Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/HS-ST

Ngày 23-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Quốc Hoàn.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh Phương.
  • Bà Lê Thị Kim Xuyến.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Đình Linh Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Bà Đặng Vân Hoàng Yến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 192/2024/HSST-QĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Ngô Văn P, sinh năm 1991, tại tỉnh An Giang.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; Nơi tạm trú: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn M, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Huỳnh M1, sinh năm 1970; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có vợ Lê Thị Y, sinh năm 1993 và có hai con chung lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Bị cáo có mặt).

- Bị hại: Công ty TNHH D.

Địa chỉ: Số A Đ, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn V – chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đoàn Văn Thanh H – chức vụ: Phó Phòng nghiệp vụ - giám sát khu vực N. (Anh H vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Phan Huy T, sinh năm 1992 và chị Lê Thị L, sinh năm 1998.
  • Cùng địa chỉ: Ấp X - Bà K, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Anh T và chị L vắng mặt)
  • + Bà Tăng Thị B – chủ hộ kinh doanh cầm đồ Nhật Minh 79.
  • Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Văn S, sinh năm 1994; địa chỉ: Khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Anh S có mặt)
  • + Anh Cao Quốc G, sinh năm 1985. (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
  • + Anh Đoàn Văn Q, sinh năm 2005. (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
  • Nơi tạm trú: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

· Người làm chứng:

  • + Ông Ngô Văn M, sinh năm 1965. (Có mặt)
  • + Anh Nguyễn Mậu Đ, sinh năm 1987. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Văn P là công nhân bộ phận kho của Công ty trách nhiệm hữu hạn C thuộc khu công nghiệp L, huyện N. Vào tháng 05 năm 2023, P vào công ty làm việc, khi gửi xe thì bảo vệ có đưa dư cho P 01 thẻ gửi xe, P giữ lại. Vào lúc 08 giờ ngày 24/7/2023, P nảy sinh ý định vào công ty trách nhiệm hữu hạn C để dùng thẻ gửi xe trên để lấy xe mô tô biển số 37F2-504.65 của anh Phan Huy T (sinh năm 1992) để tại nhà xe. Khi mọi người đang ngủ trưa, P đến tủ cá nhân của T lấy chìa khóa xe, đến 17 giờ cùng ngày, P đi ra nhà xe, lấy chiếc xe mô tô của T, đưa thẻ gửi xe cho bảo vệ là anh Đoàn Văn Q (sinh năm 2005) kiểm tra. Sau đó, P điều khiển xe ra khỏi công ty chạy xe đến tiệm cầm đồ N ở khu phố M, thị trấn H, huyện N cầm cho anh Lê Văn S (sinh năm 1994) với giá 9.000.000 đồng, đồng thời P mở cốp xe lấy của T 200 USD đổi cho một người (không rõ nhân thân) được số tiền 4.100.000 đồng. Đến 20 giờ cùng ngày, anh T tan ca lấy xe về thì phát hiện xe bị mất nên báo cho bảo vệ công ty biết. Đến ngày 27/7/2023, T đã trình báo vụ việc đến Đồn Công an Khu công nghiệp, Công an Khu công nghiệp lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N điều tra xử lý.

Tại Kết luận định giá tài sản số 167/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2023 của Hội đồng định giá huyện N kết luận 01 xe mô tô hiệu Yamaha, hiệu Janus, màu đỏ, biển số 37F2-504.65, giá trị sử dụng còn lại 45%, trị giá 14.175.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 206/KL-HĐĐGTS ngày 10/11/2023 của Hội đồng định giá huyện N kết luận 200 USD, giá trị sử dụng còn lại 100%, trị giá 4.765.000 đồng.

2

Vật chứng thu giữ gồm: 01 thẻ giữ xe số 07 ghi tên Công ty TNHH D; 01 xe mô tô biển số 37F2-504.65 kèm theo 01 giấy đăng ký xe số 055599 tên chủ xe Lê Thị L.

Tại cáo trạng số 52/CT-VKSLT ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Ngô Văn P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Văn P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị áp dụng điểm khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn P mức án từ 14 đến 16 tháng tù.

Về xử lý vật chứng Viện kiểm sát đề nghị: 01 thẻ giữ xe số 07 ghi tên Công ty TNHH D, 01 xe mô tô biển số 37F2-504.65 kèm theo 01 giấy đăng ký xe số 055599 tên chủ xe Lê Thị L đã trả lại cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 65/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 02/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hình vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án;

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm anh Phan Huy T, chị Lê Thị L, anh Cao Quốc G, anh Đoàn Văn Q và người làm chứng anh Nguyễn Mậu Đ vắng mặt, trong đó người đại diện theo uỷ quyền của bị hại có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình điều tra, tuy tố người đại diện theo uỷ quyền của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã có lời khai đầy đủ và việc vắng mặt họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Mặc dù tài sản bị chiếm đoạt thuộc

3

quyền sở hữu của anh Phan Huy T và chị Lê Thị L, tuy nhiên giữa Công ty TNHH D và Công ty TNHH C1 ký hợp đồng cung ứng dịch vụ bảo vệ số 0208/HĐ-CT-BL/2023 ngày 01/8/2023. Và theo hợp đồng này thì trường hợp bị thiệt hại do lỗi của nhân viên bảo vệ thì Công ty TNHH D phải bồi thường 100% giá trị tài sản cho công nhân viên của Công ty TNHH C1. Việc bị cáo P thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đã trực tiếp gây thiệt hại cho Công ty D. Do đó, căn cứ Điều 62 và Điều 65 của Bộ luật tố tụng hình sự xác định Công ty TNHH D là bị hại, anh Phan Huy T và chị Lê Thị L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[2] Về căn cứ định tội danh và điều luật áp dụng:

Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cùng các vật chứng, tài liệu thu giữ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 24 tháng 7 năm 2023, Ngô Văn P đã sử dụng thủ đoạn gian dối bằng cách đưa thẻ gửi xe cũ lừa dối nhân viên bảo vệ để lấy xe mô tô biển số 37F2-504.65, trị giá 14.175.000 đồng và 200 USD trị giá 4.765.000 đồng của anh Phan Huy T ở Công ty TNHH C, thuộc khu công nghiệp L, huyện N. Sau đó, P đem xe cầm cho anh Lê Văn S được số tiền 9.000.000 đồng và đổi 200 USD được 4.100.000 đồng. Tổng số tiền P chiếm đoạt là 18.940.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 167/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2023 của Hội đồng định giá huyện N kết luận 01 xe mô tô hiệu Yamaha, hiệu Janus, màu đỏ, biển số 37F2-504.65, giá trị sử dụng còn lại 45%, trị giá 14.175.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 206/KL-HĐĐGTS ngày 10/11/2023 của Hội đồng định giá huyện N kết luận 200 USD, giá trị sử dụng còn lại 100%, trị giá 4.765.000 đồng.

Tài sản bị chiếm đoạt gồm xe mô tô biển số 37F2-504.65 và 200 USD của anh Phan Huy T, nhưng anh T là người làm việc trong công ty TNHH C, khi anh T gửi chiếc mô tô biển số 37F2-504.65 cho bảo vệ công ty TNHH D thì anh đã chuyển giao quyền quản lý tài sản trên cho nhân viên bảo vệ Công ty TNHH D. Do đó việc bị cáo Ngô Văn P thực hiện hành vi gian dối dùng thẻ gửi xe cũ lừa dối nhân viên bảo vệ để chiếm đoạt xe mô tô biển số 37F2-504.65 và 200 USD cất giữ trong xe là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Ngô Văn P đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo theo tội danh, khoản, Điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu lợi ích cá nhân bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

4

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, hiện đang nuôi con nhỏ. Đây là những tình tiết quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 thẻ giữ xe số 07 ghi tên Công ty TNHH D, 01 xe mô tô biển số 37F2-504.65 kèm theo 01 giấy đăng ký xe số 055599 tên chủ xe Lê Thị L đã trả lại cho chủ sở hữu theo theo đúng quy định của pháp luật, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Ngô Văn P đã bồi thường số tiền 8.500.000 đồng cho anh Phan Huy T, anh T không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Đối với số tiền 9.000.000 đồng bị cáo chiếm đoạt từ việc cầm cố chiếc xe mô tô biển số 37F2-504.65 cho Chủ hộ kinh doanh cầm đồ Nhật Minh 79. Tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của Chủ hộ kinh doanh cầm đồ Nhật Minh 79 là anh Lê Văn S có yêu cầu buộc bị cáo phải trả lại số tiền 9.000.000 đồng. Xét thấy tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên nên buộc bị cáo Ngô Văn P phải bồi thường số tiền 9.000.000 đồng cho chị Tăng Thị B - Chủ hộ kinh doanh cầm đồ Nhật Minh 79.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 450.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[10] Về những vấn đề khác: Đối với anh Lê Văn S là người cầm xe mô tô biển số 37F2-504.65 cho P, nhưng anh S không biết xe mô tô trên do P phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra Công an huyện N không xử lý là đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố bị cáo Ngô Văn P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Ngô Văn P: 08 (T1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Ngô Văn P có nghĩa vụ bồi thường cho chị Tăng Thị B – chủ hộ kinh doanh cầm đồ Nhật Minh 79 số tiền 9.000.000 đồng.

Kể từ có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí:

    Buộc bị cáo Ngô Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 450.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Nhơn Trạch;
  • - Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo, bị hại, đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Quốc Hoàn

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 93/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn P phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger