|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 93/2024/HS-ST
Ngày: 21/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Xuân Thu.
- - Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Lệ Thủy; Ông Lò Việt Hưng.
- - Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Bà Kiều Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 21/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2024/TLST-HS, ngày 16/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST-HS ngày 07/6/2024 đối với bị cáo:
Vàng Thị C - Sinh ngày 01/01/1984 tại huyện Th U, tỉnh L Ch.
Nơi cư trú: Bản S Ng, xã Ph Th, huyện Th U, tỉnh L Ch; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vàng A D – sinh năm 1935 và bà: Sùng Thị V – sinh năm 1950; Gia đình có 8 anh, chị, em bị cáo là con thứ tư; Chồng: Giàng A L – sinh năm 1984; Bị cáo có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 24/4/2015, Vàng Thị C bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên áp dụng khoản 1, Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 20; 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 51/2015/HSST). Vàng Thị C đã chấp hành xong bản án vào ngày 28/4/2019; đến thời điểm phạm tội này, bị cáo đã được xóa án tích;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 15/12/2023, tạm giam từ ngày 24/12/2023, hiện bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên. (Có mặt).
- Người làm chứng:
- Lò Văn S.
- Lò Văn Nh.
- Sùng A Đ.
- Hầu Thị P. (Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 15/12/2023, Vàng Thị C một mình đi bộ từ nhà tại bản S Ng, xã Ph Th, huyện Th U đến bản N Th, xã Ph Th, huyện Th U, tỉnh L Ch để tìm mua Heroine sử dụng và bán kiếm lời. Tại bản N Th, Vàng Thị C gặp và mua từ một người phụ nữ không rõ lai lịch 01 gói Heroine với giá 1.000.000 đồng. Mua được Heroine, Vàng Thị C mang về nhà tại bản S Ng, xã Ph Th, huyện Th U chia thành 11 gói nhỏ, trong đó 10 gói (được gói bằng mảnh nilon màu hồng) và 01 gói (được gói bằng mảnh nilon màu trắng). Sau đó, Vàng Thị C cho 10 gói Heroine (được gói bằng nilon màu hồng) vào trong 01 lọ nhựa màu trắng, cất giấu lọ nhựa này cùng 01 gói Heroine (được gói bằng nilon màu trắng) vào trong túi vải đeo trên người.
Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi Vàng Thị C đang ở nhà một mình thì có Sùng A Đ (sinh năm 1984) cùng vợ là Hầu Thị P (sinh năm 1985); đều trú tại thôn T N, xã N X, huyện V B, tỉnh L C đến nhà C. Sùng A Đ trực tiếp hỏi mua 50.000 đồng tiền Heroine từ Vàng Thị C và thỏa thuận là 1-2 ngày sau sẽ trả, C đồng ý bán. Sau đó, Vàng Thị C lấy gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu trắng) trong túi vải ra, cấu một ít tương ứng với số tiền 50.000 đồng rồi bán cho Đ. Mua được Heroine, Đ xin phép Vàng Thị C cho Đ và P sử dụng Heroine trong nhà C thì C đồng ý. Đ và P ngồi tại bàn uống nước trong nhà Vàng Thị C sử dụng Heroine bằng hình thức hít. Khi Đ và P đang sử dụng Heroine thì có Lò Văn Nh (sinh năm 1988; trú tại bản Ch, xã Ph Th, huyện Th U) và Lò Văn S (sinh năm 1982; trú tại bản C, xã T G, huyện Th U) đến nhà C. Nh trực tiếp hỏi C mua Heroine, C đồng ý bán. Lúc này, S đứng cạnh đưa cho C 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, Nh đưa cho C 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng. Nhận tổng số tiền 200.000 đồng C, S và Nh, Vàng Thị C lấy từ trong lọ nhựa ra 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu hồng) đưa cho Nh và bảo Nh cùng S tự chia nhau. Mua được Heroine, S và Nh đi về đến bản S Ng, xã Ph Th, huyện Th U lấy Heroine ra sử dụng, khi vừa sử dụng xong thì bị Tổ công tác Công an xã Ph Th phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày, thu giữ 01 mảnh giấy bạc đã than hóa và 01 bật lửa ga.
Giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Vàng Thị C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên thu giữ trong túi vải đeo trên người C Vàng Thị C 01 gói Heroine (được gói bằng nilon màu trắng); 01 lọ nhựa màu trắng bên trong có 09 gói Heroine (được gói bằng nilon màu hồng); số tiền 200.000 đồng; thu giữ tại bàn uống nước nhà Vàng Thị C 01 mảnh giấy bạc đã than hóa và 01 bật lửa ga do Sùng A Đ và Hầu Thị P mua Heroine của Sùng Thị C sử dụng trước đó để lại.
Bản kết luận giám định số 128 ngày 16/12/2023 C người giám định tư pháp theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 19 ngày 20/12/2023 C phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ C Vàng Thị C có tổng khối lượng 3,18 gam; là ma túy, loại: Heroine.
Bản kết luận giám định số 20 ngày 19/12/2023 C phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: số tiền 200.000 đồng thu giữ C Vàng Thị C gửi giám định là tiền thật.
Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu C Vàng Thị C, Sùng A Đ, Hầu Thị P, Lò Văn Nh, Lò Văn S đều có kết quả dương tính với nhóm Opiats.
Vật chứng C vụ án gồm: 3,18 gam Heroine thu giữ C Vàng Thị C, đã trích 0,3 gam gửi giám định (không hoàn lại mẫu vật); còn lại 2,88 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu trắng; 09 mảnh nilon màu hồng; 01 lọ nhựa màu trắng; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 túi vải nhiều màu sắc; số tiền 200.000 đồng; 02 bật lửa (đã qua sử dụng); 02 mảnh giấy bạc đã than hoá. Các vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản theo quy định.
Tại bản cáo trạng số: 49/CT –VKS, ngày 16/5/2024 C Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Vàng Thị C về hai tội:
Tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Than Uyên trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vàng Thị C phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Đề nghị HĐXX Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng Thị C từ 7 năm 09 tháng đến 8 năm 03 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt từ 7 năm đến 7 năm 06 tháng tù về tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội mà bị cáo phải chịu.
Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định C Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 2,88 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu trắng; 09 mảnh nilon màu hồng; 01 lọ nhựa màu trắng; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 túi vải nhiều màu sắc; 02 bật lửa (đã qua sử dụng); 02 mảnh giấy bạc đã than hoá.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đồng.
Về án phí: Căn cứ Điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 C Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Thị C.
Bị cáo Vàng Thị C không có ý kiến tranh luận gì đối với quan điểm C vị đại diện Kiểm sát.
Lời nói sau cùng C bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo được sớm trở về hòa nhập với gia đình, xã hội, tự sửa chữa sai lầm để làm người có ích và xin miễn toàn bộ án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng C Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định C Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định C Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng C Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội C bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Căn cứ vào lời khai C các bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 07 giờ ngày 15/12/2023, tại bản N Th, xã Ph Th, huyện Th U, tỉnh Lai Châu, Vàng Thị C đã mua trái phép 01 gói Heroine từ một người không rõ lai lịch với giá 1.000.000 đồng. Sau đó, Sùng Thị C mang Heroine về nhà chia thành nhiều gói nhỏ, mục đích: để sử dụng và bán. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày 15/12/2023, tại bản S Ng, xã Ph Th, huyện Th U, Vàng Thị C đã hai lần bán trái phép chất ma túy, lần thứ nhất bán 01 gói Heroine cho Sùng A Đ thỏa thuận với giá 50.000 đồng, lần thứ hai Vàng Thị C cùng một lúc bán trái phép 01 gói Heroine cho 02 người là Lò Văn Nh và Lò Văn S lấy số tiền 200.000 đồng. Sau khi bán Heroine, Vàng Thị C đã đồng ý chứa chấp cho 02 người là Sùng A Đ và Hầu Thị P sử dụng trái phép Heroine bằng hình thức hít tại nhà C Vàng Thị C thuộc bản S Ng, xã Ph Th, huyện Th U. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vàng Thị C, Cơ quan điều tra thu giữ trong túi vải đeo trên người Vàng Thị C 10 gói Heroine có tổng khối lượng 3,18 gam và số tiền 200.000 đồng.
Hành vi nêu trên C bị cáo Vàng Thị C đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b,c khoản 2 Điều 251 và tội: “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự. Như vậy nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ pháp luật, mức án đề nghị C Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Bị cáo chính là nạn nhân C ma túy, nên hiểu hơn ai hết: Heroine là chất ma túy gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nên Nhà nước nghiêm cấm và xử phạt nghiêm khắc. Ngày 15/12/2023 bị cáo cố ý thực hiện hành vi mua trái phép 01 gói Heroine với giá 1.000.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Hành vi phạm tội C bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý C Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự C bị cáo thấy rằng: Ngày 24/4/2015, Vàng Thị C bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên áp dụng khoản 1, Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 20; 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”. Tính đến thời điểm phạm tội này, bị cáo đã được xóa án tích, với lối sống coi thường pháp luật. Ngày 15/12/2023 bị cáo cố ý thực hiện hành vi nhiều lần bán chất ma túy cho nhiều người đồng thời cho sử dụng chất ma túy tại nơi ở C mình. Nên bị cáo phải chịu trách nhiệm và chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội được quy định tại khoản 2 Điều 251 và khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự, chịu hình phạt chung cho cả hai tội theo quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự. Song quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xét giảm phần nào khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, theo quy định C Bộ luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung. Nhưng theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai C bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy gia đình bị cáo đang khó khăn, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ nghề nghiệp gì, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong bên trong đựng 2,88 gam Heroine; 01 phong bì bên trong đựng 01 lọ nhựa màu trắng, 01 mảnh ni lon màu trắng, 09 mảnh ni lon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 02 mảnh giấy bạc đã than hóa; 02 bật lửa ga; 01 túi vải đa màu sắc. Xét thấy số vật chứng này là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 200.000đồng thu giữ C bị cáo. Xét thấy số tiền này do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có, nên cần tịch thu xung ngân sách Nhà nước.
Về nguồn gốc Heroine, bị cáo khai mua C một người không rõ lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy C: Lò Văn S, Lò Văn Nh, Sùng A Đ, Hầu Thị P, Công an huyện Than Uyên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vàng Thị C là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo xin miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm, nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
-Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
-Căn cứ khoản 2 Điều 106;135;136;331;333 Bộ luật tố tụng hình sự.
-Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 C Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Thị C phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” và tội: “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng Thị C 08 (tám) năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội mà bị cáo phải chịu 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 15/12/2023.
3. Về vật chứng:
- - Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong bên trong đựng 2,88 gam Heroine; 01 phong bì bên trong đựng 01 lọ nhựa màu trắng, 01 mảnh ni lon màu trắng, 09 mảnh ni lon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 02 mảnh giấy bạc đã than hóa; 02 bật lửa ga; 01 túi vải đa màu sắc.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng).
(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Than Uyên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên lập ngày 21/5/2024 ).
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Thị C.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Xuân Thu |
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (về tội mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 15 năm tù cho cả 2 tội
