Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 93/2024/HSST

Ngày: 22/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lợi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà

Bà Nguyễn Thị Luận

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Cù Ngô Ngọc Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 90/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Bá H, sinh năm 1976; HKTT và cư trú: Xóm C, thôn H, xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá H1 (đã chết) và bà Hà Thị M; vợ: Nguyễn Thị H2 và 03 con: lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không; D chỉ bản số 289 do Công an huyện C lập ngày 27/4/2024.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1974;

Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội (có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Bùi Thị P, sinh năm 1986;

Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện C, Tp . (có đơn xin vắng mặt).

2. Ông Đỗ Viết Đ1, sinh năm 1963 và bà Trịnh Thị H3, sinh năm 1963;

Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện C, Tp . (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

1

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Ngô Văn Đ (sinh năm 1974; trú tại thôn P, xã T, huyện C, Tp.) là chủ quyền sử dụng 02 thửa đất tại thôn P, xã T (trong đó: 01 thửa đất số 102C tờ bản đồ số 05, có diện tích 150m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 979871 do UBND huyện C cấp ngày 20/7/2009; 01 thửa đất số 271, tờ bản đồ số 05, có diện tích 183m²). Hai thửa đất giáp nhau.

Ngày 09/4/2022, anh Đ đã chuyển nhượng thửa đất số 102C tờ bản đồ số 05, có diện tích 150m² cho đồng sử dụng là Nguyễn Bá H (sinh năm 1976; trú tại thôn H, xã H, huyện T, Tp.), anh Bùi Tú Q (sinh năm 1991; trú tại nhà số B, LK11, KĐT V, phường P, quận H, Tp .) và anh Trương Công Thái H4 (sinh năm 1988; trú tại số B, K, phường V, quận H, Tp .) cùng mua chung.

Cũng trong ngày, anh Đ chuyển nhượng cho chị Đặng Thị L (sinh năm 1980; trú tại khu D, phường V, Tp., tỉnh Bắc Ninh) 01 thửa đất số 271, tờ bản đồ số 05, có diện tích 183m² liền kề tiếp giáp với thửa đất số 102C tờ bản đồ số 05, có diện tích 150m2 mà anh Đ đã bán cho H4 và cùng tiếp giáp với phần đất còn lại của anh Đ.

Đến ngày 10/4/2022, anh Đ nhờ bà Ngô Thị Đ2 (tên gọi khác: T); sinh năm 1970; trú tại thôn P, xã T, huyện C, Tp . thuê thợ xây dựng một đoạn tường bao dài khoảng 30m, cao khoảng 3,5m bằng gạch lục, quanh phần đất của anh Đ. Anh Đ bảo thợ xây lấn sang phần diện tích của thửa đất đã bán cho H4 và chị L. Đến ngày 25/4/2022, chị Bùi Thị P (sinh năm 1986; trú tại TDP N, thị trấn C, huyện C, Tp .; là người môi giới cho chị L mua thửa đất nêu trên) đi qua khu vực thửa đất của chị L mua của anh Đ thì phát hiện thấy chị Đ2 (T) đứng chỉ cho những người thợ xây tường bao xây lấn sang thửa đất của chị L và thửa đất của Nguyễn Bá H. Chị P hỏi chị Đ2 lý do xây tường bao lên đất của chị L và H. Lúc này, chị Đ2 (T) trả lời là được anh Đ nhờ thuê người xây dựng tường bao theo diện tích đất mà anh Đ chỉ ranh giới xây dựng. Sau đó, chị P gọi điện thoại báo cho chị L biết việc anh Đ cho người xây dựng tường bao lấn sang thửa đất của chị L.

Đến khoảng đầu tháng 05/2022, Nguyễn Bá H cùng với anh Bùi Tú Q và anh Trương Công Thái H4 đến bộ phận một cửa huyện C nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó cả 03 người cùng đến thửa đất số 102C tờ bản đồ số 05 thì phát hiện đã có người xây dựng tường bao lấn sang thửa đất của mình nên H4, anh Q, anh Thái H4 đến UBND xã T gặp anh Trịnh Hữu V (sinh năm 1987; trú tại thôn C, xã T, huyện C, Tp .; nguyên cán bộ địa chính xã T) trình bày và đề nghị giải quyết việc anh Đ xây dựng tường bao lấn sang phần đất của mình. H4 được anh V cho biết, anh Đ là người đã xây dựng tường bao nêu trên. Sau đó, Nguyễn Bá H cùng với anh Q, anh Thái H4 đến nhà anh Đ nói chuyện. Nguyễn Bá H trực tiếp gặp nói chuyện, đề nghị anh Đ phá dỡ đoạn tường bao xây sang đất của H nhưng anh Đ không đồng ý. Khi ra về, Nguyễn Bá H lại nói với anh Q và anh Thái H4 là anh Đ đã đồng ý cho phá dỡ đoạn tường mới xây.

Đến khoảng tháng 01/2024, do muốn tách thửa đất 01 thửa đất số 271, tờ bản đồ số 05, có diện tích 183m² đã mua của anh Đ để bán, nhưng phần diện tích thửa đất bị anh Đ xây tường bao lấn sang chưa bị phá dỡ. Chị L đã nhờ chị P đến UBND xã T đề nghị giải quyết việc anh Đ đã xây tường lấn sang phần đất của mình, chi phí phá dỡ tường bao chị L sẽ chi trả. Sau đó, chị P gọi điện thoại cho Nguyễn Bá H để bàn bạc việc yêu cầu muốn tách thửa của chị L để cùng thực

2

hiện. Nguyễn Bá H đồng ý và nói với chị P rằng anh Đ đã đồng ý cho phá dỡ tường bao. Chị P tưởng thật, nên thống nhất bàn với Nguyễn Bá H thuê người phá dỡ bức tường bao mà anh Đ đã xây để xác định mốc giới đất đai của chị L và Nguyễn Bá H. Nguyễn Bá H bảo chị P thuê người đến phá dỡ tường bao. Trao đổi qua điện thoại xong, Nguyễn Bá H và chị P hẹn nhau đến ngày 17/01/2024 cùng đi vào vị trí thửa đất ở thôn P, xã T để cùng thuê người phá dỡ tường xây. Sau khi thống nhất, chị P liên hệ với ông Đỗ Viết Đ1 (sinh năm 1963) và bà Trịnh Thị H3 (sinh năm 1963) - là cậu mợ của chị P, đều trú tại thôn L, xã Q, huyện C, Tp . thống nhất hợp đồng hẹn đến ngày 17/01/2024 ông Đ1, bà H3 đến khu vực thôn P, xã T để phá dỡ tường bao.

Đến khoảng 09 giờ ngày 17/01/2024, Nguyễn Bá H cùng anh Q, anh Thái H4 đi đến thửa đất số 102C tờ bản đồ số 05 thì gặp chị P cùng ông Đ1, bà H3. Tại đây, Nguyễn Bá H cùng chị P thống nhất thuê phá dỡ tường bao và chỉ vị trí cho ông Đ1, bà H3 phá dỡ. Hai bên thỏa thuận tiền công phá dỡ hết 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Trong đó, anh H phải trả số tiền là 2.500.000 đồng; P phải trả số tiền là 2.500.000 đồng.

Sau khi thỏa thuận giá thuê xong, chị P đã ứng trước cho ông Đ1 số tiền là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Hai bên hứa hẹn sau khi phá dỡ xong thì sẽ trả hết số tiền còn lại. Sau đó, mọi người cùng đi về, còn ông Đ1 và bà H3 ở lại dùng 01 (một) chiếc xà beng làm bằng kim loại, dài khoảng 1,5m; 01 (một) chiếc búa tạ dài 70cm, phần chuôi hình trụ tròn bằng gỗ dài 65cm, đường kính 4cm, phần búa hình hộp, bằng kim loại, kích thước (13,5x6x6)cm đập phá tường bao theo vị trí đã được Nguyễn Bá H và chị P thuê. Đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, ông Đ1 và bà H3 phá dỡ xong đoạn tường bao kích thước (14,4 x 3,5)m trên phần diện tích đất của Nguyễn Bá H. Khi chuẩn bị phá dỡ đến doạn tường trên phần đất của chị L thì anh Đ đến yêu cầu ông Đ1, bà H3 dừng ngay việc phá dỡ tường bao lại nhưng ông Đ1 không biết, mà cho rằng chỉ làm thuê nên không dừng lại, dẫn đến xô xát giữa ông Đ1 với anh Đ.

Quá trình xô xát, anh Đ dùng tay đấm 02 (hai) cái vào vùng đầu và dùng chân đạp 01 (một) cái vào vùng bụng ông Đ1. Do có một số người dân đến can ngăn nên không xảy ra xô xát đánh nhau nữa.

* Hậu quả:

- 01 phần tường bao bị hủy hoại có diện tích (14,4x3,5)m = 50,4m2 xây bằng gạch vữa theo kiểu gạch đơn, loại gạch lỗ diện (10x21x5,5)cm; 01 đoạn dầm được xây bằng bê tông có cốt bằng sắt diện (4,19x0,39)m = 1,6m2.

- Ông Đ1 bị tổn thương phần mềm, không để lại thương tích gì, không điều trị ở cơ sở y tế nào.

Đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày 17/01/2024, anh Đ đã đến Công an xã T thuộc Công an huyện C trình báo nội dung sự việc. Nhận được tin báo, Công an xã T đã phối hợp cùng Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) chiếc xà beng, làm bằng kim loại, dài khoảng 1,5m;

- 01 (một) chiếc búa tạ dài 70cm, phần chuôi hình trụ tròn, bằng gỗ, dài 65cm, đường kính 4cm, phần búa hình hộp, bằng kim loại, kích thước (13,5x6x6)cm.

* Về kết quả khám nghiệm hiện trường:

3

Hiện trường chung được xác định xảy ra tại phần tường bao nằm giữa phần đất của Nguyễn Bá H, SN 1976 và anh Ngô Văn Đ, SN 1974 thuộc thôn P, xã T, huyện C, Tp . thấy:

- Phía Bắc giáp với phần đất trống của chị Đặng Thị L.

- Phía Nam giáp với trục đường xóm của thôn P, cách trục đường này là đất của Ngô Đình T1 ở thôn P.

- Phía Đông giáp với phần đất trống của anh Ngô Văn Đ.

- Phía Tây giáp với phần đất trống của Nguyễn Bá H.

Hiện trường chi tiết: Tiến hành khám nghiệm hiện trường từ ngoài vào trong bằng quan sát phát hiện:

Tại vị trí số (1) được ký hiệu trên sơ đồ phát hiện phần tường bao có diện tích (14,4 x 0,50)m phía trên được xây bằng gạch vữa theo kiểu gạch đơn phía dưới là phần chân tường xây theo kiểu gạch đôi, phần gạch đơn còn lại cao 17cm bề mặt có phần bị vỡ nham nhở, có phần vôi vữa, phía dưới phần gạch đôi cao 33cm, gạch xây là loại gạch đỏ có lỗ diện (10x21x5,5)cm

Tiếp theo tại vị trí số (2) trên phần đất trống của Nguyễn Bá H, SN 1976 phát hiện có vùng tường gạch vữa xây bị đổ trên diện (14,4x7,1)m nằm rải rác trên phần đất trống, phía Nam của phần đất trống của anh Ngô Văn Đ, SN 1974 phát hiện có 01 trụ dầm gạch vữa xây sắt có diện (4,19x0,21x0,39)m = 1,6m².

Vị trí số (3) do anh Ngô Văn Đ chỉ, xác định là vị trí xảy ra xô xát giữa anh Ngô Văn Đ với ông Đỗ Viết Đ1, SN 1963 ở thôn L, xã Q, huyện C, Tp ., đo từ vị trí này về phía Đông đến trụ tường của phần đất anh Ngô Văn Đ là 5,5m, đo về phía Nam đến tường bao của Ngô Đình T1 là 3,1m.

Phần tường bao nằm ở phía Đông trên phần đất của anh Ngô Văn Đ được xây cao ở phía Bắc thấp dần về phía Nam, phần tường cao nhất là 3,83m, phần thấp nhất là 3,22m. Phần tường này phía trên được xây theo kiểu tường đơn, chiều cao trung bình của tường bao là 3,5m. Phần tường bao có phần chân tường dài 14,4m; phần tường bao bị hủy hoại có diện tích khoảng (14,4x3,5)m = 50,4m².

Căn cứ các hồ sơ, tài liệu Công an xã T cung cấp, đối chiếu với hồ sơ quản lý đất đai tại xã, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa đất có liên quan và Công văn số 79/UBND ngày 22/3/2024 của UBND xã T xác định: Bức tường bị hủy hoại ngày 17/01/2024 thuộc thửa đất số 102C, tờ bản đồ 05, có địa chỉ thôn P, xã T, huyện C.

* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐG ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận:

“ ... Xác định giá trị tài sản như sau:

Phần tường bao bị hủy hoại có diện tích (14,4 x 3,5)m = 50.4m² xây bằng gạch vữa theo kiểu gạch đơn, loại gạch xây là gạch lỗ diện (10x21x5,5)cm. T2 không có mái che, xây dựng vào năm 2021. Tại thời điểm bị phá hỏng ngày 17/01/2024 giá trị còn lại bằng diện tích bị phá hỏng x đơn giá x tỷ lệ hao mòn, khấu hao. Cụ thể:(50.4m² x 698.000đ/m²) x 70% = 24.625.440 đồng.

- 01 đoạn dầm được xây bằng bê tông có cốt bằng sắt diện tích (4,19 x 0,39)m = 1,6m². Tại thời điểm bị phá hỏng ngày 17/01/2024 giá trị còn lại bằng diện tích phá hỏng x đơn giá x tỷ lệ hao mòn, khấu hao. Cụ thể: (1,6m² x 983.000đ/m²) x 70% = 1.100.960 đồng.

Tổng cộng: 24.625.440 đồng + 1.100.960 đồng = 25.726.400 đồng (Hai năm triệu, bẩy trăm hai sáu nghìn, bốn trăm đồng)”.

4

* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 20/4/2024, Nguyễn Bá H và chị Bùi Thị P đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường cho anh Ngô Văn Đ số tiền 25.726.400 đồng. Anh Đ đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu H và chị P bồi thường gì thêm về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho H.

Cáo trạng số 77/CT-VKS ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễn Bá H về tội “Hủy hoại tài sản” theo Khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên toà:

- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 178; Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 (bị hại xin giảm nhẹ, bị hại có 1 phần lỗi xây tường bao sang phần đất đã bán cho người khác) Điều 51; Điều 36 BLHS, xử phạt Nguyễn Bá H từ 18 tháng đến 24 tháng Cải tạo không giam giữ; Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu nên không xem xét; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc xà beng, 01 búa tạ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Xét thấy những người này đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin vắng mặt. Quá trình điều tra những người này đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu khác Cơ quan điều tra đã thu thập, đủ cơ sở kết luận: Biết được anh Ngô Văn Đ đã xây dựng tường bao lấn sang phần đất của Nguyễn Bá H mua chung với anh Bùi Tú Q và anh Trương Công Thái H4 ở thửa đất số 102C tờ bản đồ số 05, có diện tích 150m2 tại thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội. Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 17/01/2024, Nguyễn Bá H nói dối là anh Đ đồng ý cho phá dỡ đoạn tường xây. Nguyễn Bá H trao đổi với chị Bùi Thị P thuê ông Đỗ Viết Đ1 và bà Trịnh Thị H3 phá dỡ đoạn tường bao kích thước 14,4mx3,5m của anh Ngô Văn Đ, trị giá thiệt hại là 25.726.400 đồng (Hai mươi lăm triệu. bảy trăm hai mươi sáu nghìn. bốn trăm đồng). Hành vi của Nguyễn Bá H đã cấu thành tội “Hủy hoại tài

5

sản” theo Khoản 1 Điều 178 BLHS.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễn Bá H theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy cần có hình phạt phù hợp nhằm đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị hại có 1 phần lỗi xây tường bao sang phần đất đã bán cho người khác là các tình tiết giảm nhẹ theo Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú rõ ràng, nên áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 36 BLHS đối với bị cáo là phù hợp.

[2.3] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Nguyễn Bá H và chị Bùi Thị P đã tự nguyện bồi thường cho anh Ngô Văn Đ số tiền 25.726.400 đồng. Anh Đ đã nhận số tiền trên và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với 01 xà beng và 01 búa tạ là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

[2.5] Các nội dung khác:

Đối với anh Trương Công Thái H4, anh Bùi Tú Q, chị Bùi Thị P, ông Đỗ Viết Đ1 và bà Trịnh Thị H3 không biết việc anh Ngô Văn Đ không đồng ý phá dỡ đoạn tường. Nguyễn Bá H nói dối việc anh Ngô Văn Đ đã đồng ý phá dỡ đoạn tường nên thông qua chị P thuê ông Đỗ Viết Đ1 và bà Trịnh Thị H3 phá dỡ. Do vậy, anh Trương Công Thái H4, anh Bùi Tú Q, chị Bùi Thị P, ông Đỗ Viết Đ1 và bà Trịnh Thị H3 không đồng phạm với Nguyễn Bá H về tội Hủy hoại tài sản. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ pháp luật.

Đối với chị Đặng Thị L thoả thuận nhờ chị Bùi Thị P thuê người phá dỡ tường bao, nhưng không biết việc Nguyễn Bá H nói dối là đã được sự đồng ý của anh Ngô Văn Đ và chính quyền địa phương. Chị L không được Nguyễn Bá H bàn bạc trong việc thuê người phá dỡ tường bao của anh Đ. Nên chị Đặng Thị L không đồng phạm với Nguyễn Bá H về tội Hủy hoại tài sản. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ pháp luật.

Đối với anh Ngô Văn Đ có hành vi dùng tay đánh ông Bùi Viết Đ3 nhưng không gây thương tích, ông Đ3 không điều trị tại các cơ sở y tế và không yêu cầu xử lý gì đối với anh Đ. Hành vi đấm, đá ông Bùi Viết Đ3 của anh Ngô Văn Đ chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 20/5/2024, Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với anh Ngô Văn Đ về hành vi Cố ý gây thương tích quy định tại Điểm a, Khoản 5, 7 Nghị định 144 ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

6

[2.6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá H phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự, phạt:

Nguyễn Bá H 18 (mười tám) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi bị cáo cư trú nhận được bản án và quyết định thi hành án.

Giao Nguyễn Bá H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, Tp . phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập đối với Nguyễn Bá H.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 chiếc xà beng, làm bằng kim loại, dài khoảng 1,5m; .

- 01 chiếc búa tạ, dài 70cm, phần chuôi hình trụ tròn, bằng gỗ, dài 65cm, đường kính 4cm, phần búa hình hộp, bằng kim loại, kích thước (13,5x6x6)cm.

(Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2024).

4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

- TAND Tp. Hà Nội;

- Sở Tư pháp Tp. Hà Nội;

- VKSND huyện Chương Mỹ;

- Công an huyện Chương Mỹ;

- Chi cục THADS huyện Chương Mỹ;

- Bị cáo;

- Những người tham gia tố tụng khác;

- THAHS;

- Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Lợi

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HSST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hủy hoại tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 93/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger