|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 93/2024/HSST Ngày 28-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Rẽn
2. Ông Nguyễn Văn Hải
Thư ký phiên tòa: Ông Vương Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hồ Sơn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Minh L (Lắc); sinh ngày 23 tháng 8 năm 1993, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Đào Thị T; vợ: chưa có; nhân thân: ngày 12-7-2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phí ngày 01-10-2019; chấp hành xong hình phạt tù ngày 06-3-2020; ngày 31-01-2021 bị Công an xã A, huyện B xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nộp phạt ngày 03-02-2021; tiền sự, tiền án: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29-5-2024; có mặt.
2. Nguyễn Văn T1; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979, tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Trần Thị L1 (chết); vợ: Nguyễn Thị Kiều N (chết); tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 11-6-2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 16 giờ ngày 26 tháng 5 năm 2024, Nguyễn Minh L đến khu vực rạch “Ba Vít” thuộc ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh gặp người đàn ông tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 200.000 đồng chất ma túy đá rồi mang về nhà cất giấu; đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 29 tháng 5 năm 2024 L mang ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy đến nhà Nguyễn Văn T1 rủ T1 cùng sử dụng chất ma túy, thì T1 đồng ý. Lúc này, T1 kêu L đến chòi chứa rơm của T1 để sử dụng chất ma túy, thì L đồng ý. Luân đổ hết ma túy vào bộ D sử dụng ma túy, dùng bật lửa đun nóng chất ma túy lên, L hút 02 hơi rồi đưa cho T1 hút 02 hơi rồi cả hai nằm ngủ; đến 10 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan.
Ngoài lần bị bắt quả tang, trước đó L đã chuẩn bị chất ma túy và bộ D sử dụng ma túy mang đến chòi chứa rơm của T1 tổ chức sử dụng khoảng 05 đến 06 lần; lần gần nhất ngày 22-5-2024, L mua 200.000 đồng chất ma túy đá của người đàn ông tên T2 rồi mang đến chòi chứa rơm của T1, L và T1 sử dụng ma túy nhưng chưa bị phát hiện.
Trong ngày 29/5/2024, xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Minh L và Nguyễn Văn T1, kết quả: L và T1 dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số: 1094 ngày 06/6/2024, của Phòng K1 Công an T3, kết luận: mẫu chất tinh thể rắn (kí hiệu M) bên trong một ống thủy tinh trong suốt có một đầu là ụ tròn gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,0705 gam. Đối tượng M đã sử dụng hết trong công tác giám định.
Tại Bản cáo trạng số: 90/CT-VKS-BC ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu truy tố các bị cáo Nguyễn Minh L (L2), Nguyễn Văn T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh L (Lắc), Nguyễn Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L từ 08 đến 09 năm tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 07 đến 08 năm tù.
Biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; vật chứng thu giữ tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo L, T1 không tranh luận và nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 29 tháng 5 năm 2024 L mang ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy đến rủ T1 cùng sử dụng chất ma túy, thì T1 đồng ý. T1 kêu L đến chòi chứa rơm của T1 để sử dụng chất ma túy. Luân đổ hết ma túy vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy xong rồi đưa cho T1 sử dụng rồi cả hai nằm ngủ; đến 10 giờ 20 phút cùng ngày thì bị bắt quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan.
Ngoài lần bị bắt quả tang, trước đó L đã chuẩn bị ma túy và bộ D sử dụng ma túy mang đến chòi chứa rơm của T1 và cùng T1 sử dụng khoảng 05 đến 06 lần; lần gần nhất ngày 22-5-2024, L mua 200.000 đồng ma túy rồi mang đến chòi chứa rơm của T1, L và T1 sử dụng ma túy.
Như vậy, ma túy do L mua mang đến, còn địa điểm sử dụng do T1 chuẩn bị. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; các bị cáo biết việc tổ chức, sử dụng ma túy nhà nước cấm, nhưng rủ rê cùng nhau sử dụng nhiều lần; bị cáo L có nhân thân xấu; các bị cáo xem thường pháp luật; gây mất trật tự trị an tại địa phương; cần xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét:
[4.1] Tình tiết tăng nặng: không có.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khai ra những lần phạm tội trước đó; đây là những tỉnh tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Vật chứng: 01 gói được niêm phong số 1094/KL-KTHS, bên ngoài có dấu mộc đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T3, có chữ lý của giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Tạ Minh P, điều tra viên Lê Nguyễn Anh K; người chứng kiến Khưu T; Nguyễn Minh L; Nguyễn Văn T1. Bên trong có 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt có 01 đầu là ụ tròn. 01 chai nhựa; 01 ống hút; 01 quẹt ga. Đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng; nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh L (Lắc), Nguyễn Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L (Lắc) 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29-5-2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11-6-2024.
- Các biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói được niêm phong số 1094/KL-KTHS, bên ngoài có dấu mộc đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T3, có chữ lý của giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Tạ Minh P, điều tra viên Lê Nguyễn Anh K; người chứng kiến Khưu T; Nguyễn Minh L; Nguyễn Văn T1. Bên trong có 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt có 01 đầu là ụ tròn. 01 chai nhựa; 01 ống hút; 01 quẹt ga.
- Về án phí: các bị cáo Nguyễn Minh L, Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Tây Ninh;
- - VKSND tỉnh Tây Ninh;
- - CQĐT Công an huyện Bến Cầu;
- - VKSND huyện Bến Cầu;
- - Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Cầu;
- - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
- - THADS tỉnh Tây Ninh;
- - Công an cấp xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú;
- - Bị cáo;
- - Những người tham gia tố tụng khác;
- - Lưu tập án;
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tùng |
Bản án số 93/2024/HSST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về hình sự - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 93/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYEN MINH LUAN- dp- THANH - TO CHUC SD MA TUY
