Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 93/2024/HS-ST

Ngày 21 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư - Cán bộ nghỉ hưu

Bà Nguyễn Thị Biên - Giáo viên nghỉ hưu

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Minh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 80/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST- HS ngày 06/5/2024 đối với bị cáo:

Vũ Văn L, sinh ngày 14 tháng 10 năm 2007; Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Học sinh; Văn hoá: 11/12. Con ông: Vũ Văn K, sinh năm 1979. Con bà: Vũ Thị H, sinh năm 1986. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 25/01/2024 đến ngày 03/02/2024 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại - Có mặt.

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1986 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người bào chữa cho bị cáo là:

  • - Ông Ngô Bắc T - Luật sư, thuộc Văn Phòng L2 sự, Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt).
  • - Bà Nguyễn Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt).

* Bị hại:

  • - Anh Phạm Lê N, sinh ngày 27/01/2008 (vắng mặt).
  • HKTT: phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
  • Nơi ở: Phòng 103, tầng 2, số nhà C, đường X, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người đại diện hợp pháp cho anh Phạm Lê N:

  • Ông Phạm Văn H2, sinh năm 1977 (vắng mặt).
  • HKTT: Phường Phú Trung, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh
  • Nơi ở: Số nhà 16, ngõ Như Nguyệt, khu A, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
  • - Anh Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 02/08/2008 (vắng mặt).
  • HKTT: Thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương.
  • Nơi ở: Phòng 103, tầng 2, số nhà C, đường X, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn Quốc Đ:

  • Bà Nguyễn Thị Phương A, sinh năm 1984 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: Thôn N, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Phạm Xuân T1, sinh năm 1988(vắng mặt).
  • Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng:

  • - Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1983 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: Số nhà A, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • - Anh Giáp Hoàng G, sinh ngày 02/3/2006 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
  • - Anh Giáp Văn Đ1, sinh năm 1979 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. * Đoàn T2 xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Đại diện ông Ngô Đức M - Phó Bí thư đoàn xã D (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vũ Văn L, sinh ngày 14/10/2007 ở thôn C, xã D, huyện L và Phạm Lê N, sinh ngày 27/01/2008 ở phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 02/08/2008 ở thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương là bạn học cùng lớp 11 Trường P. Khoảng tháng 11/2023, ba người cùng ở trọ tại phòng 103, tầng 2, số nhà C, đường X, phường X, thành phố B.

Buổi sáng ngày 18/01/2024, L cùng bạn là Giáp Hoàng G, sinh năm 2006, trú tại xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang chơi game tại quán game của anh Phạm Xuân T1, sinh năm 1988 ở thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, L nảy sinh ý định đi đến phòng trọ để trộm cắp tài sản của N và Đ. L hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 98F7-9535 của G và nói dối là đi đón bạn thì G đồng ý. L điều khiển xe đi từ quán game về phòng trọ. Thời điểm này, N và Đ đang đi học ở trường. L đỗ xe trước cửa nhà rồi đi lên phòng 103 thì thấy không khoá cửa. L mở cửa đi vào trong phòng quan sát thấy có chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu MSI Gaming GF63 Thin11SC-664VN, số S: K2306N0097998 của Nguyên để ở trên chiếc ghế và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Acer Aspire A315-59, Ram 8GB của Đại để ở trên chiếc ghế ở trong phòng. L lấy chiếc ba lô màu đen của L để ở trên đỉnh nóc tủ quần áo rồi lần lượt cầm 2 chiếc máy tính xách tay cho vào trong balo. Sau đó, L đeo balo ra phía sau lưng và đi ra khỏi phòng, đóng cửa lại rồi đi xuống tầng 1 lấy xe máy đi đến quán game của anh Phạm Xuân T1. Tại đây, L hỏi G: “Anh biết chỗ nào cầm cố máy tính không” thì G trả lời: “Chủ quán có nhận cầm cố”. Do không quen biết anh T1 nên L đã nhờ G giới thiệu gặp anh T1 để cầm cố 02 chiếc máy tính nhưng anh T1 nói không nhận cầm cố mà chỉ mua. L đồng ý bán 02 chiếc máy tính còn G đi ra tiếp tục chơi game. L bỏ 02 chiếc máy tính trong balo ra và nói đây tài sản là của L. Anh T1 kiểm tra và trả giá 6.500.000 đồng thì L đồng ý bán. Anh T1 trả cho L 6.500.000 đồng tiền mặt. Sau khi nhận tiền, L đi ra trả xe mô tô cho G và ngồi chơi game đến 19 giờ cùng ngày thì không chơi nữa. Số tiền 6.500.000 đồng do bán 02 máy tính, L khai đã chi tiêu hết.

Buổi chiều cùng ngày, Phạm Lê N và Nguyễn Quốc Đ đi học về phòng trọ phát hiện mất 02 chiếc máy tính xách tay nên nhờ chị Nguyễn Thị V là chủ nhà trọ kiểm tra camera thì nghi ngờ Vũ Văn L trộm cắp 02 chiếc máy tính nên sau đó có đơn trình báo. Ngày 25/01/2024, Cơ quan điều tra triệu tập L để làm việc thì L đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Ngày 25/01/2024, chị Vũ Thị H là mẹ của Vũ Văn L sau khi biết sự việc đã đến gặp anh Phạm Xuân T1 và mua lại 02 chiếc máy tính xách tay mà L đã bán cho anh T1 kèm theo 01 balo màu đen sau đó giao nộp lại cho Cơ quan điều tra.

Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐ ngày 01/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

  • - 01 máy tính xách tay nhãn hiệu MSI Gaming GF63 Thin11SC-6644VN i5-11400G/8GB/512GB/15.6"FHD/GTX1650-4GB/Win11-đen, số S: K2306N0097998, mua mới từ ngày 09/11/2023, đã qua sử dụng có trị giá tại thời điểm ngày 18/01/2024 là 11.000.000 đồng.
  • - 01 máy tính xách tay nhãn hiệu A1, Ram 8GB, bộ xử lý: 12th Gen Intel C, mua mới từ tháng 06/2023, đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm ngày 18/01/2024 là 5.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 16.000.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 file video được lưu trong 01 đĩa DVD-R; 10 ảnh trích xuất từ file video trên do chị Nguyễn Thị V giao nộp trích xuất từ camera của nhà trọ ghi lại hình ảnh liên quan đến sự việc.

Kết luận giám định số 568/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh B ngày 18/3/2024 kết luận: Không xác định được nội dung hình ảnh trong 02 file video có tên “5172564008390.mp4”; “5172564016844.mp4” lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không; không trích xuất hình ảnh do nội dung hình ảnh được ghi lại qua tính năng ghi màn hình của thiết bị đang trình chiếu.

Cơ quan điều tra đã cho Vũ Văn L và những người bị hại quan sát vật chứng thu giữ. Kết quả L và những người bị hại đều xác định 02 chiếc máy tính mà Cơ quan điều tra đã thu giữ là 02 chiếc máy tính là L trộm cắp của N và Đ vào ngày 18/01/2024 tại phòng trọ.

Ngày 01/4/2024, Cơ quan điều tra đã cho Vũ Văn L thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả, L thực hiện thuần thục hành vi trộm cắp 02 chiếc máy tính như đã khai.

Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Văn L1 xem đoạn video được trích xuất từ camera tại nhà trọ. Kết quả, L1 xác định hình ảnh L1 khi đi vào và đi ra nhà trọ thực hiện hành vi trộm cắp ngày 18/01/2024.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại N và Đ các máy tính xách tay đã thu giữ. Những người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu Nguyễn Văn L1 bồi thường. Những tài sản khác đã thu giữ được nhập kho vật chứng để xử lý.

Đối với anh Phạm Xuân T1 có hành vi mua 02 máy tính xách tay do Vũ Văn L đem đến bán nhưng không biết là tài sản do L trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Bản cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Vũ Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 91 của Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Vũ Văn L từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho UBND xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Tịch thu 01 ba lô màu đen để tiêu hủy.
  • - Án phí căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Bị cáo Vũ Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Người bào chữa cho bị cáo, tại phiên tòa nhất trí với quan điểm về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, bị cáo là người dưới 18 tuổi trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế, nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, như thành khẩn khai báo, khắc phục hậu quả cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ông Ngô Bắc T - Luật sư, thuộc Văn Phòng L3, Đoàn Luật sư tỉnh B và bà Nguyễn Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B đều đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo 06 tháng tù cho hưởng án treo là đủ để răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

* Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã T2, huyện L, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa là ông Ngô Đức M - Phó Bí thư đoàn xã D và người đại diện hợp pháp của bị cáo nhất trí với đề nghị mức hình phạt của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa.

Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát viên nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại, đại diện hợp pháp của bị cáo và bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho những người tham gia tố tụng, tại phiên tòa những người này vắng mặt, Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện hợp pháp, người bào chữa của bị cáo đều đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án, xét thấy đã có lời khai của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong hồ sơ và sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử, HĐXX căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án theo quy định.

[3]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và vật chứng thu giữ được có đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/01/2024, Vũ Văn L đi đến phòng trọ của bạn cùng học tại trường Cao đẳng P là Phạm Lê N và Nguyễn Quốc Đ ở phòng số 103, số nhà C, đường X, phường X, thành phố B mục đích để trộm cắp tài sản. Lợi dụng lúc N và Đ đang đi học ở trường, L đã trộm cắp của N 01 chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu MSI Gaming GF63 trị giá 11.000.000 đồng và trộm cắp của Đ 01 chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu Acer trị giá 5.000.000 đồng sau đó đem đi bán được 6.500.000 đồng, đã chi tiêu hết. Tổng giá trị tài sản mà L chiếm đoạt là 16.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng và trả lại cho người bị hại.

Như vậy có đủ căn cứ kết luận Vũ Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định trật tự về an ninh tại địa phương và dư luận quần chúng nhân dân lên án, vì thế hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật để có tác dụng giáo dục cải tạo riêng bị cáo, vừa có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.

[5].Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6].Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú trước cơ quan điều tra và đã khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7]. Bị cáo Vũ Văn L có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt và là người dưới 18 tuổi, nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, nhằm đề cao chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội và tạo điều kiện cho bị cáo tự sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội. Do vậy không cần thiết phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự. Như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[8]. Về phần trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho bị hại là anh Phạm Lê N và Nguyễn Phúc Đ2 các máy tính xách tay, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu Nguyễn Văn L1 bồi thường dân sự. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về phần trách nhiệm dân sự trong vụ án.

[9]. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Xuân T1 có hành vi mua 02 máy tính xách tay do Vũ Văn L đem đến bán nhưng không biết đây là tài sản do L trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

[10]. Về vật chứng là 01 chiếc túi ba lô màu đen đã qua sử dụng không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

[11]. Về hình phạt bổ sung bằng tiền bị cáo là người dưới 18 tuổi, không có nghề nghiệp, thu nhập, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[12]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sự theo quy định của pháp luật.

[13]. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 65, Điều 91 của Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn L 07 (Bẩy) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho UBND xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định hoặc buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.
  • - Về xử lý vật chứng: Tịch thu 01 ba lô màu đen để tiêu hủy.
  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp Bắc Giang;
  • - UBND xã Dương Đức, Lạng Giang;
  • - Bị cáo; bị hại, người liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 93/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger