TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 93 /2024/HS-ST Ngày: 22 - 5 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mai Khanh
Ông Trần Xuân Thành
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng T; sinh ngày: 01/10/1978; nơi ĐKHHTT: xóm T, thị trấn T, huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi ở trước khi bỏ trốn: xóm T, thị trấn T, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên là cán bộ thu ngân Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5 thuộc Công ty B2; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng H (Đã chết) và bà Phạm Thị L, sinh năm: 1943; vợ: Theo lời khai của bị cáo Hoàng T, quá trình sinh sống tại Lào, đã chung sống như vợ chồng với người phụ nữ Lào tên là Chăm H1, đến năm 2021 thì không còn chúng sống với nhau nữa; con: theo lời khai của bị cáo Hoàng T, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm: 2019; tiền sự, tiền án: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/10/2023 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Hoàng T: Bà Phan Thị S – Văn phòng Luật sư Dung S1 và Cộng sự – Đoàn Luật sư tỉnh N – Có mặt.
1
- Bị hại: Tổng Công ty B3
Trụ sở: Tầng C, Tòa nhà K, đường P, quận N, thành phố Hà Nội
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Ngọc S2 – chức vụ: Tổng giám đốc.
· Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Như K, sinh năm: 1972
Địa chỉ: khối A, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Trường G, sinh năm: 1969
Cư trú tại: Số I, ngõ A đường T, khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt
2. Chị Lê Thị Hoài T1, sinh năm: 1974
Cư trú tại: Số I, ngõ A đường T, khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An.Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ 01/8/2002, Hoàng T được bổ nhiệm làm cán bộ kế toán – thu ngân tại Phòng Phục vụ khách hàng khu vực 5, với nhiệm vụ quản lý và theo dõi thu, chi của phòng phục vụ khách hàng khu vực 5, như: thu tiền của các đại lý bảo hiểm, khách hàng, quản lý và nộp số tiền vào tài khoản của Công ty B2 và chi tiền mặt theo thông báo hoặc quyết định của Công ty B2. Về hoạt động thu tiền, sau khi đại lý thu tiền xong thì sẽ nộp về cho Phòng phục vụ khách hàng (trực tiếp Hoàng T- nhân viên kế toán – thu ngân) gồm: Số tiền thu; Hóa đơn thu phí, hồ sơ giấy yêu cầu bảo hiểm (nếu tham gia bảo hiềm lần đầu tiên). Sau đó, Hoàng T sẽ lập phiếu thu, ghi vào sổ quỹ tiền mặt rồi sau đó gửi toàn bộ các chứng từ liên quan tới hoạt động thu tiền đó về bộ phận Tài chính kế toán của Công ty để tiến hành hạch toán. Sau khi thu tiền, Hoàng T phải nộp ngay vào quỹ Công ty theo quy định. Tất cả các khoản thu, chi bằng tiền mặt đều phải phản ánh qua sổ quỹ, sổ kế toán. Việc thực hiện nộp số tiền thu được về quỹ của Công ty trước ngày 06/02/2003 được T thực hiện đúng quy định.
Ngày 06/02/2003, tại Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5, anh Nguyễn Trường G – Trưởng phòng và Hoàng T đã tiến hành kiểm quỹ trên sổ sách và tiền mặt tồn tháng 01/2003 trong két của phòng BHNT khu vực 5 là 67.125.400 đồng (Sáu mươi bảy triệu một trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm đồng). Sang
2
tháng 2/2003, do ảnh hưởng của Tết nguyên đán, ngày 16/02/2003, Công ty B2 mới in được hoá đơn thu phí bảo hiểm gửi cho phòng bảo hiểm khu vực, do đó lượng tiền thu của khách hàng dồn vào những ngày cuối tháng. Từ ngày 06/02/2023 đến 28/02/2003, T không làm thủ tục nộp tiền vào tài khoản của Công ty mà để tiền trong két sắt của đơn vị. Do trong thời gian này, một phần T làm mất tiền và một phần T lấy để đánh bạc bằng hình thức chơi cá độ bóng đá bị thua nên không còn đủ tiền để nộp về Công ty. Tuy nhiên T không nhớ số tiền làm mất và số tiền đánh bạc cụ thể là bao nhiêu mà chỉ biết khi đánh bạc thua thì về phòng lấy tiền trong quỹ để trả, thua ngày nào thì lấy tiền để trả ngày đó. Ngày 06/3/2003, T bỏ trốn khỏi địa phương sang nước Thái Lan, Lào. Trước khi bỏ trốn, T đã lấy 5.000.000 đồng từ quỹ tiền mặt của Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5 để gửi về cho bố mẹ T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã thu giữ số tiền này vào ngày 11/3/2003.
Ngày 08/3/2003, anh Nguyễn Trường G – Trưởng phòng Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5 thuộc Công ty B2 có đơn trình báo đến công an huyện N, về việc anh Hoàng T đã bỏ trốn mang theo tiền quỹ của cơ quan. Sau khi sự việc xẩy ra, Công ty B2 đã thành lập Hội đồng tiến hành kiểm quỹ tiền mặt trên sổ sách và lập biên bản phá két sắt đựng tiền do Hoàng T quản lý. Kết quả phá két xác định số tiền còn lại trong két là 124.000 đồng (Một trăm hai mươi tư nghìn đồng).
Số tiền Hoàng T chiếm đoạt được xác định như sau:
Số tiền Hoàng T có trách nhiệm quản lý:
Số tiền tồn trong két của Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5 đến thời điểm ngày 06/02/2003 mà Hoàng T có trách nhiệm quản lý:
Ngày 06/02/20003, Nguyễn Trường G (Phụ trách phòng) và Hoàng T (Kế toán – thu ngân) tiến hành kiểm quỹ trên sổ sách và tiền mặt tồn tháng 01/2003. Kết quả xác định số tiền mặt tồn trong két của Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5 đến thời điểm ngày 06/02/2003 là 67.125.400 đồng (Sáu mươi bảy triệu một trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm đồng).
Về số tiền Hoàng Trung t để nhập về quỹ. Trong khoảng thời gian từ ngày 06/02/2003 đến ngày 28/02/2003 phòng Phục vụ khách hàng khu vực 5 đã tiến hành thu tiền của 93 đại lý và khách hàng. Hoạt động thu tiền trên được thể hiện trên 226 Phiếu thu được ghi số phiếu thứ tự từ 250 đến 475 của Phòng phục vụ khách hàng KV5 thuộc Công ty B2 (có danh sách kèm theo), với tổng số tiền 818.805.262 đồng (T2 trăm mười tám triệu tám trăm linh năm nghìn hai trăm sáu mươi hai đồng). Trong đó:
3
- Hoàng Trung trực tiếp tiến hành thu 190 phiếu thu (Các Phiếu thu có chữ ký của Hoàng T tại mục “Thủ quỹ” và “người lập phiếu” trên Liên 1 và L1 3 của P thu) với tổng số tiền là 746.468.362 đồng (Bảy trăm bốn mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi hai đồng).
- Nguyễn Trường G (Phụ trách Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5) trực tiếp thu hộ 02 Phiếu (Phiếu thu số 270 và Phiếu thu số 294) với số tiền: 3.536.100 đồng (Ba triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn một trăm đồng). Số tiền thu hộ trên sau khi thu hộ Nguyễn Trường G đã đưa lại cho Hoàng T. Hoàng Trung kiểm đếm, xác nhận và ký vào Liên 1, L1 3 của Phiếu thu.
Tổng số tiền Hoàng T nhận từ Nguyễn Trường G là 3.536.100 đồng.
- Lê Thị Hoài T1 (Nhân viên học việc) trực tiếp thu hộ Hoàng T 29 Phiếu (gồm các Phiếu thu số: 262, 266, 267, 268, 269, 289, 290, 301, 302, 303, 304, 305, 306, 307, 308, 318, 319, 327, 336, 337, 355, 364, 380, 385, 386, 387, 388, 449, 469) với tổng số tiền 49.007.500 đồng. Trong đó:
- Lê Thị Hoài T1 đưa lại cho Hoàng T số tiền 43.474.500 đồng (Bốn mươi ba triệu bốn trăm bảy mươi bốn nghìn năm trăm đồng) thể hiện trên 26 Phiếu thu (gồm các Phiếu thu số: 262, 266, 267, 268, 269, 289, 290, 301, 302, 303, 304, 305, 306, 307, 308, 318, 319, 327, 336, 337, 355, 380, 385, 386, 387, 388). Hoàng Trung kiểm đếm, xác nhận và ký vào Liên 1 và L1 3 của Phiếu thu.
- Lê Thị Hoài Thu giữ lại số tiền 3.651.700 đồng (Ba triệu sáu trăm năm mươi mốt nghìn bảy trăm đồng) theo yêu cầu của Hoàng T để chi cho hoạt động của Phòng (Gồm Phiếu thu số 449, 469). Số tiền trên sau khi giữ lại Lê Thị Hoài T1 đã chi cho các hoạt động của Phòng thể hiện tại Phiếu chi số 193. Việc Hoàng T chưa nhận được số tiền trên xác định bằng việc tại L (Liên lưu hành nội bộ) của các Phiếu thu trên không có chữ ký của Hoàng T.
- Đối với số tiền 1.881.300 đồng (Một triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn ba trăm đồng) trên Phiếu thu số 364: Lê Thị Hoài T1 trình bày đã đưa lại cho Hoàng T, nhưng Hoàng T không thừa nhận việc nhận số tiền trên mà để lại cho chị T1 để chi cho các hoạt động của Phòng. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Hoàng T và Lê Thị Hoài T1 tuy nhiên không có kết quả. Căn cứ vào kết quả điều tra, xác định: Việc giao nhận tiền giữa Hoàng T và những người thu hộ sẽ được Hoàng T ký nhận vào Liên 3 của Phiếu thu hộ đó. Đối với Liên 1 của các Phiếu thu hộ đó, bắt buộc kế toán – thu ngân (H) phải ký để gửi về cho Công ty D đã nhận lại hay chưa nhận lại tiền thu hộ, để phục vụ cho hoạt động quyết toán của Công ty. Thực tế, đối với các Phiếu thu do chị T1 thu hộ (Phiếu thu số 449 và 469) cũng như vậy, Hoàng T không nhận lại mà nói để cho chị Thu g lại
4
để chi cho các hoạt động của Phòng. Trên liên 3 của các Phiếu thu đó Hoàng T cũng không ký nhận vào mục “Thủ quỹ” hay “Người lập phiếu” mà do chị T1 ký nhận. Phiếu thu số 364 cũng tương tự Phiếu thu số 449 và Phiếu thu số 469, Hoàng T cũng không ký nhận vào Liên 3 của Phiếu thu mà chữ ký trên Liên 3 của Phiếu thu là của chị T1. Do đó, không xác định được số tiền trên Hoàng T đã nhận lại từ chị Lê Thị Hoài T1. Về số tiền này, Tổng công ty B3 trực tiếp làm việc với chị Lê Thị Hoài T1.
Vì vậy, tổng số tiền mà Hoàng T nhận lại từ chị Lê Thị Hoài T1 là 43.474.500 đồng.
- 02 Phiếu thu (gồm Phiếu thu số 332 và Phiếu thu số 333) với tổng số tiền 17.697.800 đồng (Mười bảy triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm đồng): không xác định được ai là người thu, do không xác định được chữ ký của người nào trên Liên 3.
- 03 Phiếu thu (gồm Phiếu thu số 252, 472, 458) với tổng số tiền 2.095.500 đồng (Hai triệu không trăm chín mươi lăm nghìn năm trăm đồng): không xác định được ai là người thu, do không có chữ ký của ai trên Liên 3 của Phiếu thu.
Về số tiền trên các phiếu thu này, Tổng công ty B3 nhận trách nhiệm về phần của Công ty.
Như vậy, tổng số tiền Hoàng T nhận để nhập về quỹ của Công ty từ ngày 06/02/2003 đến ngày 28/02/2003 là 793.478.962 đồng (B trăm chín mươi ba triệu bốn trăm bảy mươi tám nghìn chín trăm sáu mươi hai đồng).
Về số tiền Hoàng T chi trong khoảng thời gian từ ngày 06/02/2003 đến ngày 28/02/2003, Phòng Phục vụ khách hàng khu vực 5 đã tiến hành chi tiền cho 93 đại lý, khách hàng và nhân viên của Phòng. Cụ thể:
- C đã lập phiếu chi: 248.132.669 đồng (Hai trăm bốn mươi tám triệu một trăm ba mươi hai nghìn sáu trăm sáu mươi chín đồng). Toàn bộ số tiền trên được thể hiện trên 55 Phiếu chi được ghi số phiếu thứ tự từ 69 đến 123 (có danh sách kèm theo) của Phòng phục vụ khách hàng KV5 thuộc Công ty B2 (Đối với phiếu chi tiền số 104 ngày 25/02/2003 được viết tay theo mẫu số 02-TT Ban hành theo QĐ số 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ T3: Số tiền chi trên Phiếu chi này nằm trong tổng số tiền chi trên Phiếu chi số 104 ngày 28/02/2003 (mẫu in máy) do Hoàng T đã lập).
- Chi chưa lập phiếu chi: Sau khi Hoàng T bỏ trốn, tiến hành kiểm tra tủ của Hoàng T phát hiện tập chứng từ đã chi tiền cho đại lý nhưng chưa lập Phiếu chi với số tiền 3.961.463 đồng (Ba triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn bốn trăm sáu
5
mươi ba đồng). Số tiền chi này được thể hiện trên Phiếu chi số 193 được lập sau khi Hoàng T bỏ trốn.
Toàn bộ quá trình chi tiền từ ngày 06/02/2003 đến ngày 28/02/2003 đều do Hoàng Trung trực t1 thực hiện, không có ai tiến hành chi hộ Hoàng T.
Ngày 03/3/2003, Hoàng Trung trực t1 đưa cho Lê Thị Hoài T1 số tiền 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) để chi cho hoạt động của Phòng. Việc Hoàng T giao cho Lê Thị Hoài T1 số tiền trên có sự chứng kiến của Nguyễn Trường G (Phụ trách phòng) và anh Lê Hữu B1 – nhân viên đại lý của Công ty B2 chứng kiến.
Như vậy, tổng số tiền Hoàng T đã chi là 287.094.132 đồng (Hai trăm tám mươi bảy triệu không trăm chín mươi tư nghìn một trăm ba mươi hai đồng).
Số tiền còn lại trong két tiền mặt tại Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5 sau khi Hoàng T bỏ trốn.
Ngày 08/3/2003, sau khi Hoàng T bỏ trốn Công ty B2 có thành lập Hội đồng phá két tiền mặt tại Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5 gồm: Ông Nguyễn Hoài A – Giám đốc Công ty B2; ông Nguyễn Như K – Trưởng phòng Tài chính, Kế toán; ông Nguyễn Trường G – Phụ trách phòng phục vụ khách hàng khu vực 5; Ông Nguyễn Hoài N – Trưởng phòng tổng hợp Công ty B2; Bà Lê Thị Hoài T1 – Nhân viên Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5; Ông Nguyễn Văn Q - Lái xe Công ty B2. Kết quả phá két xác định số tiền còn lại trong két là 124.000 đồng (Một trăm hai mươi tư nghìn đồng).
Về số tiền Hoàng T chiếm đoạt bỏ trốn:
Căn cứ vào số tiền tồn quỹ tính đến ngày 06/02/2003, số tiền thu, số tiền chi và số tiền còn lại trong két tiền mặt tại Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5 sau khi Hoàng T bỏ trốn, Cơ quan điều tra xác định số tiền Hoàng T đã chiếm đoạt của Công ty B2 là 573.386.230 đồng (Năm trăm bảy mươi ba triệu ba trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm ba mươi đồng).
2. Kết quả trưng cầu giám định.
- Ngày 27/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N ra Quyết định trưng cầu Giám định số 329/QĐ-CSKT giám định dấu vân tay của Hoàng T.
Tại Kết luận giám định số 27/KL-KTHS(Đ3-ĐV) ngày 01/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Dấu vân tay in trên “TỜ KHAI CHỨNG MINH NHÂN DÂN” số [...]; họ tên: Hoàng T; sinh ngày 01/10/1978 ký hiệu A so với dấu vân tay in trên “DANH BẢN” số 424; họ tên: Hoàng T; sinh ngày:
6
01/10/1978 ký hiệu M1 và “CHỈ BẢN” số 424; họ tên: Hoàng T; sinh ngày: 01/10/1978 ký hiệu M2 là do cùng một người in ra.
- Ngày 14/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N ra Quyết định trưng cầu Giám định số 374/QĐ-CSKT giám định chữ ký, chữ viết của Hoàng T.
Tại Kết luận Giám định số: 415/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận:
+ Chữ ký dưới mục “THỦ QUỸ”, dưới mục “NGƯỜI LẬP PHIẾU” trên 225 (Hai trăm hai mươi lăm) Phiếu thu (gồm các “PHIẾU THU” được ghi số thứ tự từ 250 đến 269 và từ 271 đến 475) so với chữ ký mang tên Hoàng T trên các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký ra.
+ Chữ ký dưới mục “THỦ QUỸ” trên Phiếu thu số 270 so với chữ ký mang tên Hoàng T trên các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký ra.
+ Chữ ký dưới mục “THỦ QUỸ”, dưới mục “NGƯỜI LẬP PHIẾU” trên 54 (năm mươi tư) Phiếu chi (gồm các “PHIẾU CHI” được ghi số thứ tự từ 69 đến 103 và từ 105 đến 123) so với chữ ký mang tên Hoàng T trên các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký ra.
+ Chữ ký dưới mục “THỦ QUỸ”, dưới mục “NGƯỜI LẬP PHIẾU” trên Phiếu chi số 104 ngày 25/02/2003 được viết tay theo mẫu số 02-TT Ban hành theo QĐ số 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ T3 so với chữ ký mang tên Hoàng T trên các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký ra.
+ Chữ viết “Hoàng Trung” trên 52 (Năm mươi hai) Phiếu chi (gồm các Phiếu chi được ghi số thứ tự từ 069 đến 096; từ 098 đến 103; 105 đến 116 và từ 118 đến 122) so với chữ viết “Hoàng Trung” trên các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người viết ra. (BL 4185-4475).
5. Về dân sự:
Đại diện Tổng Công ty B3 phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt là 573.386.230 đồng (Năm trăm bảy mươi ba triệu ba trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm ba mươi đồng) cho Công ty.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 44/CT-VKS-P3 ngày 31/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Hoàng T về tội “Tham ô tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 355 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
7
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 355; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng T 7-8 về tội “Tham ô tài sản”.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng:
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Luật sư Phan Thị S trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo Vương Thị N1: Luật sư không tranh luận về tội danh và khung hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì quá trình điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng bị cáo đã cố gắng khắc phục hậu quả xảy ra, gia đình có công với cách mạng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Hoàng T đồng ý với phần bào chữa của Luật sư, không tranh luận gì thêm với quan điểm của Kiểm sát viên.
Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và không tranh luận gì thêm.
Bị cáo Hoàng T nói lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Hoàng T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để kết luận:
Từ ngày 06/02/2023 đến 28/02/2003, trong quá trình làm việc tại Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5, H đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, không làm thủ tục nộp tiền vào tài khoản của Công ty mà để tiền trong két sắt của đơn vị, chiếm đoạt số tiền mà mình có trách nhiệm quản lý, gây thiệt hại cho Tổng Công ty B3 số tiền 573.386.230 đồng (Năm trăm bảy mươi ba triệu ba trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm ba mươi đồng). Toàn bộ số tiền chiếm đoạt,
8
Hoàng T lấy 5.000.000 đồng để gửi về cho bố mẹ T trước khi bỏ trốn, một phần do Hoàng T làm mất, một phần được Hoàng T sử dụng vào mục đích đánh bạc dưới hình thức chơi cá độ bóng đá hết.
Bị cáo Hoàng T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Hoàng T về tội “Tham ô tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 278 Bộ luật hình sự năm 1999: "Phạm tội một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên". Tuy nhiên, tại khoản 3, Điều 353, Bộ luật hình sự năm 2015, quy định: "Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.". Do hành vi phạm tội xảy ra trước thời điểm Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành (ngày 01/01/2018) nên áp dụng điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và hiệu lực thi hành của Bộ luật hình sự số 101/2015/QH13, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13: “Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích;...”. Vì vậy, hành vi phạm tội nêu trên của bị can Hoàng T đã phạm vào khoản 3, Điều 353, Bộ luật hình sự năm 2015 sự là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng T là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của doanh nghiệp, quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ. Sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm mình và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
9
Về các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng T khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo đã tác đồng gia đình bồi thường khắc phục toàn bộ số tiền thiệt hại với số tiền 568.387.000 đồng (Năm trăm sáu mươi tám triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn đồng) cho bị cáo, gia đình bị cáo có bố đẻ của bị cáo là ông Hoàng H được tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhất và mẹ đẻ là bà Phạm Thị L được tặng H2 chương kháng chiến Hạng ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt và đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả. Do đó, cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa là phù hợp, tạo điều kiện cho các bị cáo cải tạo sớm trở về với gia đình và cộng đồng, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả, hiện không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình bị cáo đã khắc phục đầy đủ số tiền còn lại mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại là Tổng Công ty B3. Bị hại không yêu cầu gì thêm về dân sự.
[5] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
- - Đối với xe máy nhãn hiệu Wave màu xanh (không có 02 gương); Biển số: 37H6-2229 của Hoàng T (trú tại thị trấn T, huyện N, tỉnh Nghệ An); số máy: HC08E-0074693; số khung: HC08082Y-074978 (máy móc không kiểm tra chất lượng, xe đã qua sử dụng) thu giữ ngày 10/3/2003 không phải là công cụ phương tiện phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- - Số tiền 5.004.000 đồng (Năm triệu không trăm linh bốn nghìn đồng) trả - Đối với 01 (Một) chiếc cặp số màu đen có chữ HEXIN có cài khóa số 012, thu giữ ngày 11/3/2003. Bên trong có: 01 (một) thẻ chức danh có ảnh Hoàng T, chuyên viên bảo hiểm Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5 Bảo Việt nhân thọ N2 và 10 (Mười) chìa khóa các loại (thu giữ ngày 11/3/2003) không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (Một) Đăng ký xe mang tên Hoàng T số 0021534, thu giữ ngày 10/3/2003.
- - 01 (Một) bức thư do Hoàng T gửi cho Hoàng H (bố của Hoàng T), thu giữ ngày 09/3/2003; 01 (Một) bức thư do Hoàng T gửi cho Hoàng M (anh trai của Hoàng T), thu giữ ngày 09/3/2003; 01 (Một) Giấy chứng nhận bảo hiểm mô tô xe máy mang tên Hoàng T số 0514746, thu giữ ngày 10/3/2003; 01 (Một) giấy bán xe có xác nhận ngày 15/10/2002 của UBND xã K, huyện T, thu giữ ngày
10
10/3/2003; 01 (Một) giấy mua xe có xác nhận ngày 15/10/2002 của UBND xã K, huyện T, thu giữ ngày 10/3/2003; 01 (Một) Bức thư do Hoàng T gửi cho Nguyễn Trường G (Phụ trách phòng phục vụ khách hàng khu vực 5) bằng hình thức đảm bảo và 10 (mười) chiếc chìa khóa. Các vật chứng trên được thu giữ ngày 11/3/2003; 01 (Một) Bức thư do Hoàng T gửi cho Nguyễn Trường G (Phụ trách phòng phục vụ khách hàng khu vực 5) được in ra trên máy vi tính của Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5, thu giữ ngày 10/3/2003; Các tài liệu liên quan tới việc xác định số tiền chiếm đoạt của Hoàng T: Các Phiếu thu, Phiếu chi (Liên 1 bản gốc và L1 3 bản phô tô); Chứng từ kèm theo Phiếu thu, Phiếu chi. Bảng kê chi tiết chứng từ chi tiền mặt, Bảng kê chi tiết chứng từ thu tiền mặt; Sổ quỹ tiền mặt...; Giấy nộp tiền ngày 11/01/2024, số tiền nộp: 320.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi triệu đồng), nội dung nộp: Nạp tiền khắc phục hậu quả cho ông Hoàng T; Giấy nộp tiền ngày 15/01/2024, số tiền nộp: 248.387.000 đồng (Hai trăm bốn mươi tám triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn đồng), nội dung nộp: Nạp tiền khắc phục hậu quả cho ông Hoàng T.
Các tài liệu này được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
- Số tiền khắc phục hậu quả 568.387.000 đồng hiện được tạm giữ tại Tài khoản tạm giữ Sở T4, số tài khoản 394101068597.
[5] Về các nội dung khác:
* Đối với hành vi Đánh bạc của Hoàng T: Theo Hoàng T khai nhận toàn bộ số tiền chiếm đoạt một phần do Hoàng T làm mất, một phần được Hoàng T sử dụng vào mục đích đánh bạc dưới hình thức chơi cá độ bóng đá. Về số tiền Đánh bạc cụ thể là bao nhiêu, đánh bạc với ai, đánh bạc tại đâu thì Hoàng T không nhớ. Hành vi Đánh bạc của Hoàng T cũng chỉ căn cứ vào lời khai của Hoàng T, không có tài liệu chứng cứ khác để chứng minh. Mặt khác, nếu có hành vi Đánh bạc xảy ra thì hành vi phạm tội của Hoàng T được thực hiện vào năm 2003, đến nay mới được phát hiện, khung hình phạt cao nhất của tội Đánh bạc được quy định tại Bộ luật hình sự thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Căn cứ vào Điều 27 Bộ luật Hình sự thì hành vi Đánh bạc trên đến nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm. Vì vậy, đối với hành vi Đánh bạc của Hoàng T, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
* Đối với Nguyễn Trường G (sinh năm 1969, trú tại: trú tại: khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An), Phụ trách Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5: Căn cứ Công văn số 698/BHNA 1999 ngày 24/8/1999 của Công ty B2, về việc quản lý thu phí bảo hiểm bằng tiền mặt quy định, mức tồn quỹ của phòng khu vực 5 đối với tiền mặt là 5.000.000 đồng và đối với tiền gửi ngân hàng là 15.000.000 đồng. Với nhiệm vụ là Phụ trách phòng phục vụ khách hàng
11
khu vực 5, Nguyễn Trường G phải có chức năng đôn đốc, kiểm tra việc nộp tiền về cho Công ty của Hoàng T và đảm bảo tồn quỹ tại Phòng không được vượt quá 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, Nguyễn Trường G đã thiếu trách nhiệm để cho Hoàng T từ ngày 06/02/2003 đến ngày 28/02/2003, không tiến hành nộp tiền về Công ty, dẫn tới số tiền tồn quỹ lớn để sau đó Hoàng T chiếm đoạt. Hành vi trên của Nguyễn Trường G có dấu hiệu của tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 360 Bộ Luật Hình sự. Tuy nhiên, hành vi trên của Nguyễn Trường G xảy ra vào năm 2003, căn cứ vào Điều 27 Bộ luật Hình sự thì hành vi “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” trên đến nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm. Vì vậy, đối với hành vi Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng của Nguyễn Trường G, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng T phạm tội “Tham ô tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 355; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 5, Điều 54 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 24/10/2023.
2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Hoàng T phải bồi thường cho Tổng Công ty B3 số tiền là 573.386.230 đồng (Năm trăm bảy mươi ba triệu ba trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm ba mươi đồng) nhưng được trừ đi số tiền thu giữ 5.004.000đ (Năm triệu không trăm linh bốn nghìn đồng) số tiền có tại Kho bạc nhà nước N3 theo Biên bản giao nhận tài sản số 25/2024/BBGN-KBNA (VNĐ) ngày 07/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Kho bạc Nhà nước N3; và số tiền 568.387.000đ (Năm trăm sáu mươi tám triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn đồng) do gia đình bị cáo đã nộp vào Tài khoản tạm giữ Sở T4, số tài khoản 394101068597 theo phiếu nộp tiền ngày 11/01/2014 nộp 320.000.000đ (Ba trăm hai mươi nghìn đồng) và ngày 15/01/2014 nộp 248.387.000₫ (Hai trăm bốn mươi tám triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn đồng) tại ngân hàng A1. Trả lại cho bị cáo Hoàng T số tiền 4000₫ (Bốn nghìn đồng) còn thừa sau khi bồi thường cho bị hại.
12
Bị hại Tổng Công ty B3 được quyền nhận số tiền 568.387.000đ (Năm trăm sáu mươi tám triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn đồng) gia đình bị cáo đã nộp bồi thường tại Tài khoản tạm giữ Sở T4, số tài khoản 394101068597
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Trả lại cho bị cáo một xe máy nhãn hiệu Wave màu xanh (không có 02 gương); Biển số: 37H6-2229 của Hoàng T (trú tại thị trấn T, huyện N, tỉnh Nghệ An); số máy: HC08E-0074693; số khung: HC08082Y-074978 (máy móc không kiểm tra chất lượng, xe đã qua sử dụng) thu giữ ngày 10/3/2003.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) chiếc cặp số màu đen có chữ HEXIN có cài khóa số 012, thu giữ ngày 11/3/2003. Bên trong có: 01 (một) thẻ chức danh có ảnh Hoàng T, chuyên viên bảo hiểm Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5 Bảo Việt nhân thọ N2; 10 (Mười) chìa khóa các loại (thu giữ ngày 11/3/2003).
Các vật chứng này hiện đang lưu giữ, bảo quản tại Kho vật chứng Công an tỉnh N.
- - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án gồm: 01 (Một) bức thư do Hoàng T gửi cho Hoàng H (bố của Hoàng T), thu giữ ngày 09/3/2003; 01 (Một) bức thư do Hoàng T gửi cho Hoàng M (anh trai của Hoàng T), thu giữ ngày 09/3/2003; 01 (Một) Đăng ký xe mang tên Hoàng T số 0021534, thu giữ ngày 10/3/2003; 01 (Một) Giấy chứng nhận bảo hiểm mô tô xe máy mang tên Hoàng T số 0514746, thu giữ ngày 10/3/2003; 01 (Một) giấy bán xe có xác nhận ngày 15/10/2002 của UBND xã K, huyện T, thu giữ ngày 10/3/2003; 01 (Một) giấy mua xe có xác nhận ngày 15/10/2002 của UBND xã K, huyện T, thu giữ ngày 10/3/2003; 01 (Một) Bức thư do Hoàng T gửi cho Nguyễn Trường G (Phụ trách phòng phục vụ khách hàng khu vực 5) bằng hình thức đảm bảo và 10 (mười) chiếc chìa khóa. Các vật chứng trên được thu giữ ngày 11/3/2003; 01 (Một) Bức thư do Hoàng T gửi cho Nguyễn Trường G (Phụ trách phòng phục vụ khách hàng khu vực 5) được in ra trên máy vi tính của Phòng phục vụ khách hàng khu vực 5, thu giữ ngày 10/3/2003; Các tài liệu liên quan tới việc xác định số tiền chiếm đoạt của Hoàng T: Các Phiếu thu, Phiếu chi (Liên 1 bản gốc và L1 3 bản phô tô); Chứng từ kèm theo Phiếu thu, Phiếu chi. Bảng kê chi tiết chứng từ chi tiền mặt, Bảng kê chi tiết chứng từ thu tiền mặt; Sổ quỹ tiền mặt...
3. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hoàng T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
13
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải Minh |
14
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Ngọc Anh |
15
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tham ô tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội
