:
Bị cáo Lê Văn H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn H 2 năm 3 tháng tù (hai năm ba tháng tù).
- Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04-01-2024.
-
Xử lý vật chứng:
- - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- - Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 247/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N.
- (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05-4-2024).
-
Án phí:
- - Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Bị cáo Lê Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo:
Bị cáo Lê Văn H có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Lê Văn H có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Hà |
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ma túy
